|

Hiến pháp nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà năm 1946
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1959
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1980
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1992
I Xem
tiếp I
HIẾN
PHÁP NƯỚC
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
(Quốc hội nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà thông qua ngày 9-11-1946)
Lời nói đầu
Cuộc Cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự
do cho nhân dân và lập ra nền Dân chủ Cộng hoà.
Sau
tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt
Nam
đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ
chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới.
Nhiệm
vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc
lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.
Được
quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải
ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng và phải xây dựng trên
những nguyên tắc dưới đây:
-
Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn
giáo.
-
Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
-
Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Với
tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân
chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường
vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý
nguyện hoà bình của nhân loại.
CHƯƠNG I
Chính thể
Điều thứ 1
Nước
Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hoà.
Tất
cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân
biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
Điều
thứ 2
Đất
nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia.
Điều
thứ 3
Cờ
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh.
Quốc
ca là bài Tiến quân ca.
Thủ
đô đặt ở Hà Nội.
CHƯƠNG II
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CÔNG DÂN
Mục a : Nghĩa vụ
Điều thứ 4
Mỗi công dân Việt
Nam
phải:
- Bảo vệ Tổ quốc
- Tôn trọng Hiến pháp
- Tuân theo pháp luật.
Điều thứ 5
Công dân Việt
Nam
có nghĩa vụ phải đi lính.
Mục b : Quyền lợi
Điều thứ 6
Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị,
kinh tế, văn hoá.
Điều thứ 7
Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham
gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của
mình.
Điều thứ 8
Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về
mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung.
Điều thứ 9
Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.
Điều thứ 10
Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và hội họp
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
Điều thứ 11
Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân
Việt Nam.
Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách
trái pháp luật.
Điều thứ 12
Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.
Điều thứ 13
Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm.
Điều thứ 14
Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được
giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.
Điều thứ 15
Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. ở các trường sơ học địa phương,
quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình.
Học trò nghèo được Chính phủ giúp.
Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.
Điều thứ 16
Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh
thì được trú ngụ trên đất Việt Nam.
Mục c :Bầu cử, bãi miễn và phúc quyết
Điều thứ 17
Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và
kín.
Điều thứ 18
Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai,
đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công
quyền.
Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và
phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.
Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử.
Điều thứ 19
Cách thức tuyển cử sẽ do luật định.
Điều thứ 20
Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo điều thứ 41
và 61.
Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận
mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70.
CHƯƠNG III
Nghị
viện nhân dân
Điều
thứ 22
Nghị
viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
Điều
thứ 23
Nghị
viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp
luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp
ước mà Chính phủ ký với
nước ngoài.
Điều
thứ 24
Nghị
viện nhân dân do công dân Việt
Nam
bầu ra. Ba năm bầu một lần.
Cứ
5 vạn dân thì có một nghị viên.
Số
nghị viên của những đô thị lớn và những địa phương có quốc dân thiểu số
sẽ do luật định.
Điều
thứ 25
Nghị
viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho
toàn thể nhân dân.
Điều
thứ 26
Nghị
viện nhân dân tự thẩm tra xem các nghị viên có được bầu hợp lệ hay không.
Điều
thứ 27
Nghị
viện nhân dân bầu một Nghị trưởng, hai Phó nghị trưởng, 12 uỷ viên chính
thức, 3 uỷ viên dự khuyết để lập thành Ban thường vụ.
Nghị
trưởng và Phó nghị trưởng kiêm chức Trưởng và Phó trưởng Ban thường vụ.
Điều
thứ 28
Nghị
viện nhân dân mỗi năm họp hai lần do Ban thường vụ triệu tập vào tháng 5
và tháng 11 dương lịch.
Ban
thường vụ có thể triệu tập hội nghị bất thường nếu xét cần.
Ban
thường vụ phải triệu tập Nghị viện nếu một phần ba tổng số nghị viên
hoặc Chính phủ yêu cầu.
Điều
thứ 29
Phải
có quá nửa tổng số nghị viên tới họp, hội nghị mới được biểu quyết.
