|
HẢI
DƯƠNG VĂN HIẾN
TÂY NGUYÊN TRONG LÒNG VIỆT NAM
HẢI
DƯƠNG VĂN HIẾN
Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, cái nôi của nền
văn minh Đại việt, là “trấn thứ nhất trong tứ trấn”, phên dậu phía Đông
của kinh thành Thăng Long xưa. Đây là vùng đất văn hiến, có bề dày
truyền thống lịch sử và cách mạng, rất giầu tiềm năng, đang từng ngày
phát triển.

Ảnh : Đền thờ Nguyễn Trãi
Hải Dương có đường thủy rất thuận tiện từ cửa biển Bạch Đằng vào Thăng
Long đi qua, có nhiều vị trí hiểm yếu, nên là địa bàn chiến lược quan
trọng trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc trước kia. Từ
bao đời nay, Hải Dương nổi tiếng là đất linh đã sinh thành, nuôi dưỡng
bao bậc hiền tài, đất dựng nghiệp lớn của những vị anh hùng kiệt xuất,
những danh nhân tiêu biểu cho truyền thống tư tưởng-văn hóa Việt Nam:
Trần Hưng Đạo, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi…
Hàng ngàn di tích. địa danh lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh và hàng
ngàn tấm bia đá gắn liền với những sự tích, những nhân vật lịch sử hoặc
huyền thoại, cùng một kho tàng phong phú về văn học dân gian, nghề cổ
truyền…là những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể vô cùng quý giá còn
lưu gữi, đang được bảo tồn và phát huy tác dụng to lớn trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hải Dương thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa; địa hình đa dạng, tài
nguyên thiên nhiên phong phú. Kế tiếp với núi rừng trùng điệp của hai
huyện Chí Linh và Kinh Môn là đồng bằng bát ngát, phì nhiêu, đất đai mầu
mỡ, sông ngòi chằng chịt; hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ,
đường sắt rất thuận tiện. Hải Dương lại nằm giữa Hà Nội - Hải Phòng -
Quảng Ninh, ngày nay được xác định là khu vực kinh tế trọng điểm phía
Bắc.
Người Hải Dương không chỉ tiêu biểu cho truyền thống cần cù lao động,
thông minh sáng tạo và kiên cường bất khuất trong quá trình dựng nước và
giữ nước trong đấu tranh cách mạng, mà còn nổi tiếng về truyền thống
hiếu học, nhiều người học giỏi đỗ đạt cao, lập nên công đức lớn.

Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hải Dương đã tích
cực khai thác tiềm năng, thế mạnh, tranh thủ giúp đỡ của Chính phủ và
các bộ, ngành Trung ương. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới đã thu được những
thành tựu đáng kể. Diện mạo Hải Dương có những thay đổi lớn lao. Hải
Dương đã tạo được thế và lực mới. An ninh được giữ vững. Xã hội được ổn
định, sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục thể dục thể
thao đều đạt những thành tựu to lớn. Hải Dương trở thành tỉnh có nền
kinh tế và đời sống văn hóa xã hội phát triển năng động. Một Hải Dương
phát triển rực rỡ đang hiện hữu từng ngày từng giờ…
Hải Dương là vùng đất còn lưu gĩư rất nhiều di sản văn hóa
quý. Toàn tỉnh hiện còn 1.117 di tích lịch sử-văn hóa, trong đó có 113
di tích đã được xếp hạng di tích hạng quốc gia. Có hai di tích đặc biệt
quan trọng là Côn Sơn và Kiếp Bạc, có gần 30 lễ hội truyền thống dân
gian; hơn 30 làng nghề còn phát huy tác dụng. Nơi đã từng nổi tiếng với
“chiếng chèo đông”, có 3 phường múa rối nước; ngoài đoàn chèo chuyên
nghiệp còn có 191 đội chèo, nhiều câu lạc bộ hát trống quân, hát đối,
câu lạc bộ thơ ca…
CÔN SƠN
Côn
sơn nằm trọn địa phận xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh ngày nay. Di tích bao
gồm khu vực núi Kỳ Lân, núi Ngũ Nhạc, Hồ Côn Sơn và bãi rễ tự nhiên với
cảnh trí “sơn thủy hữu tình”, tươi sáng mà u tịch, như thực lại như mơ.
Nơi đây
còn có chùa Côn Sơn cổ kính có từ thời Lý, Trần; có đền thờ Nguyễn Trãi
mới dựng như một tòa ngọc giữa thảm rừng xanh bạt ngàn thông reo vi vút.
Từ ngàn năm đến nay Côn Sơn đã đón bao bậc tiên hiền, bao tao nhân mặc
khách, từ các đấng quân vương, từ các cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước
đến lớp lớp người dân thị thành, thôn dã đều về đây vãng cảnh, dâng
hương tưởng niệm đức Phật và các vị Tổ sáng lập thiền phái Trúc lâm Tam
tổ, không chỉ để chiêm bái hành hương du lịch mà còn đến những mong tìm
lại dấu ấn người xưa - Anh hùng dân tộc- Danh nhân văn hóa: Nguyễn Trãi.
