|

Hiến pháp nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà năm 1946
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1959
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1980
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1992
I Xem
tiếp I
HIẾN
PHÁP NƯỚC
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
(Quốc hội nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà thông qua ngày 9-11-1946)
Lời nói đầu
Cuộc Cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự
do cho nhân dân và lập ra nền Dân chủ Cộng hoà.
Sau
tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt
Nam
đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ
chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới.
Nhiệm
vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc
lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.
Được
quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải
ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng và phải xây dựng trên
những nguyên tắc dưới đây:
-
Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn
giáo.
-
Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
-
Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Với
tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân
chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường
vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý
nguyện hoà bình của nhân loại.
CHƯƠNG I
Chính thể
Điều thứ 1
Nước
Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hoà.
Tất
cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân
biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
Điều
thứ 2
Đất
nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia.
Điều
thứ 3
Cờ
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh.
Quốc
ca là bài Tiến quân ca.
Thủ
đô đặt ở Hà Nội.
CHƯƠNG II
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CÔNG DÂN
Mục a : Nghĩa vụ
Điều thứ 4
Mỗi công dân Việt
Nam
phải:
- Bảo vệ Tổ quốc
- Tôn trọng Hiến pháp
- Tuân theo pháp luật.
Điều thứ 5
Công dân Việt
Nam
có nghĩa vụ phải đi lính.
Mục b : Quyền lợi
Điều thứ 6
Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị,
kinh tế, văn hoá.
Điều thứ 7
Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham
gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của
mình.
Điều thứ 8
Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về
mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung.
Điều thứ 9
Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.
Điều thứ 10
Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và hội họp
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
Điều thứ 11
Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân
Việt Nam.
Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách
trái pháp luật.
Điều thứ 12
Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.
Điều thứ 13
Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm.
Điều thứ 14
Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được
giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.
Điều thứ 15
Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. ở các trường sơ học địa phương,
quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình.
Học trò nghèo được Chính phủ giúp.
Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.
Điều thứ 16
Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh
thì được trú ngụ trên đất Việt Nam.
Mục c :Bầu cử, bãi miễn và phúc quyết
Điều thứ 17
Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và
kín.
Điều thứ 18
Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai,
đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công
quyền.
Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và
phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.
Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử.
Điều thứ 19
Cách thức tuyển cử sẽ do luật định.
Điều thứ 20
Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo điều thứ 41
và 61.
Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận
mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70.
CHƯƠNG III
Nghị
viện nhân dân
Điều
thứ 22
Nghị
viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
Điều
thứ 23
Nghị
viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp
luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp
ước mà Chính phủ ký với
nước ngoài.
Điều
thứ 24
Nghị
viện nhân dân do công dân Việt
Nam
bầu ra. Ba năm bầu một lần.
Cứ
5 vạn dân thì có một nghị viên.
Số
nghị viên của những đô thị lớn và những địa phương có quốc dân thiểu số
sẽ do luật định.
Điều
thứ 25
Nghị
viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho
toàn thể nhân dân.
Điều
thứ 26
Nghị
viện nhân dân tự thẩm tra xem các nghị viên có được bầu hợp lệ hay không.
Điều
thứ 27
Nghị
viện nhân dân bầu một Nghị trưởng, hai Phó nghị trưởng, 12 uỷ viên chính
thức, 3 uỷ viên dự khuyết để lập thành Ban thường vụ.
Nghị
trưởng và Phó nghị trưởng kiêm chức Trưởng và Phó trưởng Ban thường vụ.
Điều
thứ 28
Nghị
viện nhân dân mỗi năm họp hai lần do Ban thường vụ triệu tập vào tháng 5
và tháng 11 dương lịch.
Ban
thường vụ có thể triệu tập hội nghị bất thường nếu xét cần.
Ban
thường vụ phải triệu tập Nghị viện nếu một phần ba tổng số nghị viên
hoặc Chính phủ yêu cầu.
Điều
thứ 29
Phải
có quá nửa tổng số nghị viên tới họp, hội nghị mới được biểu quyết.
Nghị
viện quyết nghị theo quá nửa số nghị viên có mặt.
Nhưng
muốn tuyên chiến thì phải có hai phần ba số nghị viên có mặt bỏ phiếu
thuận.
Điều
thứ 30
Nghị
viện họp công khai, công chúng được vào nghe.
Các
báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị
viện.
Trong
những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết nghị họp kín.
Điều
thứ 31
Những
luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố
chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong hạn ấy, Chủ
tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo
luận lại, nếu vẫn được Nghị viện
ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải
ban bố.
Điều
thứ 32
Những
việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu
hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.
Cách
thức phúc quyết sẽ do luật định.
Điều
thứ 33
Khi
nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán.
Ban thường vụ thay mặt Nghị viện tuyên bố sự tự giải tán ấy.
Điều
thứ 34
Khi
Nghị viện nhân dân đã hết hạn hoặc chưa hết hạn mà tự giải tán thì Ban
thường vụ giữ chức quyền cho đến khi bầu lại Nghị viện nhân dân mới.
Điều
thứ 35
Hai
tháng trước khi Nghị viện nhân dân hết hạn, Ban thường vụ tuyên bố cuộc
bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới phải làm xong trong hai tháng trước ngày
Nghị viện hết hạn.
Khi
Nghị viện nhân dân tự giải tán, Ban thường vụ tuyên bố ngay cuộc bầu cử
lại. Cuộc bầu cử mới làm xong trong hai tháng sau ngày Nghị viện tự giải
tán.
Chậm
nhất là một tháng sau cuộc bầu cử, Ban thường vụ phải họp Nghị viện nhân
dân mới.
Trong
khi có chiến tranh mà nghị viện hết hạn thì Nghị viện hoặc Ban thường vụ
có quyền gia hạn thêm một thời gian không nhất định. Nhưng chậm nhất là
sáu tháng sau khi chiến tranh kết liễu thì phải bầu lại Nghị viện.