Nghị
viện quyết nghị theo quá nửa số nghị viên có mặt.
Nhưng
muốn tuyên chiến thì phải có hai phần ba số nghị viên có mặt bỏ phiếu
thuận.
Điều
thứ 30
Nghị
viện họp công khai, công chúng được vào nghe.
Các
báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị
viện.
Trong
những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết nghị họp kín.
Điều
thứ 31
Những
luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố
chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong hạn ấy, Chủ
tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo
luận lại, nếu vẫn được Nghị viện
ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải
ban bố.
Điều
thứ 32
Những
việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu
hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.
Cách
thức phúc quyết sẽ do luật định.
Điều
thứ 33
Khi
nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán.
Ban thường vụ thay mặt Nghị viện tuyên bố sự tự giải tán ấy.
Điều
thứ 34
Khi
Nghị viện nhân dân đã hết hạn hoặc chưa hết hạn mà tự giải tán thì Ban
thường vụ giữ chức quyền cho đến khi bầu lại Nghị viện nhân dân mới.
Điều
thứ 35
Hai
tháng trước khi Nghị viện nhân dân hết hạn, Ban thường vụ tuyên bố cuộc
bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới phải làm xong trong hai tháng trước ngày
Nghị viện hết hạn.
Khi
Nghị viện nhân dân tự giải tán, Ban thường vụ tuyên bố ngay cuộc bầu cử
lại. Cuộc bầu cử mới làm xong trong hai tháng sau ngày Nghị viện tự giải
tán.
Chậm
nhất là một tháng sau cuộc bầu cử, Ban thường vụ phải họp Nghị viện nhân
dân mới.
Trong
khi có chiến tranh mà nghị viện hết hạn thì Nghị viện hoặc Ban thường vụ
có quyền gia hạn thêm một thời gian không nhất định. Nhưng chậm nhất là
sáu tháng sau khi chiến tranh kết liễu thì phải bầu lại Nghị viện.
Điều
thứ 36
Khi
Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền:
a)
Biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ. Những sắc luật đó phải
đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất
để
Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ.
b)
Triệu tập Nghị viện nhân dân.
c)
Kiểm soát và phê bình Chính phủ.
Điều
thứ 37
Phải
có quá nửa tổng số nhân viên bỏ phiếu thuận, những nghị quyết của Ban
thường vụ mới có giá trị.
Điều
thứ 38
Khi
Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyền
quyết định tuyên chiến hay đình chiến.
Điều
thứ 39
Đầu
mỗi khoá họp, sau khi Ban thường vụ báo cáo công việc, vấn đề bỏ phiếu
tín nhiệm Ban thường vụ có thể nêu ra, nếu có một phần
tư tổng số nghị
viên yêu cầu. Toàn Ban thường vụ phải từ chức nếu không được tín nhiệm.
Nhân viên Ban thường vụ cũ có thể được bầu lại.
Điều
thứ 40
Nếu
chưa được Nghị viện nhân dân đồng ý hay trong lúc Nghị viện không họp mà
chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét
xử những nghị viên.
Nghị
viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện.
Trong
trường hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt giam nghị viên ngay
nhưng chậm nhất là 24 giờ phải thông tri cho Ban thường vụ. Ban thường
vụ hoặc Nghị viện sẽ định đoạt.
Khi
một nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả
tư cách nghị viên.
Điều
thứ 41
Nghị
viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của
một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành
phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên
ưng thuận
đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức.
Điều
thứ 42
Phụ
cấp của các nghị viên sẽ do luật định.
CHƯƠNG IV
CHÍNH PHỦ
Điều thứ 43
Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà.
Điều thứ 44
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, Phó chủ tịch
và Nội các.
Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.
Điều thứ 45
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và
phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận.
Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa
số tương đối.
Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu
lại.
Trong vòng một tháng trước khi hết nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ
phải triệu tập Nghị viện để bầu Chủ tịch mới.
