HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP 1992
1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1992
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống hoà bình, ấm
no, hạnh phúc cho nhân dân đã trải qua nhiều thử thách, gian nan. Trong hoàn
cảnh đó lịch sử lập hiến Việt Nam
cũng có những bước thăng trầm nhất định. Đánh giá thật khách quan, chính xác,
đúng đắn hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và quốc tế đã ảnh
hưởng đến lịch sử lập hiến Việt Nam
là một việc làm cần thiết. Vì nếu không hiểu quá khứ thì không thể hiểu được
hiện tại và không thể định hướng được tương lai.
Hiến pháp 1980 ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang chan hoà khí thế
lạc quan của cuộc đại thắng mùa Xuân 1975; tưtưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội
đã xuất hiện; không kịp thời khắc phục cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong
thời chiến. Hiến pháp 1980 đã không tránh khỏi những nhược điểm nhất định.
Đại hội lần thứ V của Đảng đã nêu ra và vạch rõ phương hướng khắc
phục những sai lầm và nhược điểm đó. Đường lối kinh tế coi công nghiệp hoá là
trung tâm của thời kỳ quá độ (Điều 16) về cơ bản là đúng. Nhưng do tưtưởng nóng
vội, xuất phát từ tưtưởng muốn đi nhanh, không tính đến khả năng thực tế, nên
chủ trương "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng"; bởi vậy, trong thực tế, chúng
ta thiên về xây dựng những công trình công nghiệp nặng và với quy mô lớn. Không
coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Không tập trung sức giải quyết vấn đề
lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Nhiều quy định vượt quá
điều kiện kinh tế xã hội cho phép như"Học
không phải trả học phí" (Điều 60) "Khám bệnh không phải mất tiền" (Điều 61).
Do chịu ảnh hưởng của Hiến pháp Liên Xô 1977 và quan niệm giáo điều
về nền tảng kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu về tưliệu
sản xuất nên Hiến pháp 1980 quy định về cải tạo các thành phần kinh tế phi xã
hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tưliệu sản
xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: Thành
phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã
thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động (Điều 18). Một số quy định của Hiến
pháp đã cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước như"Nhà
nước giữ độc quyền về ngoại thương và mọi quan hệ kinh tế khác với nước ngoài" (Điều
21), "Những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tưsản mại bản đều bị quốc
hữu hoá không bồi thường" (Điều 25).
Trong thực tế, quan niệm coi việc giải quyết xong vấn đề sở hữu thì
coi nhưcăn
bản hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa là một sai lầm, phải trả giá.
Bởi vậy, Đại hội VI và các đại hội sau này đều coi cải tạo xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ lâu dài suốt cả thời kỳ quá độ, phải trải qua những bước đi, những hình
thức trung gian thích hợp. Một thực tế nữa là: Khi chủ trương làm cho kinh tế xã
hội chủ nghĩa chiếm ưu thế, không có nghĩa là phải nhanh chóng xoá bỏ tất cả
thành phần kinh tế khác. Trong khi chúng ta tích cực xây dựng các thành phần
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, làm cho chúng đóng vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế, thì các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhưkinh tế tiểu sản
xuất hàng hoá, kinh tế tưbản tưnhân vẫn tồn tại có mức độ và có sự quản lý Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là một tồn tại khách quan. Về tổ chức
bộ máy Nhà nước, sau một thời gian kiểm nghiệm bằng thực tế nhiều thiết chế Nhà
nước tỏ ra kém hiệu quả, chế độ thẩm phán bầu không đảm bảo được tính ổn định và
phẩm chất nghề nghiệp của thẩm phán. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà
nước chưa được phân định rõ ràng. Vai trò của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng -
người đứng đầu Chính phủ, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất chưa được nổi bật
vì có rất ít thẩm quyền. Chế định Chủ tịch tập thể làm cho các quyết định của cơ
quan này chậm chạp, không nhanh nhạy với những thay đổi của đời sống xã hội và
khó khăn trong việc ngoại giao.
Tóm lại, sau một thời gian có hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp
1980 tỏ ra không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước. Tình hình
thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải có một bản Hiến pháp mới, phù hợp hơn để
thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra một thời kỳ đổi
mới ở đất nước ta. Đảng đã chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những
thiếu sót sai lầm của Đảng, của Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát
huy tưduy độc lập, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động trên cơ sở đó để
có những nhận thức mới đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và vạch ra những chủ trương,
chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và
văn minh.
Với đường lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng
ta đã đạt được những thành tựu nhất định, khắc phục được một bước rất quan trọng
tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực kinh tế , Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng một
nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách này nhằm khai thác mọi khả năng
tiềm tàng của đất nước, khơi dậy năng lực trí tuệ, sáng tạo trong các tầng lớp
nhân dân lao động, khắc phục cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Thực chất của
bước chuyển đổi kinh tế là cuộc cải cách cấu trúc lại nền kinh tế, bắt đầu từ sở
hữu:
a) Mở đầu quá trình cấu trúc lại kinh tế là những chính sách quan
trọng, đột phá về nông nghiệp. Tháng 4-1988, Bộ Chính trị (Khoá VI) ra Nghị
quyết 10. Theo Nghị quyết này xã viên hợp tác xã chỉ còn nghĩa vụ nộp thuế cho
Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng. Sản phẩm còn lại được tự do lưu
thông, được bán lúc nào, nơi nào có lợi nhất. (Trước đây Nhà nước thu mua theo
giá quy định). Nhờ chính sách này mà thu nhập bình quân của nông dân tăng lên
đáng kể. Tốc độ thu nhập bình quân của nông dân từ năm 1987 trở về trước là
1,18%, nhưng chỉ hai năm 1988-1989 tốc độ này đã tăng lên 4,5%. Chỉ sau một năm
khi Nghị quyết 10 của Đảng được thực hiện sản lượng lương thực đã tăng từ 19,583
triệu tấn (năm 1988) lên 21,439 triệu tấn (năm 1989). Từ năm 1988 đến năm 1990,
diện tích gieo trồng tăng 3,9%1 . Trong nông thôn, số hộ nghèo đói năm 1990 là
34,4%, đến năm 1992, đã giảm xuống 19,6%2 .