Điều
thứ 36
Khi
Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền:
a)
Biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ. Những sắc luật đó phải
đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất
để
Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ.
b)
Triệu tập Nghị viện nhân dân.
c)
Kiểm soát và phê bình Chính phủ.
Điều
thứ 37
Phải
có quá nửa tổng số nhân viên bỏ phiếu thuận, những nghị quyết của Ban
thường vụ mới có giá trị.
Điều
thứ 38
Khi
Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyền
quyết định tuyên chiến hay đình chiến.
Điều
thứ 39
Đầu
mỗi khoá họp, sau khi Ban thường vụ báo cáo công việc, vấn đề bỏ phiếu
tín nhiệm Ban thường vụ có thể nêu ra, nếu có một phần
tư tổng số nghị
viên yêu cầu. Toàn Ban thường vụ phải từ chức nếu không được tín nhiệm.
Nhân viên Ban thường vụ cũ có thể được bầu lại.
Điều
thứ 40
Nếu
chưa được Nghị viện nhân dân đồng ý hay trong lúc Nghị viện không họp mà
chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét
xử những nghị viên.
Nghị
viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện.
Trong
trường hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt giam nghị viên ngay
nhưng chậm nhất là 24 giờ phải thông tri cho Ban thường vụ. Ban thường
vụ hoặc Nghị viện sẽ định đoạt.
Khi
một nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả
tư cách nghị viên.
Điều
thứ 41
Nghị
viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của
một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành
phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên
ưng thuận
đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức.
Điều
thứ 42
Phụ
cấp của các nghị viên sẽ do luật định.
CHƯƠNG IV
CHÍNH PHỦ
Điều thứ 43
Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà.
Điều thứ 44
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, Phó chủ tịch
và Nội các.
Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.
Điều thứ 45
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và
phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận.
Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa
số tương đối.
Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu
lại.
Trong vòng một tháng trước khi hết nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ
phải triệu tập Nghị viện để bầu Chủ tịch mới.
Điều thứ 46
Phó chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong nhân dân và bầu
theo lệ thường.
Nhiệm kỳ của Phó chủ tịch theo nhiệm kỳ của Nghị viện.
Phó chủ tịch giúp đỡ Chủ tịch.
Khi Chủ tịch từ trần hay từ chức thì Phó chủ tịch tạm quyền Chủ tịch.
Chậm nhất là hai tháng phải bầu Chủ tịch mới.
Điều thứ 47
Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị
viện biểu quyết. Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tướng chọn các Bộ
trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách.
Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thủ tướng đề cử ra Hội đồng
Chính phủ duyệt y.
Nhân viên Ban thường vụ Nghị viện không được tham dự vào Chính phủ.
Điều thứ 48
Nếu khuyết Bộ trưởng nào thì Thủ tướng thoả thuận với Ban thường vụ để
chỉ định ngay người tạm thay cho đến khi Nghị viện họp và chuẩn y.
Điều thứ 49
Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà:
a) Thay mặt cho nước.
b) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức
các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân.
c) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao
cấp thuộc các cơ quan Chính phủ.
d) Chủ toạ Hội đồng Chính phủ.
đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị.
e) Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự.
g) Đặc xá.
h) Ký hiệp ước với các nước.
i) Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại
giao của các nước.
k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như điều 38 đã định.
Điều thứ 50
Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm
tội phản quốc.
Điều thứ 51
Mỗi khi truy tố Chủ tịch, Phó chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội
phản quốc, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc biệt để xét xử.
Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án một nhân viên Nội các về thường tội
phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ.
Điều thứ 52
Quyền hạn của Chính phủ:
a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện.
b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện.
c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị
viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt.
d) Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần.
đ) Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính
hoặc chuyên môn.
e) Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất
nước.
g) Lập dự án ngân sách hàng năm.
Điều thứ 53
Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chứ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và
tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký.
Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
Điều thứ 54
Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức.
Toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một Bộ
trưởng.
Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các.
Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm khi Thủ tướng,
Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu vấn đề ấy ra.
Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các
thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện
thảo luận lại. Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần
thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải
từ chức.
Điều thứ 55
Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất
vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ. Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10
ngày sau khi nhận được thư chất vấn.
Điều thứ 56
Khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền cho đến
khi họp Nghị viện mới.
CHƯƠNG V
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH
Điều thứ 57
Nước Việt
Nam
về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia
thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã.
Điều thứ 58
ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng Nhân
dân do đầu phiếu phổ
thông và trực tiếp bầu ra.
Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã hay xã cử ra
Uỷ ban Hành chính.
ở bộ và huyện, chỉ có Uỷ ban Hành chính. Uỷ ban
Hành chính bộ do Hội
đồng các tỉnh và thành phố bầu ra. Uỷ ban
Hành chính huyện do Hội đồng
các xã bầu ra.
Điều thứ 59
Hội đồng Nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình.
Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên.
Uỷ ban Hành chính có trách nhiệm:
a) Thi hành các mệnh lệnh của cấp trên.
b) Thi hành các nghị quyết của Hội đồng Nhân dân địa phương mình sau khi
được cấp trên chuẩn y.
c) Chỉ huy công việc hành chính trong địa phương.
Điều thứ 60
Uỷ ban Hành chính chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với
Hội đồng Nhân dân địa phương mình.
Điều thứ 61
Nhân viên Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính có thể bị bãi miễn.
Cách thức bãi miễn sẽ do luật định.
Điều thứ 62
Một đạo luật sẽ định rõ những chi tiết tổ chức các
Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính.
CHƯƠNG VI
CƠ QUAN TƯ PHÁP
Điều thứ 63
Cơ quan tư pháp của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có:
a) Toà án tối cao.
b) Các toà án phúc thẩm.
c) Các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp.
Điều thứ 64
Các viên thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm.