Điều thứ 46
Phó chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong nhân dân và bầu
theo lệ thường.
Nhiệm kỳ của Phó chủ tịch theo nhiệm kỳ của Nghị viện.
Phó chủ tịch giúp đỡ Chủ tịch.
Khi Chủ tịch từ trần hay từ chức thì Phó chủ tịch tạm quyền Chủ tịch.
Chậm nhất là hai tháng phải bầu Chủ tịch mới.
Điều thứ 47
Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị
viện biểu quyết. Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tướng chọn các Bộ
trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách.
Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thủ tướng đề cử ra Hội đồng
Chính phủ duyệt y.
Nhân viên Ban thường vụ Nghị viện không được tham dự vào Chính phủ.
Điều thứ 48
Nếu khuyết Bộ trưởng nào thì Thủ tướng thoả thuận với Ban thường vụ để
chỉ định ngay người tạm thay cho đến khi Nghị viện họp và chuẩn y.
Điều thứ 49
Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà:
a) Thay mặt cho nước.
b) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức
các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân.
c) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao
cấp thuộc các cơ quan Chính phủ.
d) Chủ toạ Hội đồng Chính phủ.
đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị.
e) Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự.
g) Đặc xá.
h) Ký hiệp ước với các nước.
i) Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại
giao của các nước.
k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như điều 38 đã định.
Điều thứ 50
Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm
tội phản quốc.
Điều thứ 51
Mỗi khi truy tố Chủ tịch, Phó chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội
phản quốc, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc biệt để xét xử.
Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án một nhân viên Nội các về thường tội
phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ.
Điều thứ 52
Quyền hạn của Chính phủ:
a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện.
b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện.
c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị
viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt.
d) Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần.
đ) Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính
hoặc chuyên môn.
e) Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất
nước.
g) Lập dự án ngân sách hàng năm.
Điều thứ 53
Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chứ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và
tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký.
Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
Điều thứ 54
Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức.
Toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một Bộ
trưởng.
Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các.
Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm khi Thủ tướng,
Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu vấn đề ấy ra.
Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các
thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện
thảo luận lại. Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần
thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải
từ chức.
Điều thứ 55
Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất
vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ. Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10
ngày sau khi nhận được thư chất vấn.
Điều thứ 56
Khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền cho đến
khi họp Nghị viện mới.
CHƯƠNG V
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH
Điều thứ 57
Nước Việt
Nam
về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia
thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã.
Điều thứ 58
ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng Nhân
dân do đầu phiếu phổ
thông và trực tiếp bầu ra.
Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã hay xã cử ra
Uỷ ban Hành chính.
ở bộ và huyện, chỉ có Uỷ ban Hành chính. Uỷ ban
Hành chính bộ do Hội
đồng các tỉnh và thành phố bầu ra. Uỷ ban
Hành chính huyện do Hội đồng
các xã bầu ra.
Điều thứ 59
Hội đồng Nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình.
Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên.
Uỷ ban Hành chính có trách nhiệm:
a) Thi hành các mệnh lệnh của cấp trên.
b) Thi hành các nghị quyết của Hội đồng Nhân dân địa phương mình sau khi
được cấp trên chuẩn y.
c) Chỉ huy công việc hành chính trong địa phương.
Điều thứ 60
Uỷ ban Hành chính chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với
Hội đồng Nhân dân địa phương mình.
Điều thứ 61
Nhân viên Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính có thể bị bãi miễn.
Cách thức bãi miễn sẽ do luật định.
Điều thứ 62
Một đạo luật sẽ định rõ những chi tiết tổ chức các
Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính.
CHƯƠNG VI
CƠ QUAN TƯ PHÁP
Điều thứ 63
Cơ quan tư pháp của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có:
a) Toà án tối cao.
b) Các toà án phúc thẩm.
c) Các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp.
Điều thứ 64
Các viên thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm.
Điều thứ 65
Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý
kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết
định với thẩm phán nếu là việc đại hình.
Điều thứ 66
Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Toà án.