b) Bên cạnh đổi mới chính sách nông nghiệp, Đảng ta chủ trương đổi
mới chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp Nhà nước. Đó là chính sách chuyển từ
cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, xác lập quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước:
Từ năm 1987, các xí nghiệp quốc doanh chuyển sang hạch toán kinh doanh. Ngày 14-11-1987, Hội đồng Bộ trưởng ban
hành Quyết định 217-HĐBT về đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội
chủ nghĩa. Ngày 2-12-1989,
Hội đồng Bộ trưởng lại ban hành quyết định về những quy định bổ sung Quyết định
217-HĐBT chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Những quyết định này đã chấm dứt tình trạng người
lao động thờ ơ với tưliệu sản xuất, thờ ơ với nhu cầu thị trường và sự tiêu thụ
sản phẩm.
c) Chính sách quan trọng thứ ba trong việc đổi mới nền kinh tế của
đất nước là xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước.
Trước cải cách năm 1988, doanh nghiệp ngoài quốc doanh không được
chấp nhận. (Trừ các doanh nghiệp hợp doanh với Nhà nước). Từ năm 1988, các công
ty tưnhân bắt đầu hình thành. Các công ty tưnhân có nhiều hình thức: Công ty do
một tưnhân làm chủ gọi là doanh nghiệp tưnhân, một số tưnhân làm chủ gọi là công
ty trách nhiệm hữu hạn; hoặc bằng cổ phiếu gọi là công ty cổ phần; hoặc công ty
theo hình thức hợp tác xã. Năm 1990 đã có 340 công ty tưnhân được thành lập; năm
1991 có 163 và năm 1992 có 1.868 công ty tưnhân được thành lập.
d) Chính sách quan trọng thứ tưtrong việc đổi mới nền kinh tế của
đất nước là chính sách kinh tế mở cửa với nước ngoài.
Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế ở nước ta là
nền kinh tế khép kín. Vấn đề xuất khẩu không được Nhà nước quan tâm, không có
đầu tưnước ngoài, không hoà nhập được với kinh tế thế giới. Với chính sách kinh
tế mở cửa năm 1991, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 2,08 tỷ USD . Thực hiện
chính sách thu hút đầu tưnước ngoài vào Việt
Nam. Ngày 29-12-1987, Quốc hội đã thông qua "Luật
đầu tưnước ngoài tại Việt
Nam". Tiếp đó, ngày 30-6-1990,
lại thông qua, "Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đầu tưnước ngoài tại
Việt Nam" nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc thu hút đầu tưcủa nước
ngoài vào nước ta. Ví dụ, khu vực nội địa trả thuế lợi tức doanh nghiệp là 25%
đến 45% trong khi đó doanh nghiệp nước ngoài chỉ trả 10% đến 25%. Hơn nữa khu
vực nước ngoài lại được hưởng 1 năm đến 4 năm miễn thuế và sau đó 1 đến 4 năm
giảm thuế 50%. Nhờ chính sách này mà sự đầu tưnước ngoài vào Việt Nam ngày một
gia tăng.
Nhờ những chính sách cải cách kinh tế nói trên mà tốc độ phát triển
kinh tế của nước ta từ năm 1986 đến năm 1990 là 4,9% và tốc độ lạm phát giảm từ
775% - năm 1986 xuống 17,5% - năm 19922 .
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế vẫn còn nhiều mặt
yếu, kém và những khó khăn lớn phải khắc phục. Sự tăng trưởng và phát triển nền
kinh tế đã có nhưng chưa vững chắc. Kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi phải có sự
xác định về mặt pháp lý vị trí, vai trò và sự bình đẳng của chúng trước pháp
luật. Trong quản lý kinh tế còn nhiều sơ hở, pháp luật còn thiếu sự đồng bộ, còn
mâu thuẫn chồng chéo và thiếu sự ổn định tương đối. Nạn tham nhũng và buôn lậu
vẫn tiếp tục hoành hành.
Trong lĩnh vực cải cách bộ máy Nhà nước, hoàn thiện hệ thống chính
trị và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ VI cũng đã
đề ra những định hướng nhất định. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng tại Đại hội đã chỉ rõ: "Để thiết lập cơ chế quản lý mới cần thực hiện một
cuộc cải cách lơn về tổ chức bô máy của các cơ quan Nhà nước" . Về vấn đề này
đồng chí Đỗ Mười đã viết: "Cần phải đổi mới căn bản tổ chức và phương thức hoạt
động của bộ máy Nhà nước ta cũng
nhưcủa toàn bộ hệ thống chính trị xã hội. Đổi mới căn bản không có nghĩa là thay
đổi bản chất của Nhà nước ta, mà chính là làm cho nó thể hiện ngày càng đầy đủ
bản chất dân chủ, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, thực hiện tốt nhiệm vụ
xây dựng xã hội mới. Đổi mới căn bản có nghĩa là không những phải xác định lại
chức năng, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy Nhà nước, mà còn phải đổi
mới toàn bộ cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của chúng, đảm bảo cho Nhà nước
thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, quản lý kinh tế - xã hội có hiệu
quả; hoạt động trên cơ sở pháp luật và thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp
luật".