Điều thứ 65
Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý
kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết
định với thẩm phán nếu là việc đại hình.
Điều thứ 66
Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Toà án.
Điều thứ 67
Các phiên toà án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt.
Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư.
Điều thứ 68
Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân.
Điều thứ 69
Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ
quan khác không được can thiệp.
Chương VII
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Điều thứ 70
Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.
b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.
c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện
ưng chuẩn thì phải đưa ra
toàn dân phúc quyết.

HIẾN PHÁP NƯỚC VIỆT
NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ NĂM 1959
(Đã được Quốc hội nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà
thông qua ngày 31-12-1959)
Lời nói đầu
Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất từ Lạng
Sơn đến Cà Mau.
Dân tộc Việt Nam trải qua mấy nghìn năm lịch sử
là một dân tộc lao động cần cù luôn luôn anh dũng đấu tranh xây dựng
đất nước và giữ gìn độc lập của Tổ quốc.
Trong hơn 80 năm nước ta bị thực dân Pháp đô hộ
và 5 năm bị phát xít Nhật chiếm đóng, nhân dân Việt Nam đã không
ngừng đoàn kết đấu tranh chống ách thống trị của bọn
xâm lược nước ngoài để giải phóng đất nước.
Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng
Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới. Cuộc đấu
tranh bền bỉ đầy gian khổ và hy sinh dũng cảm của nhân dân ta chống
ách thống trị của đế quốc và phong kiên đá giành
được thắng lợi vĩ đại: Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, ngày 2 tháng 9 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập
trước quốc dân và toàn thế giới. Lần đầu tiên trong
lịch sử, nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nước Việt Nam độc lập
và dân chủ.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, toàn dân Việt Nam từ Bắc
chí Nam đã nhiệt liệt tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra
Quốc hội. Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên
ghi rõ những thắng lợi to lớn của nhân dân ta, nêu cao ý chí của
toàn thể dân tộc kiên quyết giữ gìn nền độc lập và
thống nhất của Tổ quốc, bảo vệ tự do và quyền lợi dân chủ của nhân
dân.
Nhưng đế quốc Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức lại
gây chiến tranh xâm lược hòng cướp nước ta và bắt nhân dân ta làm
nô lệ một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của
giai cấp công nhân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ
Cộng hoà, toàn thể nhân dân ta đoàn kết một lòng
đứng lên đánh giặc cứu nước. Đồng thời nhân dân ta đã tiến hành giảm tô và cải cách ruộng đất nhằm đánh đổ giai cấp địa
chủ, đem lại ruộng đất cho dân cày. Cuộc kháng chiến lâu dài, gian
khổ và vô cùng anh dũng của nhân dân Việt Nam, được
các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc bị áp bức và nhân dân
yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình và ủng
hộ, đã thắng lợi vẻ vang. Với chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân
Việt Nam đã đánh bại đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ.
Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 được ký kết, hoà bình được lập lại ở
Đông Dương trên cơ sở công nhận độc lập, chủ quyền,
thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta.
Thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam cũng là
thắng lợi chung của phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức, của
mặt trận hoà bình thế giới và của phe xã hội chủ
nghĩa.
Từ khi hoà bình lập lại, ở miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng, nhân dân ta đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân. Nhưng miền Nam còn bị đế quốc và phong
kiến thống trị, nước nhà tạm thời còn bị chia làm hai miền.
Cách mạng Việt Nam chuyển sang một hình thể mới.
Nhân dân ta cần ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên
chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh đề hoà bình
thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân trong cả nước.
Mấy năm qua, nhân dân ta ở miền Bắc đá thu được
nhiều thành tích to lớn trong việc khôi phục kinh tế, phát triển văn
hoá. Hiện nay, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và
xây dựng chủ nghĩa xã hội đang tiến hành thắng lợi.
Trong
khi ấy, ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bọn tay sai đàn áp dã man phong trào yêu nước
của nhân dân ta. Chúng tăng
cường binh bị, thực hiện âm mưu biến miền Nam nước
ta thành thuộc địa và căn cứ quân sự chuẩn bị chiến tranh của đế
quốc Mỹ. Chúng ra sức phá hoại hiệp nghị Giơnevơ,
phá hoại hoà bình, phá hoại sự nghiệp thống nhất của nước Việt
Nam. Nhưng đồng bào miền Nam luôn luôn anh dũng đấu
tranh, không chịu khuất phục. Nhân dân cả nước đoàn kết một
lòng, giương cao ngọn cờ hoà bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ, kiên quyết tiến lên giành lấy thắng lợi cuối cùng. Sự
nghiệp hoà bình thống nhất Tổ quốc nhất định sẽ
thành công.
*
* *
Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta
cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và
nhiệm vụ mới.
Hiến pháp mới đã ghi rõ những thắng lợi cách mạng
to lớn đã giành được trong thời gian qua và nêu rõ mục tiêu phấn
đấu của nhân dân ta trong giai đoạn mới.
Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa
trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo Hiến pháp mới quy định chế độ chính trị, kinh tế và
xã hội của nước ta, quan hệ bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc
trong nước, bảo đảm đưa miền Bắc nước ta tiến lên
chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá
của nhân dân, xây dựng miền Bắc vững mạnh làm cơ sở
cho toàn quốc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.
Hiến pháp mới quy định trách nhiệm và quyền hạn
của các cơ quan Nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, nhằm
phát huy sức sáng tạo to lớn của nhân dân ta trong
công cuộc xây dựng nước nhà, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc.
Hiến pháp mới là một Hiến pháp thực sự dân chủ
Hiến pháp mới là sức mạnh động viên nhân dân cả nước ta phân khởi
tiến lên giành những thắng lợi mới. Nhân dân ta
quyết phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, chí khí đầu tranh và nhiệt tình lao động. Nhân dân ta
quyết tăng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí với các nước anh em
trong phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô vĩ
đại, tăng cường đoàn kết với nhân dân các nước á Phi và nhân dân
yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
Dưới sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt
trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và thực hiện thống nhất nước nhà. Nhân dân ta nhất định xây
dựng thành công một nước Việt Nam hoà bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào
công cuộc bảo vệ hoà bình ở Đông Nam châu á và thế
giới.