Điều thứ 67
Các phiên toà án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt.
Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư.
Điều thứ 68
Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân.
Điều thứ 69
Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ
quan khác không được can thiệp.
Chương VII
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Điều thứ 70
Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.
b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.
c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện
ưng chuẩn thì phải đưa ra
toàn dân phúc quyết.

HIẾN PHÁP NƯỚC VIỆT
NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ NĂM 1959
(Đã được Quốc hội nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà
thông qua ngày 31-12-1959)
Lời nói đầu
Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất từ Lạng
Sơn đến Cà Mau.
Dân tộc Việt Nam trải qua mấy nghìn năm lịch sử
là một dân tộc lao động cần cù luôn luôn anh dũng đấu tranh xây dựng
đất nước và giữ gìn độc lập của Tổ quốc.
Trong hơn 80 năm nước ta bị thực dân Pháp đô hộ
và 5 năm bị phát xít Nhật chiếm đóng, nhân dân Việt Nam đã không
ngừng đoàn kết đấu tranh chống ách thống trị của bọn
xâm lược nước ngoài để giải phóng đất nước.
Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng
Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới. Cuộc đấu
tranh bền bỉ đầy gian khổ và hy sinh dũng cảm của nhân dân ta chống
ách thống trị của đế quốc và phong kiên đá giành
được thắng lợi vĩ đại: Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập, ngày 2 tháng 9 năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập
trước quốc dân và toàn thế giới. Lần đầu tiên trong
lịch sử, nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nước Việt Nam độc lập
và dân chủ.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, toàn dân Việt Nam từ Bắc
chí Nam đã nhiệt liệt tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra
Quốc hội. Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên
ghi rõ những thắng lợi to lớn của nhân dân ta, nêu cao ý chí của
toàn thể dân tộc kiên quyết giữ gìn nền độc lập và
thống nhất của Tổ quốc, bảo vệ tự do và quyền lợi dân chủ của nhân
dân.
Nhưng đế quốc Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức lại
gây chiến tranh xâm lược hòng cướp nước ta và bắt nhân dân ta làm
nô lệ một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của
giai cấp công nhân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ
Cộng hoà, toàn thể nhân dân ta đoàn kết một lòng
đứng lên đánh giặc cứu nước. Đồng thời nhân dân ta đã tiến hành giảm tô và cải cách ruộng đất nhằm đánh đổ giai cấp địa
chủ, đem lại ruộng đất cho dân cày. Cuộc kháng chiến lâu dài, gian
khổ và vô cùng anh dũng của nhân dân Việt Nam, được
các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc bị áp bức và nhân dân
yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình và ủng
hộ, đã thắng lợi vẻ vang. Với chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân
Việt Nam đã đánh bại đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ.
Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 được ký kết, hoà bình được lập lại ở
Đông Dương trên cơ sở công nhận độc lập, chủ quyền,
thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta.
Thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam cũng là
thắng lợi chung của phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức, của
mặt trận hoà bình thế giới và của phe xã hội chủ
nghĩa.
Từ khi hoà bình lập lại, ở miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng, nhân dân ta đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân. Nhưng miền Nam còn bị đế quốc và phong
kiến thống trị, nước nhà tạm thời còn bị chia làm hai miền.
Cách mạng Việt Nam chuyển sang một hình thể mới.
Nhân dân ta cần ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên
chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh đề hoà bình
thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân trong cả nước.
Mấy năm qua, nhân dân ta ở miền Bắc đá thu được
nhiều thành tích to lớn trong việc khôi phục kinh tế, phát triển văn
hoá. Hiện nay, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và
xây dựng chủ nghĩa xã hội đang tiến hành thắng lợi.