- Việc cải cách bộ máy Nhà nước được xác định bằng phương hướng cơ
bản: quán triệt yêu cầu dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, tìm tòi
những thiết chế mới bảo đảm thực hiện được nguyên tắc "quyền lực Nhà nước thuộc
về nhân dân".
Một Nhà nước thực sự dân chủ là Nhà nước thể hiện được quyền lực của
nhân dân, bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền tự do dân chủ của nhân dân. ở
nước ta, nhân dân thực hiện quyền lực của mình chủ yếu thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp. Vì vậy, phải nhận thức đúng vị trí, vai trò của Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp; cần phải thay đổi tổ chức và hoạt động của các cơ
quan này bảo đảm cho chúng thực sự là cơ quan đại diện cho quyền lực của nhân
dân. Để Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có đủ năng lực thực hiện vai trò,
chức năng của mình, phải xây dựng cơ chế bầu cử thật sự dân chủ, bảo đảm chọn
được những đại biểu xứng đáng bầu vào các cơ quan này. Việc giới thiệu người ra
ứng cử phải làm từ dưới lên, phổ biến tuyên truyền rộng rãi tiêu chuẩn và yêu
cầu đối với người được giới thiệu ra ứng cử, nhưng phải tôn trọng ý kiến của
nhân dân, không gò ép .
- Yêu cầu dân chủ trong thiết chế, tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà
nước còn đòi hỏi phải xây dựng đúng đắn mối quan hệ giữa các hệ thống cơ quan
Nhà nước lập pháp, hành pháp, tưpháp và mối quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước
trung ương với chính quyền địa phương, nhằm đảm bảo sự tập trung thống nhất
quyền lực Nhà nước, đồng thời bảo đảm cho các hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập
trong việc thực hiện chức năng của mình, bảo đảm cho chính quyền địa phương, cơ
sở chủ động, sáng tạo và toàn quyền quản lý trên lãnh thổ. Khác với các Nhà nước
tưsản, nơi mà bộ máy Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực,
các quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp được trao cho ba hệ thống cơ quan khác
nhau, độc lập, chế ngự và đối trọng lẫn nhau. Nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ
chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực: "Trong Nhà nước xã hội chủ
nghĩa mọi cơ quan bắt nguồn từ cơ quan quyền lực, nhận quyền lực từ nó và chịu
sự kiểm tra, giám sát của nó. Hơn nữa, cần phải nhận thức rằng, các cơ quan hành
pháp và tưpháp thực hiện chức năng của mình đều nhân danh quyền lực Nhà nước bảo
đảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện thống nhất trên các lĩnh vực này.
Nhưvậy, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, có quyền lập pháp và
kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp và tưpháp. Mặt khác, cũng cần
nhận thức rằng, để Nhà nước hoạt động có hiệu quả phải có thiết chế tổ chức và
cơ chế hoạt động sao cho vừa bảo đảm được sự tập trung thống nhất quyền lực, vừa
có sự phân công, phân biệt rõ ràng về mặt chức năng giữa các hệ thống cơ quan
Nhà nước; đồng thời phải có cơ sở pháp lý và tổ chức bảo đảm cho mỗi hệ thống cơ
quan độc lập và chủ động trong việc thực hiện chức năng của mình, không có sự
lấn át giữa cơ quan này với cơ quan khác".
- Yêu cầu dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước đòi hỏi
Nhà nước phải thể chế hoá một cách đầy đủ các quyền tự do dân chủ cũng nhưcác
nghĩa vụ của công dân vào Hiến pháp và tạo điều kiện để mọi thành viên trong xã
hội có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế.
- Cùng với việc đổi mới chế độ kinh tế, cải cách bộ máy Nhà nước,
vấn đề hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa cũng là vấn đề đặc biệt
quan trọng. Cần phải phân định chức năng của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý của Nhà
nước. "Thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn của một
Đảng vững mạnh, kiên cường là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho mọi thắng lợi của
cách mạng. Tuy nhiên trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, sự phân định
chức năng của Đảng và Nhà nước ngày càng trở nên cấp thiết. Sự lẫn lộn chức năng
giữa Đảng và Nhà nước dẫn đến tình trạng Đảng vừa bao biện làm thay vừa buông
trôi, khoán trắng cho Nhà nước làm cho Nhà nước khó phát huy vai trò của mình".
Đảng là lực lượng lãnh đạo chính trị, nhưng vai trò đó trong giai đoạn giành
được chính quyền thể hiện khác với giai đoạn chưa giành được chính quyền. Trong
quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền Đảng định ra đường lối
chiến lược, sách lược đấu tranh đồng thời Đảng là bộ chỉ huy, bộ tham mưu của
cuộc đấu tranh đó. Đảng trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng đấu tranh chính
trị, đấu tranh vũ trang. Khi đã giành được chính quyền Đảng không thể lãnh đạo
chính quyền, lãnh đạo xã hội với tưcách là trung tâm điều hành trực tiếp
nhưtrước. Không thể hiểu một cách giản đơn và siêu hình rằng, "Đảng cầm quyền có
nghĩa là Đảng trực tiếp quyết định mọi việc của Nhà nước có thể lấy nghị quyết,
chỉ thị của Đảng thay cho pháp luật của Nhà nước, cơ quan Đảng là cấp trên của
cơ quan Nhà nước" , v.v..