CHƯƠNG I
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Điều 1
Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất
không thể chia cắt.
Điều 2
Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, thành lập và củng
cố do thắng lợi mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong Cách
mạng tháng Tám vẻ vang và kháng chiến anh dũng, là
một nước dân chủ nhân dân.
Điều 3
Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà là một nước thống
nhất gồm nhiều dân tộc.
Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình
đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có nhiệm vụ gìn giữ và phát
triển sự đoàn kết giữa các dân tộc. Mọi hành vi
khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm.
Các dân tộc có quyền duy trì hoặc sửa đổi phong
tục, tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hoá dân tộc của
mình.
Những địa phương có dân tộc thiểu số sống tập
trung thì có thể thành lập khu vực tự trị. Khu vực tự trị là bộ phận không
thể tách rời được của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
Nhà nước ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số mau
tiến kịp trình độ kinh tế và văn hoá chung.
Điều 4
Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình
thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp và các cơ
quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.
Điều 5
Việc tuyển cử đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng Nhân dân các cấp đều tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng Nhân dân
các cấp có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra
không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Điều 6
Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân
dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân,
lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.
Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải
trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp
luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Điều 7
Nhà nước nghiêm cấm và trừng trị mọi hành động
phản quốc, chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại sự nghiệp
thống nhất Tổ quốc.
Điều 8
Lực
lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà là của nhân dân, có nhiệm vụ
bảo vệ thành quả của cách mạng,
bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an
ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà
bình của nhân dân.
CHƯƠNG II
CHẾ ĐỘ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
Điều 9
Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà tiến dần từ chế độ
dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải
tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến
nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công
nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật
tiên tiến.
Mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là không ngừng phát triển sức sản xuất
nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân
dân.
Điều 10
Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế
hoạch thống nhất.
Nhà nước dựa vào các cơ quan Nhà nước, tổ chức
công đoàn, hợp tác xã và các tổ chức khác của nhân dân lao động để
xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh tế.
Điều 11
ở nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ
quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là:
hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân,
hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của
nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao
động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
Điều 12
Kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của
toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà
nước bảo đảm phát triển ưu tiên.
Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây, đất
hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều
thuộc quyền sở hữu của toàn dân.
Điều 13
Kinh tế hợp tác xã thuộc hình thức sở hữu tập thể
của nhân dân lao động.
Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp
đỡ sự phát triển của kinh tế hợp tác xã.
Điều 14
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu
về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ nông dân cải
tiến kỹ thuật canh tác, phát triển sản xuất, và khuyến khích nông dân
tổ chức hợp tác xã sản xuất, hợp tác xã mua bán và
hợp tác xã vay mượn theo nguyên tắc tự nguyện.
Điều 15
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu
về tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những
người lao động riêng lẻ khác.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ những người
làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác cải tiến cách
làm ăn và khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản
xuất và hợp tác xã mua bán theo nguyên tắc tự nguyện.
Điều 16
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu
về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà nước tư sản dân tộc.
Nhà nước ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc
hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế
quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi
theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình
thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác.
Điều 17
Nhà nước nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tư hữu
để làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế
Nhà nước.
Điều 18
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của
cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở các thứ vật dụng
riêng khác.
Điều 19
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa
kế tài sản tư hữu của công dân.
Điều 20
Chỉ khi nào cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước
mới có trưng mua, hoặc trưng dụng, trưng thu có bồi thường thích đáng
các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn, trong
phạm vi và điều kiện do pháp luật quy định.
Điều 21
Lao động là cơ sở để phát triển kinh tế quốc dân
và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
Lao động là nghĩa vụ và vinh dự của người công
dân.
Nhà nước
khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần tích cực trong lao động của những người
lao động chân tay và lao động
trí óc.
CHƯƠNG
III
QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Điều 22
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà đều bình
đẳng trước pháp luật
Điều 23
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, không
phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín
ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề
nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử,
từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử,
trừ những người mất trí và những người bị toà án hoặc pháp luật tước
quyền bầu cử và ứng cử.
Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và
ứng cử.
Điều 24
Phụ nữ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội và gia đình.
Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương
ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và
phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà
vẫn hưởng nguyên lương.
Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ
em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ.
Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.
Điều 25
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có các
quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà
nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để
công dân được hưởng các quyền đó.
Điều 26
Công dân nớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Điều 27
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được bảo đảm. Không ai có thể bị
bắt nếu không có sự quyết định của
Toà án Nhân dân
hoặc sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát Nhân dân.
Điều 28
Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật.
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
tự do cư trú và đi lại.
Điều 29
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những
hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước.
Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh
chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của
nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường.
Điều 30
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
làm việc. Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh
tế quốc dân, dần dần mở rộng công việc làm, cải
thiện điều kiện lao động và lương bổng, để bảo đảm cho công dân được
hưởng quyền đó.
Điều 31
Người lao động có quyền nghỉ ngơi. Nhà nước quy
định thời giờ làm việc và chế độ nghỉ ngơi của công nhân và viên
chức, mở rộng dần những điều kiện vật chất về nghỉ
ngơi và an dưỡng, để bảo đảm cho người lao động được hưởng
quyền đó.
Điều 32
Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất
khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần
các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để bảo
đảm cho người lao động được hưởng quyền đó.
Điều 33
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng
bách, phát triển dần các trường học và cơ quan văn
hoá, phát triển các hình thức giáo dục bổ túc văn hoá, kỹ thuật,
nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức
khác ở thành thị và nông thôn, để bảo đảm cho công dân được hưởng
quyền đó.