Trong
khi ấy, ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bọn tay sai đàn áp dã man phong trào yêu nước
của nhân dân ta. Chúng tăng
cường binh bị, thực hiện âm mưu biến miền Nam nước
ta thành thuộc địa và căn cứ quân sự chuẩn bị chiến tranh của đế
quốc Mỹ. Chúng ra sức phá hoại hiệp nghị Giơnevơ,
phá hoại hoà bình, phá hoại sự nghiệp thống nhất của nước Việt
Nam. Nhưng đồng bào miền Nam luôn luôn anh dũng đấu
tranh, không chịu khuất phục. Nhân dân cả nước đoàn kết một
lòng, giương cao ngọn cờ hoà bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ, kiên quyết tiến lên giành lấy thắng lợi cuối cùng. Sự
nghiệp hoà bình thống nhất Tổ quốc nhất định sẽ
thành công.
*
* *
Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta
cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và
nhiệm vụ mới.
Hiến pháp mới đã ghi rõ những thắng lợi cách mạng
to lớn đã giành được trong thời gian qua và nêu rõ mục tiêu phấn
đấu của nhân dân ta trong giai đoạn mới.
Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa
trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo Hiến pháp mới quy định chế độ chính trị, kinh tế và
xã hội của nước ta, quan hệ bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc
trong nước, bảo đảm đưa miền Bắc nước ta tiến lên
chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá
của nhân dân, xây dựng miền Bắc vững mạnh làm cơ sở
cho toàn quốc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.
Hiến pháp mới quy định trách nhiệm và quyền hạn
của các cơ quan Nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, nhằm
phát huy sức sáng tạo to lớn của nhân dân ta trong
công cuộc xây dựng nước nhà, thống nhất và bảo vệ Tổ quốc.
Hiến pháp mới là một Hiến pháp thực sự dân chủ
Hiến pháp mới là sức mạnh động viên nhân dân cả nước ta phân khởi
tiến lên giành những thắng lợi mới. Nhân dân ta
quyết phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, chí khí đầu tranh và nhiệt tình lao động. Nhân dân ta
quyết tăng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí với các nước anh em
trong phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô vĩ
đại, tăng cường đoàn kết với nhân dân các nước á Phi và nhân dân
yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
Dưới sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt
trận dân tộc thống nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và thực hiện thống nhất nước nhà. Nhân dân ta nhất định xây
dựng thành công một nước Việt Nam hoà bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào
công cuộc bảo vệ hoà bình ở Đông Nam châu á và thế
giới.
CHƯƠNG I
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Điều 1
Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất
không thể chia cắt.
Điều 2
Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, thành lập và củng
cố do thắng lợi mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong Cách
mạng tháng Tám vẻ vang và kháng chiến anh dũng, là
một nước dân chủ nhân dân.
Điều 3
Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà là một nước thống
nhất gồm nhiều dân tộc.
Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình
đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có nhiệm vụ gìn giữ và phát
triển sự đoàn kết giữa các dân tộc. Mọi hành vi
khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm.
Các dân tộc có quyền duy trì hoặc sửa đổi phong
tục, tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hoá dân tộc của
mình.
Những địa phương có dân tộc thiểu số sống tập
trung thì có thể thành lập khu vực tự trị. Khu vực tự trị là bộ phận không
thể tách rời được của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà.
Nhà nước ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số mau
tiến kịp trình độ kinh tế và văn hoá chung.
Điều 4
Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình
thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp và các cơ
quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.
Điều 5
Việc tuyển cử đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng Nhân dân các cấp đều tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng Nhân dân
các cấp có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra
không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Điều 6
Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân
dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân,
lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.
Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải
trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp
luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Điều 7
Nhà nước nghiêm cấm và trừng trị mọi hành động
phản quốc, chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại sự nghiệp
thống nhất Tổ quốc.
Điều 8
Lực
lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà là của nhân dân, có nhiệm vụ
bảo vệ thành quả của cách mạng,
bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an
ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà
bình của nhân dân.
CHƯƠNG II
CHẾ ĐỘ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
Điều 9
Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà tiến dần từ chế độ
dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải
tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến
nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công
nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật
tiên tiến.
Mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là không ngừng phát triển sức sản xuất
nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân
dân.
Điều 10
Nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế
hoạch thống nhất.