- Cùng với việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách bộ máy Nhà nước, hoàn thiện hệ thống chính
trị; mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đại
hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã hoạch định một đường lối đối ngoại
rộng mở. Đó là thiết lập các quan hệ hoà bình, hợp tác, hữu nghị với tất cả các
nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi.
Với tinh thần của Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI, Quốc hội khoá
VII, tại Kỳ họp thứ 3 ngày 22-12-1988 đã ra nghị quyết sửa đổi lời nói đầu,
không chỉ rõ đích danh thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bành trướng Trung Quốc cho
phù hợp với quan hệ đối ngoại tốt đẹp đang mở ra giữa ta với nước Cộng hoà Pháp,
hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Ngày 30-6-1989, Kỳ họp thứ
5, Quốc hội khoá VIII ra Nghị quyết sửa đổi 7 điều: 57, 115, 116, 118, 122, 123,
125, để xác định thêm quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân của công dân
và thành lập thêm Thường trực Hội đồng nhân dân trong cơ cấu của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp huyện, quận, thành phố
thuộc tỉnh, thị xã đồng thời củng cố thêm các mặt hoạt động của Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân. Đồng thời trong kỳ họp này Quốc hội đã ra Nghị quyết
thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp để sửa đổi Hiến pháp một cách cơ bản, toàn
diện, đáp ứng yêu cầu của tình hình kinh tế - xã hội mới, đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế. Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập bao gồm 28 người do Chủ
tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch. Uỷ ban dự thảo Hiến pháp đã họp
nhiều phiên để chỉnh lý, bổ sung và thông qua toàn văn dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
Cuối năm 1991 đầu năm 1992, bản dự thảo Hiến pháp lần thứ ba đã được
đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân
dân và ý kiến của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương, dự thảo Hiến pháp lần 4
đã hoàn thành và được trình Quốc hội khoá VIII, tại Kỳ họp thứ 11 xem xét. Sau
nhiều ngày thảo luận sôi nổi với những chỉnh lý, bổ sung nhất định, ngày
15-4-1992, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp. Việc soạn thảo và ban hành
Hiến pháp 1992 là một quá trình thảo luận dân chủ và chắt lọc một cách nghiêm
túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về tất cả các vấn đề từ quan
điểm chung đến các vấn đề cụ thể. Bản Hiến pháp này là bản Hiến pháp của Việt
Nam trong tiến trình đổi mới. Đúng nhưnhận xét của đồng chí Đỗ Mười Tổng Bí
thưBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Hiến pháp 1992 là "sản phẩm
trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước".
2. Nội dung cơ bản của Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 gồm Lời nói đầu và 147 điều chia làm 12 chương:
Chương I- Chế độ chính trị; Chương II- Chế độ kinh tế; Chương III- Văn hoá, giáo
dục, khoa học, công nghệ; Chương IV- Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
Chương V- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Chương VI- Quốc hội; Chương
VII- Chủ tịch nước; Chương VIII- Chính phủ; Chương IX- Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân; Chương X- Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, Chương XI-
Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô ngày Quốc Khánh; Chương XII- Hiệu lực của
Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp.
Lời nói đầu của Hiến pháp 1992 về cơ bản cũng giống nhưlời nói đầu
của các Hiến pháp trước, ghi nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam và xác
định những nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Trong lời nói đầu cũng xác
định những vấn đề cơ bản mà Hiến pháp sẽ quy định.
Chương I- Chế độ chính trị cũng bao gồm 15 điều (từ
Điều 1 đến Điều 14) nhưHiến pháp 1980. Tại chương này Hiến pháp cũng xác định
những nguyên tắc cơ bản của tổ chức quyền lực chính trị của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Đó là quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp công dân và tầng lớp trí thức (Điều 2). Vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam (Điều 4);
Nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc (Điều 5); Nguyên tắc tập trung
dân chủ (Điều 6); Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp là bỏ phiếu kín (Điều 7). Khác
với Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1992 không dùng thuật ngữ "Nhà nước chuyên chính vô
sản" mà dùng thuật ngữ "Nhà nước của dân, do dân, vì dân". Việc thay đổi thuật
ngữ này không làm thay đổi bản chất của Nhà nước mà chỉ để làm rõ hơn bản chất "của
dân, do dân và vì dân" của Nhà nước ta, phù hợp hơn với chính sách đoàn kết các
dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và phù hợp hơn với xu thế của quốc tế và thời
đại. Bởi vì "Nhà nước của dân, do dân vì dân" đã trở thành một thuật ngữ phổ
biến trong Hiến pháp của các Nhà nước có hình thức chính thể cộng hoà dân chủ
trên thế giới.
Đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp 1992 quy
định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của nó là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân. Theo quy định của Hiến pháp 1992, Mặt trận có nhiệm vụ
phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và
tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân,
cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân
dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật giám
sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà
nước (Điều 9).
Khác với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 quy định đường lối đối ngoại
mở rộng. Theo quy định của Hiến pháp mới, nước ta thực hiện chính sách hoà bình,
hữu nghị, mở rộng giao lưu hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân
biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và
quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng. Tích cực
ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chính sách đối ngoại rộng mở đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi để nước ta có thể hoà nhập được vào trào lưu chung của
văn minh thế giới và phù hợp với xu hướng Quốc tế hoá rất cao của lực lượng sản
xuất thế giới, phù hợp với nền văn minh tin học, nền văn minh công nghiệp của
loài người. Chính sách đối ngoại đúng đắn và phù hợp với thời đại của Hiến pháp
1992 đã làm tiền đề cho những thắng lợi to lớn của nước ta trong lĩnh vực hợp
tác kinh tế với nước ngoài.