Điều 34
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật, và tiến
hành các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước khuyến
khích và giúp đỡ tính sáng tạo của những công dân theo đuổi sự
nghiệp khoa học, văn học, nghệ thuật và các sự
nghiệp văn hoá khác.
Điều 35
Nhà nước chú trọng đặc biệt việc giáo dục thanh
niên về đức dục, trí dục, thể dục.
Điều 36
Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của Việt
kiều.
Điều 37
Những người nước ngoài vì đấu tranh cho tự do,
cho chính nghĩa, cho hoà bình và sự nghiệp khoa học mà bị bức hại đều
được Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà cho phép trú
ngụ.
Điều 38
Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để
xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.
Điều 39
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có nghĩa
vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công
cộng, và những quy tắc sinh hoạt xã hội.
Điều 40
Tài sản công cộng của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà là thiêng liêng không thể xâm phạm. Công dân có nghĩa vụ tôn
trọng và bảo vệ tài sản công cộng.
Điều 41
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có nghĩa
vụ đóng thuế theo pháp luật.
Điều 42
Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao
quý nhất của công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà.
Công dân
có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc.
CHƯƠNG IV
QUỐC HỘI
Điều 43
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Điều 44
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Điều 45
Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là bốn năm.
Hai tháng trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ thì
phải bầu xong Quốc hội mới.
Thể lệ tuyển cử và số đại biểu Quốc hội do luật
định.
Trong trường hợp xảy ra chiến tranh hoặc các
trường hợp bất thường khác, Quốc hội có thể quyết định kéo dài nhiệm kỳ
của mình và những biên pháp cần thiết để bảo đảm sự
hoạt động của Quốc hội và của đại biểu Quốc hội.
Điều 46
Quốc hội mỗi năm họp hai lần, do Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội triệu tập. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có thể triệu tập
Quốc hội họp bất thường theo quyết định của mình
hoặc theo yêu cầu của Hội đồng Chính phủ hay của ít nhất là một
phần ba tổng số đại biểu Quốc hội.
Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội phải triệu tập Quốc hộp
mới chậm nhất là hai tháng sau khi tuyển cử.
Điều 47
Khi Quốc hội họp thì bầu Chủ tịch đoàn để điều
khiển cuộc họp.
Điều 48
Các đạo luật và các nghị quyết của Quốc hội phải
được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ
trường hợp quy định ở điều 112 của Hiến pháp.
Điều 49
Các đạo luật phải được công bố chậm nhất là mười
lăm ngày sau khi Quốc hội đã thông qua.
Điều 50
Quốc hội có những quyền hạn sau đây:
1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp.
2. Làm pháp luật.
3. Giám sát việc thi hành Hiến pháp.
4. Bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
5. Theo đề nghị của Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà quyết định cử Thủ tướng Chính phủ; theo đề nghị của Thủ tướng Chính
phủ quyết định cử Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Hội đồng Chính phủ.
6. Theo đề nghị của Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà quyết định cử Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quốc
phòng.
7. Bầu Chánh án
Toà án Nhân dân tối cao.
8. Bầu Viện trưởng Viện
Kiểm sát Nhân dân tối cao.
9. Bãi miễn Chủ tịch, Phó Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, Thủ tướng, Phó thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng
Chính phủ, Phó Chủ tịch và những thành viên khác của Hội đồng quốc phòng, Chánh
án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm
sát Nhân dân tối cao.
10. Quyết định kế hoạch kinh tế Nhà nước.
11. Xét duyệt và phê chuẩn dự toán và quyết toán
ngân sách của Nhà nước.
12. ấn định các thứ thuế.
13. Phê chuẩn việc thành lập và bãi bỏ các Bộ và
các cơ quan ngang Bộ.
14. Phê chuẩn việc phân vạch địa giới các tỉnh,
khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương.
15. Quyết định đại xá.
16. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình.
17. Những quyền hạn cần thiết khác do Quốc hội
định.
Điều 51
Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực
của Quốc hội do Quốc hội bầu ra.
Uỷ ban thường vụ gồm có:
- Chủ tịch,
- Các Phó Chủ tịch,
- Tổng thư ký,
- Các uỷ viên.
Điều 52
Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội chịu trách nhiệm và báo
cáo công tác trước Quốc hội.
Quốc hội có quyền bãi miễn các thành viên của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội.
Điều 53
Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội có những quyền hạn sau
đây:
1. Tuyên bố và chủ trì việc tuyển cử đại biểu
Quốc hội.
2. Triệu tập Quốc hội.
3. Giải thích pháp luật.
4. Ra pháp lệnh.
5. Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân.
6. Giám sát công tác của Hội đồng Chính phủ, của
Toà án Nhân dân tối cao và của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.
7. Sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định, nghị quyết,
chỉ thị của Hội đồng Chính phủ trái với Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh; sửa đổi
hoặc bãi bỏ những nghị quyết không thích đáng của
Hội đồng Nhân dân tỉnh, khu tự
trị, thành phố trực thuộc trung ương, và giải tán các
Hội đồng Nhân dân nói trên
trong trường hợp các Hội đồng Nhân dân đó làm thiệt hại đến quyền lợi của nhân
dân một cách nghiêm trọng.
8. Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định
việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng
Chính phủ.
9. Bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó Chánh án, Thẩm phán
Toà án Nhân dân tối cao.
10. Bổ nhiệm hoặc bãi miễn Phó Viện trưởng, kiểm sát
viên Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.
11. Quyết định việc bổ nhiệm hoặc bãi miễn các đại
diện toàn quyền ngoại giao của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà ở nước Việt Nam.
12. Quyết định việc phê chuẩn hoặc bãi bỏ những hiệp
ước ký với nước ngoài, trừ trường hợp mà Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội xét cần phải
trình Quốc hội quyết định.
13. Quy định hàm và cấp quân sự, ngoại giao và những
hàm và cấp khác.