Đến với Côn Sơn không chỉ tìm về cõi tâm linh để suy ngẫm "nhân tình thế
thái", hướng thiện mà còn để thưởng ngoạn phong cảnh kỳ thú do thiên tạo
và nhân tạo.
KIẾP BẠC
Kiếp bạc là ngôi đền thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo được xây dựng từ
khi đức Thánh Trần còn sống được gọi là sinh từ, cổ kính trang nghiêm,
cửa đền nhìn ra sông Lục Đầu (điểm hội tụ của 6 dòng sông hợp lại), lưng
đền tự vào dãy núi Rồng, bên phải là núi Nam Tào, bên trái là núi Bắc
Đẩu. Một địa thế phong thủy linh thiêng, một vị trí chiến lược trọng yếu,
phong cảnh hùng vĩ mà nên thơ. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã chọn
nơi đây làm đại bản doanh, rồi xây dựng phủ đệ sống và mất tại đây.
Nhiều nơi trong cả nước đã lập đền thờ Người, nhưng không có nơi nào
hoành tráng và linh thiêng như ở nơi đây. Dân gian từ bao đời đã truyền
tụng câu ca: “Tháng 8 giỗ cha”. Cứ vào dịp lễ hội kiếp Bạc 15 tháng tám
âm lịch hàng năm có hàng vạn du khách từ khắp mọi miềm tổ quốc về thành
kính thắp hương tưởng niệm người anh hùng dân tộc đã từng ba lần đại
thắng giặc Nguyên Mông ở thế kỷ 13.
Hồng Chức
|
|
TÂY NGUYÊN TRONG LÒNG VIỆT NAM
Tây Nguyên là một vùng đất cao nguyên của đất nước. Thời
xa xưa, đồng bào các dân tộc Tây nguyên sống quần tụ theo từng tộc người
do các Pơ-tao, các tù trưởng đứng đầu. Đó không phải là những quốc gia
riêng biệt. Giữa thế kỷ XV, dưới Triều Lê và sau đó là Triều Tây Sơn,
Tây Nguyên được gọi là Trấn Nam. Thời Pháp và Mỹ xâm chiếm, Tây Nguyên
có nhiều tên gọi khác nhau như: Tây kỳ tự trị, Cao nguyên miền Thượng,
Cao Nguyên trung phần... Dù cách gọi có khác nhau nhưng bao giờ Tây
Nguyên cũng là vùng đất của thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Tên gọi
Tây Nguyên bắt đầu xuất hiện ở miền Bắc sau cách mạng tháng Tám thành
công 1945. Rất có thể đây là tên gọi tắt của tổ chức vận động cách mạng
Trung bộ với tên đầy đủ là: "Ban vận động đồng bào thiểu số cao nguyên
miền Tây Trung bộ". Từ đó, Tây Nguyên trở thành cái tên để chỉ một vùng
đất chung đó là vùng cao nguyên phía tây của Việt Nam. Bản thân cái tên
ấy đã bao hàm ý nghĩa không thể tách rời, chia rẽ.
Cách mạng
tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, ngày
19 tháng 6 năm 1946 Bác Hồ đã gửi thư chúc mừng cuộc hội tụ lớn của đồng
bào các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu (Gia Lai). Trong thư Bác
khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay ÊĐê, Xê
Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam,
đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống, chết có nhau, sướng khổ có nhau,
no đói giúp nhau. Trước kia chúng ta xa cách nhau một là vì thiếu giây
liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay nước
Việt Nam là nước chung của chúng ta... Sông có thể cạn, nuí có thể mòn,
nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt ".
Tây
Nguyên hiện gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lắc, Đăk Nông, Lâm Đồng
với diện tích tự nhiên khoảng 58.000 km2, dân số gần 5 triệu người. Từ
trung tâm các tỉnh đều có đường giao thông thuận tiện đi Thành phố Hồ
Chí Minh và các thành phố ven biển Nam Trung bộ như: Quy Nhơn, Nha Trang,
Phan Rang, Phan Thiết nên mở ra các hướng giao lưu rộng lớn với mọi miền
Tổ quốc.
Ngày nay,
với vị trí chiến lược quan trọng của mình Tây Nguyên đã trở thành vùng
kinh tế động lực của cả nước. Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã cùng
nhau đoàn kết đi theo Đảng, Bác Hồ để xây dựng và bảo vệ quê hương, đồng
thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc. Tây Nguyên
ngày nay đang thay da đổi thịt từng ngày, tất cả các xã đã có đường ô tô,
điện thoại, điện sinh hoạt, hộ nhèo ngày giảm, hộ giầu tăng lên...
Sáu
mươi năm sau, Đại hội Đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên tiếp tục được
tổ chức tại thành phố PLâycu trong các ngày 28,29 tháng 3 năm 2006, có
500 đại biểu tham dự. Đại hội Đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên năm
2006 do Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với 5 tỉnh Tây Nguyên
tổ chức. Đại hội là dịp sum họp của những người con tiêu biểu ở Tây
Nguyên cùng sự có mặt của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Cũng
trong dịp này, Bộ Văn hoá - Thông tin phối hợp với 5 tỉnh Tây Nguyên tổ
chức Lễ đón nhận danh hiệu "Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là
kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại"
Hồng Chức |