Chương II- Chế độ kinh tế, bao gồm 15 điều (từ Điều
15 đến Điều 29) có thể nói rằng đây là chương được thay đổi một cách cơ bản nhất,
thể hiện rõ nhất quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.
Theo quy định tại Điều 15 đường lối phát triển kinh tế của nhà nước
ta là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích chính sách
kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực
sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế. Kinh tế quốc doanh,
kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tưbản tưnhân và kinh tế tưbản Nhà nước
dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mở rộng hợp
tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới (Điều 16).
Nhưvậy với Hiến pháp 1992, chúng ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế Nhà nước và
kinh tế tập thể sang nền kinh tế hàng hoá - thị trường, với nhiều thành phần
kinh tế: Nhà nước, tập thể, cá thể, tưbản tưnhân và tưbản nhà nước.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến Việt Nam, Hiến pháp quy định: "Kinh
tế cá thể, kinh tế tưbản tưnhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh,
được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những
ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh" (Điều 21); Doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và
ngoài nước theo quy định của pháp luật (Điều 22). Nhưvậy, Hiến pháp đã xác định
sự bình đẳng của các thành phần kinh tế trước pháp luật.
Nếu Hiến pháp 1980 quy định việc quốc hữu hoá không bồi thường những
cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tưsản mại bản thì trái lại Hiến pháp
1992 quy định việc Nhà nước bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của các cơ sở sản
xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế (Điều 22). Hơn nữa, Nhà nước còn
khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tưvốn, công nghệ vào Việt Nam
và đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của
các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài cũng
nhưtài sản hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác không bị quốc hữu hoá (Điều
23, 25). Về vấn đề sở hữu đất đai, cũng nhưtrước đây Hiến pháp 1992 quy định đất
đai thuộc quyền sở hữu Nhà nước. Tuy nhiên, Hiến pháp mới quy định thêm về quyền
sử dụng đất lâu dài đối với người được giao và được chuyển quyền sử dụng đó theo
định của Pháp luật (Điều 18).
Chương III- Văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ,
bao gồm 14 điều (từ Điều 30 đến Điều 43).
Bên cạnh việc xác định đường lối bảo tồn và phát triển nền văn hoá
Việt Nam mang bản sắc dân tộc, hiện đại, nhân văn, kế thừa và phát huy những giá
trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tưtưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy mọi tài năng sáng tạo trong
nhân dân, Hiến pháp còn xác định "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu" (Điều
35). Có thể nói rằng Hiến pháp 1992 đánh dấu một cái mốc quan trọng trong chính
sách giáo dục và đào tạo của Nhà nước ta, thể hiện đúng tưtưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh "vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người".
Chương IV- Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
bao gồm 5 điều (từ Điều 44 đến Điều 48).
Về cơ bản chương này giống nhưHiến pháp 1980 là xác định đường lối
quốc phòng toàn dân. Tuy nhiên, Hiến pháp 1992 còn quy định bổ sung thêm về
nhiệm vụ xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại, dựa vào dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 47).
Chương V- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
bao gồm 34 điều (từ Điều 49 đến Điều 82). So với Hiến pháp 1980 có nhiều điều
hơn, nhiều quyền và nghĩa vụ được bổ sung và sửa đổi. Khắc phục thiếu sót của
các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1992 lần đầu tiên quy định "các quyền con
người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng" (Điều
50). ở nước ta, ngoài công dân Việt Nam và công dân nước ngoài đến làm việc,
sinh sống ở Việt Nam, còn có người không có quốc tịch. Với quy định trên đây
người không có quốc tịch cũng được Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của họ.
Với Hiến pháp 1992, lần đầu tiên quyền tự do kinh doanh của công dân
được xác lập (Điều 57). Đây là một trong những chìa khoá quan trọng để mở cánh
cửa tự do trong lĩnh vực hoạt động kinh tế của công dân, xây dựng một xã hội dân
giàu, nước mạnh. Cùng với quyền tự do kinh doanh, công dân còn có quyền sở hữu "về
tưliệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh
tế khác" (Điều 58). Những quy định này hơn bao giờ hết tạo điều kiện thuận lợi
để công dân Việt Nam xây dựng một cuộc sống cho bản thân mình giàu có, thịnh
vượng. Trên cơ sở đó mà đồng thời làm giàu cho Nhà nước và xã hội. Ngoài các quy
định nói trên còn có quy định về quyền "được thông tin" là một quyền mới được
xác lập trong Hiến pháp 1992. Quyền này được hiểu là quyền được nhận tin và
truyền tin theo quy định của pháp luật.
Ngoài việc thiết lập các quyền mới, Hiến pháp còn sửa đổi một số quy
định về quyền của công dân không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước và không thể thực hiện được trong thực tiễn. Nếu Hiến pháp 1980 quy định
học không phải trả học phí và khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền thì Hiến
pháp 1992 sửa đổi lại "bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí" (Điều
59) và "công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ. Nhà nước quy định
chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí" (Điều 61).