14. Quyết định đặc xá.
15. Quy định và quyết định việc tặng thưởng huân
chương và danh hiệu vinh dự của Nhà nước.
16. Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định
việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp nước nhà bị xâm lược.
17. Quyết định việc tổng động viện hoặc động viên
cục bộ.
18. Quyết định việc giới nghiêm trong toàn quốc hoặc
từng địa phương.
Ngoài những quyền hạn trên, Quốc hội có thể trao
cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội những quyền hạn khác khi xét thấy
cần thiết.
Điều 54
Những nghị quyết của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội
phải được quá nửa tổng số uỷ viên biểu quyết tán thành.
Điều 55
Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội làm nhiệm vụ cho đến
khi Quốc hội mới bầu xong Uỷ ban thường vụ mới.
Điều 56
Quốc hội bầu ra Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu
của đại biểu Quốc hội. Quốc hội căn cứ vào báo cáo của Uỷ ban thẩm
tra mà quyết định xác nhận tư cách đại biểu của đại
biểu Quốc hội.
Điều 57
Quốc hội thành lập Uỷ ban dự án pháp luật, Uỷ ban
kế hoạch và ngân sách, và những uỷ ban khác mà Quốc hội xét thấy
cần thiết để giúp Quốc hội và Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội.
Điều 58
Nếu Quốc hội nhận thấy cần thiết, và trong thời
gian Quốc hội không họp, nếu Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội nhận thấy
cần thiết, thì có thể tổ chức các Uỷ ban điều tra về
những vấn đề nhất định. Trong khi Uỷ ban điều tra làm việc, các cơ
quan Nhà nước, đoàn thể nhân dân và công dân có
nhiệm vụ cung cấp tài liệu cần thiết cho Uỷ ban điều tra.
Điều 59
Các đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng
Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ.
Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn
năm ngày; trường hợp cần phải điều tra thì thời hạn trả lời là một tháng.
Điều 60
Nếu
không có sự đồng sy của Quốc hội, và trong thời hạn Quốc hội không họp, nếu
không có sự đồng ý của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, thì không được bắt giam và truy
tố đại biểu Quốc hội.
CHƯƠNG V
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DĭN CHỦ CỘNG HOÀ
Điều 61
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà là người
thay mặt cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về mặt đối nội và đối
ngoại.
Điều 62
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà do Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bầu ra. Công dân nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà từ ba mươi lăm tuổi trở lên có
quyền ứng cử Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà. Nhiệm
kỳ của Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà theo
nhiệm kỳ của Quốc hội.
Điều 63
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà căn cứ
vào quyết định của Quốc hội hoặc của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội mà
công bố pháp luật, pháp lệnh; bổ nhiệm, bãi miễn Thủ
tướng, Phó Thủ tướng, và các thành viên khác của Hội đồng
Chính phủ; bổ nhiệm, bãi miễn Phó Chủ tịch và các
thành viên khác của Hội đồng quốc phòng; công bố lệnh đại xá và
lệnh đặc xá; tặng thưởng huân chương và danh hiệu
vinh dự của Nhà nước; tuyên bố tình trạng chiến tranh; công bố lệnh
tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố lệnh
giới nghiêm.
Điều 64
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà tiếp nhận
đại diện toàn quyền ngoại giao của nước ngoài cử đến; căn cứ vào
quyết định của Quốc hội hoặc của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội mà phê chuẩn hiệp ước ký với nước ngoài, cử và triệu hồi
đại diện toàn quyền ngoại giao của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà ở nước ngoài.
Điều 65
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà thống
lĩnh các lực lượng vũ trang toàn quốc, giữ chức, vụ Chủ tịch Hội đồng
quốc phòng.
Điều 66
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, khi xét
thấy cần thiết, có quyền tham dự và chủ toạ xét thấy cần thiết, có
quyền tham dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng
Chính phủ.
Điều 67
Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, khi xét
thấy cần thiết thì triệu tập và chủ toạ Hội nghị chính trị đặc biệt.
Hội nghị chính trị đặc biệt gồm có Chủ tịch và
Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Uỷ ban
Thường
vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và những người hữu
quan khác.
Hội nghị chính trị đặc biệt xét những vẫn đề lớn
của nước nhà. Những ý kiến của Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chuyển đến Quốc hội,
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ hoặc các cơ
quan hữu quan khác để thảo luận và ra quyết định.
Điều 68
Phó Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà giúp
Chủ tịch làm nhiệm vụ, có thể được Chủ tịch quỷ nhiệm thay thế
Chủ tịch trong từng bộ phận chức quyền.
Việc tuyển cử và nhiệm kỳ của Phó Chủ tịch quy
định như việc tuyển cử và nhiệm kỳ của Chủ tịch.
Điều 69
Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà làm nhiệm vụ cho đến khi Chủ tịch mới và Phó Chủ tịch mới
nhận chức.
Điều 70
Khi Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà vì
tình hình sức khoẻ mà không làm việc được trong một thời gian dài thì
Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch.
Khi Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khuyết thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch cho
đến khi bầu xong Chủ tịch
mới
CHƯƠNG VI
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Điều 71
Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính Nhà
nước cao nhất của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
Hội đồng Chính phủ trách nhiệm và báo cáo công
tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không thì chịu trách
nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội.
Điều 72
Hội đồng Chính phủ gồm có:
- Thủ tướng,
- Các Phó thủ tướng,
- Các Bộ trưởng,
- Các Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước,
- Tổng giám đốc ngân hàng Nhà nước
Tổ chức của Hội đồng Chính phủ do luật định.
Điều 73
Hội đồng Chính phủ căn cứ vào Hiến pháp, pháp
luật và pháp lệnh mà quy định những biện pháp hành chính, ban bố
những nghị đinh, nghị quyết, chỉ thị và kiểm tra
việc thi hành những nghị định, nghị quyết và chỉ thị ấy.