Nhà nước dựa vào các cơ quan Nhà nước, tổ chức
công đoàn, hợp tác xã và các tổ chức khác của nhân dân lao động để
xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh tế.
Điều 11
ở nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ
quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là:
hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân,
hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của
nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao
động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
Điều 12
Kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của
toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà
nước bảo đảm phát triển ưu tiên.
Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây, đất
hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều
thuộc quyền sở hữu của toàn dân.
Điều 13
Kinh tế hợp tác xã thuộc hình thức sở hữu tập thể
của nhân dân lao động.
Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp
đỡ sự phát triển của kinh tế hợp tác xã.
Điều 14
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu
về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ nông dân cải
tiến kỹ thuật canh tác, phát triển sản xuất, và khuyến khích nông dân
tổ chức hợp tác xã sản xuất, hợp tác xã mua bán và
hợp tác xã vay mượn theo nguyên tắc tự nguyện.
Điều 15
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu
về tư liệu sản xuất của những người làm nghề thủ công và những
người lao động riêng lẻ khác.
Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ những người
làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác cải tiến cách
làm ăn và khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản
xuất và hợp tác xã mua bán theo nguyên tắc tự nguyện.
Điều 16
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu
về tư liệu sản xuất và của cải khác của nhà nước tư sản dân tộc.
Nhà nước ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc
hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế
quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước.
Nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi
theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình
thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác.
Điều 17
Nhà nước nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tư hữu
để làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế
Nhà nước.
Điều 18
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của
cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở các thứ vật dụng
riêng khác.
Điều 19
Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa
kế tài sản tư hữu của công dân.
Điều 20
Chỉ khi nào cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước
mới có trưng mua, hoặc trưng dụng, trưng thu có bồi thường thích đáng
các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn, trong
phạm vi và điều kiện do pháp luật quy định.
Điều 21
Lao động là cơ sở để phát triển kinh tế quốc dân
và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
Lao động là nghĩa vụ và vinh dự của người công
dân.
Nhà nước
khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần tích cực trong lao động của những người
lao động chân tay và lao động
trí óc.
CHƯƠNG
III
QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Điều 22
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà đều bình
đẳng trước pháp luật
Điều 23
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, không
phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín
ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề
nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử,
từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử,
trừ những người mất trí và những người bị toà án hoặc pháp luật tước
quyền bầu cử và ứng cử.
Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và
ứng cử.
Điều 24
Phụ nữ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội và gia đình.
Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương
ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và
phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà
vẫn hưởng nguyên lương.
Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ
em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ.
Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.
Điều 25
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có các
quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà
nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để
công dân được hưởng các quyền đó.
Điều 26
Công dân nớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Điều 27
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được bảo đảm. Không ai có thể bị
bắt nếu không có sự quyết định của
Toà án Nhân dân
hoặc sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát Nhân dân.
Điều 28
Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật.
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
tự do cư trú và đi lại.
Điều 29
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những
hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước.
Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh
chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của
nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường.
Điều 30
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
làm việc. Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh
tế quốc dân, dần dần mở rộng công việc làm, cải
thiện điều kiện lao động và lương bổng, để bảo đảm cho công dân được
hưởng quyền đó.
Điều 31
Người lao động có quyền nghỉ ngơi. Nhà nước quy
định thời giờ làm việc và chế độ nghỉ ngơi của công nhân và viên
chức, mở rộng dần những điều kiện vật chất về nghỉ
ngơi và an dưỡng, để bảo đảm cho người lao động được hưởng
quyền đó.
Điều 32
Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất
khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần
các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để bảo
đảm cho người lao động được hưởng quyền đó.
Điều 33
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng
bách, phát triển dần các trường học và cơ quan văn
hoá, phát triển các hình thức giáo dục bổ túc văn hoá, kỹ thuật,
nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức
khác ở thành thị và nông thôn, để bảo đảm cho công dân được hưởng
quyền đó.
Điều 34
Công dân nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà có quyền
tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật, và tiến
|