Hiến pháp 1980 quy định "Công dân có quyền có nhà ở" (Điều 62);
Quyền này trên thực tế cũng không thực hiện được nên Hiến pháp 1992 sửa lại "Công
dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật (Điều 62). Hiến pháp
1992 còn khôi phục lại một số quyền đã quy định trong Hiến pháp 1946 nhưng về
sau do hoàn cảnh chính trị - lịch sử mà chúng ta đã hạn chế. Đó là "Quyền ra
nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật" (Điều 68). Một
số quyền trước đây chỉ quy định trong Bộ luật hoặc Luật nay đã đưa vào quy định
cả trong Hiến pháp để đề cao hơn nữa tính hiệu lực của pháp luật, nhưĐiều 72,
Hiến pháp 1992 quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi
chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật".
Chương VI- Quốc hội, bao gồm 18 điều (từ Điều 83
đến Điều 100). Cũng nhưHiến pháp 1980, chương này xác định vị trí, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Quốc hội về cơ bản nội dung quyền hạn
giống Hiến pháp 1980. Tuy nhiên, có một số bổ sung về quyền hạn của Quốc hội
nhưquyết định chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Quyết định trưng cầu ý dân
(Điều 84). Nhìn chung nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội thể hiện trên bốn lĩnh
vực:
- Lập hiến và lập pháp.
- Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
- Xây dựng củng cố và hoàn thiện bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
- Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ
máy Nhà nước.
Về cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo Hiến pháp 1992 có một số thay
đổi nhất định. Thể chế Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan cao nhất hoạt động
thường xuyên của Quốc hội vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được bãi bỏ, khôi phục lại chế định Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và
chế định Chủ tịch nước nhưHiến pháp 1959. Theo Hiến pháp 1992 Chủ tịch và các
Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời là Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội. Một số thành viên của các Hội đồng, các Uỷ ban của Quốc hội làm việc
theo chế độ chuyên trách (Điều 94, 95).
Đề cao hơn nữa vai trò của đại biểu Quốc hội, Hiến pháp 1992 quy
định rõ: "Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho
nhân dân cả nước" (Điều 97). So với Hiến pháp 1980 nhiệm vụ của đại biểu Quốc
hội được quy định cụ thể hơn: "Phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám
sát của cử tri; thu thập và phản ảnh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri
với Quốc hội và cơ quan hữu quan, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử
tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị
với cử tri, xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công
dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó" (Điều 97). Về trách
nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu
Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình, Hiến pháp 1980 chỉ quy định: "Các cơ quan
Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để đại biểu Quốc hội làm nhiệm
vụ đại biểu (Điều 97). Còn Hiến pháp 1992 quy định một cách cụ thể hơn; "Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, các thành viên khác của
Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần
thiết mà đại biểu yêu cầu và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại
biểu".
Chương VII- Chủ tịch nước, bao gồm 8 điều (từ Điều
101 đến Điều 108). Với Hiến pháp 1992 chế định Chủ tịch nước, cá nhân được khôi
phục lại thành một chế định riêng biệt nhưHiến pháp 1959.
So với chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959,
Hiến pháp 1980, chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1992 có nhiều điểm khác
biệt. Trước hết Chủ tịch nước trong Hiến pháp 1946 vừa là người đứng đầu Nhà
nước vừa là người đứng đầu Chính phủ nên quyền hạn rất lớn. Hiến pháp 1959 quy
định Chủ tịch nước chỉ đứng đầu Nhà nước chứ không đứng đầu Chính phủ. Nhưng
quyền hạn của Chủ tịch nước vẫn rất lớn: "Khi xét thấy cần thiết, có quyền tham
dự và chủ toạ các phiên họp của Hội đồng Chính phủ" (Điều 66), và khi xét thấy
cần thiết thì triệu tập và chủ toạ Hội nghị chính trị để xem xét những vấn đề
lớn của nước nhà (Điều 67). Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1980 không phải là cá
nhân mà là Chủ tịch tập thể. Thể chế Chủ tịch tập thể nhưđã nói ở phần trước, có
nhiều nhược điểm nhưkhông nhanh nhạy, không linh hoạt và khó khăn trong việc đối
ngoại. Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1992 quyền hạn không rộng nhưHiến pháp 1946
và 1959. Theo quy định của Hiến pháp 1992 Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà
nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại,
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước
chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội. Thẩm quyền của Chủ tịch nước
có thể chia làm 2 loại. Loại thẩm quyền thứ nhất là thẩm quyền độc lập do Chủ
tịch nước tự quyết định. Đó là các thẩm quyền sau đây:
- Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan, cấp cao trong các lực lượng vũ
trang nhân dân, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác; quyết định tặng
thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước.
- Bổ nhiễm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam, tiếp nhận
đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài, tiến hành đàm phán, ký kết Điều ước
quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu
Nhà nước khác; Quyết định phê chuẩn hoặc tham gia Điều ước quốc tế, trừ trường
hợp cần trình Quốc hội quyết định.
- Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt
Nam.
- Quyết định đặc xá.
- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ các chức vụ Chủ
tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh.
- Đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại Pháp lệnh, Nghị
quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về các vấn đề bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, về việc tuyên
bố tình trạng chiến tranh khi nhà nước bị xâm lược trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày Pháp lệnh hoặc Nghị quyết được thông qua. Nếu Pháp lệnh, Nghị quyết đó vẫn
được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không
nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định trong kỳ họp gần nhất.
- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ
tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao (Điều 103).
Loại thẩm quyền thứ hai là loại thẩm quyền mang tính thủ tục hành
chính và nghi thức. Đó là các thẩm quyền:
- Công bố Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh.
- Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên
khác của Chính phủ.
- Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại
xá.
- Căn cứ vào Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng
động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở
từng địa phương (Điều 103).
Chương VIII- Chính phủ, bao gồm 19 điều (từ Điều
109 đến Điều 117).
Cũng nhưHội đồng Chính phủ theo Hiến pháp 1959, Chính phủ theo Hiến
pháp 1992 được quy định là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính
Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu so sánh cả
bốn bản Hiến pháp của nước ta, chúng ta thấy quan niệm về tính chất của Chính
phủ có những thay đổi nhất định. Hiến pháp 1946 xây dựng Chính phủ theo mô hình
chính phủ tưsản nên không quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Nghị viện.
Hiến pháp 1980 xây dựng Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) theo mô hình của Hiến
pháp xã hội chủ nghĩa. Nhưng với quan điểm tập quyền "rắn" nghĩa là quyền lực
Nhà nước thống nhất tập trung vào Quốc hội. Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp và giám sát. Các cơ
quan Nhà nước khác do Quốc hội lập ra là để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
Quốc hội. Vì vậy, Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp hành của
Quốc hội và là cơ quan hành chính cao nhất của Quốc hội. Quy định này làm cho
Chính phủ thiếu tính độc lập tương đối trong lĩnh vực hoạt động hành chính Nhà
nước. Khắc phục nhược điểm này, Hiến pháp 1992 quay về với Hiến pháp 1959 xây
dựng theo quan điểm tập quyền "mềm" nghĩa là quyền lực Nhà nước vẫn tập trung
thống nhất nhưng cần phải có sự phân chia chức năng rành rọt giữa các cơ quan
Nhà nước lập pháp, hành pháp và tưpháp. Vì vậy, Hiến pháp 1992 quy định: "Chính
phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan
hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Với
quy định này Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của Nhà nước chứ
không phải của Quốc hội, có thể hoạt động một cách độc lập tương đối trong lĩnh
vực hành chính Nhà nước.
Với Hiến pháp 1992 chúng ta có thể thấy rằng những hạt nhân hợp lý
của thuyết phân chia quyền lực của John Locke và Charles Montesquieu đã được
chúng ta áp dụng1 .
Cách thức thành lập Chính phủ theo Hiến pháp 1992 hoàn toàn khác với
Hiến pháp 1980. Theo Hiến pháp 1980 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và các thành
viên khác của Chính phủ đều do Quốc hội bầu ra, còn theo Hiến pháp 1992 chỉ có
Thủ tướng Chính phủ là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của
Chủ tịch nước, còn các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác của
Chính phủ Quốc hội chỉ phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ1 . Nhưvậy,
Hiến pháp 1992 đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ trong việc thành lập Chính
phủ. Việc Hiến pháp trao cho Thủ tướng Chính phủ quyền được đề nghị bổ nhiệm các
thành viên của Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn (trình Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội phê chuẩn trong thời gian Quốc hội không họp) đồng thời còn có quyền đề nghị
miễn nhiệm, cách chức các thành viên của Chính phủ làm nổi bật vai trò của Thủ
tướng trong Chính phủ. Có thể nói rằng đây là phương pháp hữu hiệu để xây dựng
một chính quyền hành pháp mạnh mẽ.
Việc tăng cường vai trò của người đứng đầu Chính phủ còn thể hiện ở
việc tăng thêm nhiều quyền hạn cho Thủ tướng Chính phủ mà trước đây các Hiến
pháp 1959, 1980 không quy định. Đó là các thẩm quyền sau đây:
- Đề nghị thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, các cơ quan ngang Bộ.
- Phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những Quyết định, Chỉ thị,
Thông tưcủa Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị
của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương trái với Hiến pháp, Pháp luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên.
- Đình chỉ việc thi hành những Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương trái với Hiến pháp, Luật và các văn bản của cơ
quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ (Điều
114).
Chương IX- Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Chương này bao gồm 8 điều (từ Điều 118 đến Điều 125). Theo quy định của Hiến
pháp 1992 nước ta vẫn chia làm 3 đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; xã, phường, thị trấn1 (Điều
118). ở tất cả các đơn vị hành chính nói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân. Tính chất của Hội đồng nhân dân nhưcũ là cơ quan quyền lực Nhà
nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra, nhưng Hiến pháp mới nhấn mạnh
tính đại diện của Hội đồng nhân dân nên đã quy định rõ hơn: "Hội đồng nhân dân
là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm
trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên (Điều 119). Nhưvậy, có
thể thấy rằng tính chất của Hội đồng là tính quyền lực Nhà nước và tính đại diện
nhân dân. Hai đặc tính này của Hội đồng nhân dân kết hợp nhuần nhuyễn với nhau
làm cho Hội đồng nhân dân thực sự trở thành một cơ quan Nhà nước quan trọng bảo
đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Về cơ cấu tổ chức, Hiến pháp 1992 duy trì các quy định của Luật tổ
chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989, về thành lập Thường trực Hội
đồng nhân dân ở các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
và cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh. Trong tổ chức Hội đồng nhân dân còn
thành lập các Ban. Theo quy định của Hiến pháp 1992, quyền hạn của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân được tăng cường. Một số quyền hạn trước đây thuộc tập thể Uỷ ban
nhân dân, nay chuyển cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân: "Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có
quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của Uỷ ban nhân
dân cấp dưới, đình chỉ thi hành Nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp
dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những Nghị quyết đó (Điều
124). Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân do Quốc hội khoá IX (kỳ
họp thứ năm) thông qua ngày 21-6-1994 trên tinh thần Hiến pháp 1992 đã tăng
cường quyền lực cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Theo quy định tại Điều 52 của luật
này Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền điều động, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch,
Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi
nhiệm các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp.