Điều 74
Hội đồng chính phủ có những quyền hạn sau đây:
1. Trình dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án
khác ra trước Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
2. Thống nhất lãnh đạo công tác của các Bộ và các
cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ.
3. Thống nhất lãnh đạo công tác của
Uỷ ban Hành chính các cấp.
4. Sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không
thích đáng của các Bộ, các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ; sửa đổi
hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của
Uỷ ban Hành chính các cấp.
5. Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không
thích đáng của Hội đồng Nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc
trung ương và đề nghị Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội sửa
đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy.
6. Chấp hành kế hoạch kinh tế và ngân sách Nhà
nước.
7. Quản lý nội thương và ngoại thương.
8. Quản lý công tác văn hoá, xã hội.
9. Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, duy trì trật tự
công cộng, bảo hộ quyền lợi của công dân.
10. Lãnh đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang của
Nhà nước.
11. Quản lý công tác đối ngoại.
12. Quản lý công tác dân tộc.
13. Phê chuẩn sự phân vạch địa giới của các đơn
vị hành chính dưới cấp tỉnh.
14. Thi hành lệnh động viên, lệnh giới nghiêm và
mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ đất nước.
15. Bổ nhiệm và bãi miễn các nhân viên cơ quan
Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Ngoài những quyền hạn trên, Quốc hội hoặc Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội có thể trao cho Hội đồng Chính phủ những
quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết.
Điều 75
Thủ tướng Chính phủ chủ toạ Hội đồng Chính phủ và
lãnh đạo công tác của Hội đồng Chính phủ. Các Phó Thủ tướng
giúp Thủ tướng, có thể được uỷ nhiệm thay Thủ tướng
khi Thủ tướng vắng mặt.
Điều 76
Các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội
đồng Chính phủ lãnh đạo công tác của ngành mình dưới sự lãnh đạo
thống nhất của Hội đồng Chính phủ.
Trong phạm vi quyền hạn của mình, trên cơ sở và
để thi hành pháp luật và các nghị định, nghị quyết, chỉ thị của Hội
đồng Chính phủ, các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ
quan thuộc Hội đồng Chính phủ ra những thông tư, chỉ thị và kiểm
tra việc thi hành các thông tư chỉ thị ấy.
Điều 77
Trong
khi thi hành chức vụ, các thành viên của Hội đồng Chính phủ phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về những hành
vi trái với Hiến pháp và pháp luật gây thiệt hại cho
Nhà nước hay là cho nhân dân.
CHƯƠNG VII
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH ĐỊA PHƯƠNG CÁC CẤP
Điều 78
Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực
thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã;
Huyện chia thành xã, thị trấn.
Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị do
luật định.
Điều 79
Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập
Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính.
Các thành phố có thể chia thành khu phố có
Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính theo quyết định của Hội đồng
Chính phủ.
Điều 80
Hội đồng Nhân
dân các cấp là cơ quan quyền lực
Nhà nước ở địa phương.
Hội đồng Nhân
dân các cấp do nhân dân địa phương
bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương.
Điều 81
Nhiệm kỳ của mỗi khoá
Hội đồng Nhân dân tỉnh, khu
tự trị, thành phố trực thuộc trung ương là ba năm.
Nhiệm kỳ của mỗi khoá
Hội đồng Nhân dân huyện,
thành phố, thị xã, xã, thị trấn, khu phố là hai năm.
Nhiệm kỳ của mỗi khoá
Hội đồng Nhân dân các cấp
trong khu vực tự trị do luật định.
Thể lệ tuyển cử và số đại biểu của
Hội đồng Nhân dân các cấp do luật định.
Điều 82
Hội đồng Nhân
dân bảo đảm sự tôn trọng và chấp
hành pháp luật của Nhà nước ở địa phương; đặt kế hoạch xây dựng
kinh tế, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích công
cộng ở địa phương; xét duyệt và phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân
sách của địa phương; duy trì trật tự và an ninh ở
địa phương, bảo vệ tài sản công cộng, bảo hộ quyền lợi của công dân,
bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc.
Điều 83
Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước và nghị quyết
của cấp trên, Hội đồng Nhân dân ra những nghị quyết thi hành ở địa
phương.
Điều 84
Hội đồng Nhân
dân bầu ra Uỷ ban Hành chính và có
quyền bãi miễn các thành viên của Uỷ ban Hành chính.
Hội đồng Nhân
dân bầu và bãi miễn Chánh án Toà án Nhân dân cấp mình.
Điều 85
Hội đồng Nhân
dân có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ
những quyết định không thích đáng của Uỷ ban
Hành chính cấp mình;
có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết không
thích đáng của Hội đồng Nhân dân cấp dưới trực tiếp và những
quyết định không thích đáng của
Uỷ ban Hành chính
cấp dưới trực tiếp.
Điều 86
Hội đồng Nhân
dân các cấp có quyền giải tán Hội đồng Nhân dân cấp dưới trực tiếp khi
Hội đồng Nhân dân này làm thiệt
hại đến quyền lợi của nhân dân một cách nghiêm trọng.
Nghị quyết giải tán phải được Hội đồng
Nhân dân cấp trên trực
tiếp phê chuẩn trước khi thi hành. Nghị quyết giải
tán của Hội đồng Nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung
ương phải được Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội phê chuẩn
trước khi thi hành.
Điều 87
Uỷ ban Hành
chính các cấp là cơ quan chấp hành
của Hội đồng Nhân dân địa phương, là cơ quan hành chính của Nhà
nước ở địa phương.
Điều 88
Uỷ ban Hành
chính gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều
Phó Chủ tịch, uỷ viên Thư ký và các uỷ viên.
Nhiệm kỳ của
Uỷ ban Hành chính theo nhiệm kỳ của Hội đồng Nhân dân đã bầu ra mình.
Khi Hội đồng
Nhân dân hết nhiệm kỳ hoặc bị giải
tán, Uỷ ban Hành chính tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi
Hội đồng
Nhân dân mới bầu ra Uỷ ban Hành chính mới.
Tổ chức của
Uỷ ban Hành chính các cấp do luật
định.
Điều 89
Uỷ ban Hành
chính các cấp quản lý công tác hành
chính của địa phương, chấp hành nghị quyết của
Hội đồng Nhân dân
cấp mình và nghị quyết, mệnh lệnh của cơ quan hành
chính Nhà nước cấp trên.
Uỷ ban Hành
chính các cấp chiếu theo quyền hạn do
luật định mà ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những
quyết định, chỉ thị ấy.
Điều 90
Uỷ ban Hành
chính các cấp lãnh đạo công tác của
các ngành thuộc quyền mình và của các Uỷ ban Hành chính cấp dưới.
Uỷ ban Hành
chính các cấp có quyền sửa đổi hoặc
bãi bỏ những quyết định không thích đáng của các ngành công tác
thuộc quyền mình và của Uỷ ban
Hành chính cấp dưới.
Uỷ ban Hành
chính các cấp có quyền đình chỉ việc
thi hành những nghị quyết không thích đáng của Hội
đồng Nhân dân
cấp dưới trực tiếp và đề nghị
Hội đồng Nhân dân cấp
mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy.
Điều 91
Uỷ ban Hành
chính các cấp chịu trách nhiệm và báo
cáo công tác trước Hội đồng Nhân dân cấp mình và trước cơ quan
hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp.
Uỷ ban Hành chính các cấp chịu sự lãnh đạo của
Uỷ ban Hành chính cấp trên và sự lãnh
đạo thống nhất của Hội đồng
Chính phủ.
HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH Ở CÁC KHU VỰC TỰ TRỊ
Điều 92
Tổ chức
Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính ở
các khu vực tự trị phải căn cứ vào những nguyên tắc cơ bản về tổ
chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính các cấp
quy định ở trên.
Điều 93
Trong những khu vực tự trị có nhiều dân tộc sống
xen lẫn, Hội đồng Nhân dân sẽ có số đại biểu thích đáng của các dân
tộc.
Điều 94
Hội đồng Nhân
dân và Uỷ ban Hành chính các khu
vực tự trị chiếu theo phạm vi quyền hạn tự trị do pháp luật quy định
mà đặt kế hoạch phát triển kinh tế và văn hoá thích
hợp với tình hình địa phương, quản lý tài chính, tổ chức các lực lượng
dân quân tự vệ và công an của địa phương.
Điều 95
Trong phạm vi quyền hạn tự trị,
Hội đồng Nhân dân
các khu vực tự trị có thể chiếu theo những đặc điểm chính trị, kinh tế,
văn hoá của các dân tộc ở địa phương mà đặt ra điều
lệ tự trị và những điều lệ về những vấn đề riêng biệt để thi hành ở
địa phương sau khi đã được Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội
phê chuẩn.
Điều 96
Cơ quan
Nhà nước cấp trên phải bảo đảm cho Hội
đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính các
khu vực tự trị sử dụng
quyền tự trị và giúp đỡ các dân tộc thiểu số tiến
hành thuận lợi việc xây dựng chính trị, kinh tế và văn hoá của mình.
CHƯƠNG VIII
TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Điều 97
Toà án Nhân
dân tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, các Toà án
Nhân dân địa phương, các Toà án quân sự là
những cơ quan xét xử của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt,
Quốc hội có thể quyết định thành lập
Toà án đặc biệt.
Điều 98
Các Toà án
Nhân dân thực hành chế độ Thẩm phán
bầu theo quy định của pháp luật.
Nhiệm kỳ của Chánh án
Toà án Nhân dân tối cao là
năm năm.
Tổ chức của các
Toà án Nhân dân do luật định.
Điều 99
Việc xét xử ở các
Toà án Nhân dân có Hội thẩm
nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm
Nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.
Điều 100
Khi xét xử,
Toà án Nhân dân có quyền độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật.
Điều 101
Việc xét xử tại các
Toà án Nhân dân đều công khai,
trừ những trường hợp đặc biệt do luật định.
Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm.
Điều 102
Toà án Nhân
dân bảo đảm cho công dân nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà thuộc các dân tộc thiểu số có thể dùng tiếng
nói và chữ viết của mình trước toà án.
Điều 103
Toà án Nhân
dân tối cao là cơ quan xét xử cao
nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Toà án Nhân
dân tối cao giám đốc việc xét xử của
các Toà án Nhân dân địa phương, Toà án quân sự và Toà án đặc biệt.
Điều 104
Toà án Nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời
gian Quốc hội không họp thì
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội. Các Toà án Nhân dân địa phương chịu trách
nhiệm và báo cáo công tác trước Hội
đồng Nhân dân
địa phương.
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Điều 105
Viện
Kiểm sát Nhân dân tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc
Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các
nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân.
Các Viện
Kiểm sát Nhân dân địa phương và Viện
kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định.
Điều 106
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện
Kiểm sát Nhân dân
tối cao là năm năm.
Tổ chức của các Viện
Kiểm sát Nhân dân do luật
định.
Điều 107
Viện
Kiểm sát Nhân dân các cấp chỉ chịu sự lãnh
đạo của Viện Kiểm sát Nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của
Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.
Điều 108
Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội,
trong thời gian Quốc hội không
họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
CHƯƠNG IX
QUỐC KỲ - QUỐC HUY - THỦ ĐÔ
Điều 109
Quốc kỳ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà nền đỏ, ở
giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
Điều 110
Quốc huy nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà hình tròn,
nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông
lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng cưa và dòng chữ:
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Điều 111
Thủ đô
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Hà Nội.
CHƯƠNG X
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Điều 112
Chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp.
Việc sửa đổi phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc
hội biểu quyết tán thành.

I
Tuyên ngôn độc lập
I
Lịch sử lập hiến
I
Xem
tiếp I
|