Đề cao hơn nữa vai trò của các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng
trong quản lý Nhà nước và xã hội. Hiến pháp 1992 quy định Chủ tịch Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân địa phương được mời dự các
kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự Hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp
khi bàn các vấn đề có liên quan. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện
chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng
chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phối hợp với mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương (Điều 125).
Chương X - Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân,
bao gồm 15 điều (từ Điều 126 đến Điều 140).
Theo quy định tại Điều 126 nhiệm vụ của toà án nhân dân và Viện kiểm
sát nhân dân là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa
và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ
tính mạng, tài sản tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Có thể nói về nhiệm
vụ của Toà án và Viện kiểm sát nhân dân không có gì thay đổi.
Về tổ chức hệ thống cơ quan Toà án, Hiến pháp 1992 quy định "Toà án
nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà
án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Trong tình hình đặc biệt Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án
đặc biệt. Quy định này về tổ chức hệ thống toà án đã được cụ thể hoá bằng Luật
tổ chức toà án nhân dân 1992, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tổ chức
toà án nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1993, Pháp lệnh về tổ chức
Toà án quân sự năm 1993, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà
án nhân dân ngày 28-10-1995.
Theo quy định của các văn bản pháp luật trên đây ở nước ta có các
toà án sau đây:
Toà án nhân dân tối cao; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; các toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các
toà án quân sự; các toà án khác do luật định. Các toà án quân sự ở nước ta theo
Điều 2 Pháp lệnh tổ chức toà án quân sự bao gồm toà án quân sự Trung ương, các
toà án quân sự quân khu và tương đương, các toà án quân sự khu vực.
Trước năm 1992, trong hệ thống toà án nhân dân ở nước ta chỉ có toà
hình sự và toà dân sự. Các tranh chấp kinh tế do Trọng tài kinh tế giải quyết.
Sau khi ban hành Hiến pháp 1992, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tổ
chức toà án nhân dân ngày 28-12-1992 đã quy định: "Toà án nhân dân tối cao và
các toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập thêm toà
chuyên trách là toà án kinh tế để giải quyết tranh chấp kinh tế".
Theo quy định của Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua ngày
23-6-1994 và có hiệu lực thi hành ngày 1-1-1995, thì các tranh chấp lao động về
quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện
lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá
trình học nghề, nếu qua hoà giải hoặc Hội đồng trọng tài giải quyết mà không
thành, các bên có quyền yêu cầu toà án nhân dân giải quyết (Điều 164).
Theo quy định tại khoản 2 Điều 166 Bộ luật lao động, một số tranh
chấp lao động cá nhân có thể yêu cầu toà án nhân dân cấp huyện giải quyết, không
nhất thiết phải qua hoà giải cơ sở. Đó là những tranh chấp sau đây:
- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc
về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại cho người lao động.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 176 Bộ luật lao động thì việc kết
luận cuộc đình công hợp pháp hay không thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân.
Những quy định đó của Bộ luật lao động là tiền đề để thành lập thêm Toà lao động
trong hệ thống toà án nhân dân.
Việc giải quyết các khiếu kiện của dân đối với các quyết định hành
chính sai trái làm thiệt hại đến quyền lợi của dân cũng là một vấn đề bức xúc mà
xã hội đặt ra đối với tổ chức toà án. Trước tình hình đó Quốc hội một lần nữa đã
ban hành luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức toà án nhân dân. Theo
quy định của Luật sửa đổi thì cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao gồm:
Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tối
cao, Toà án quân sự Trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao
động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao.
Cũng theo quy định của luật sửa đổi cơ cấu tổ chức của toà án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Uỷ ban thẩm phán, Toà hình sự,
Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính.
Tóm lại: theo quy định của luật mới trong hệ thống tổ chức toà án
cấp Trung ương và cấp tỉnh còn có thêm toà lao động và hành chính để chuyển xét
xử các tranh chấp lao động và hành chính, ở cấp huyện có thẩm phán chuyên trách
xét xử tranh chấp lao động và khiếu kiện hành chính.
Sự khác nhau cơ bản giữa tổ chức toà án nhân dân theo Hiến pháp 1992
và Hiến pháp 1980 là: Hiến pháp 1980 thực hiện chế độ thẩm phán bầu, còn Hiến
pháp 1992 thực hiện chế độ thẩm phán bổ nhiệm. Dựa trên tinh thần của Hiến pháp,
Luật tổ chức toà án nhân dân 1992 đã quy định chỉ có Chánh án Toà án nhân dân
tối cao là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch
nước, còn tất cả các thẩm phán của toà án nhân dân các cấp kể cả Phó Chánh án
Toà án nhân dân tối cao và Chánh án, Phó Chánh án toà án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đều do
Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (Điều 38). Nhiệm kỳ bổ nhiệm của
các Thẩm phán là 5 năm. Còn đối với các Hội thẩm nhân dân thì kết hợp giữa chế
độ cử và chế độ bầu. Hội thẩm nhân dân toà án nhân dân tối cao do uỷ ban Thường
vụ Quốc hội cử theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội miễn nhiệm và bãi nhiệm. Hội
thẩm quân nhân Toà án quân sự Trung ương do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cử theo sự
giới thiệu của Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam và do Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm. Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương
do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban mặt trận Tổ quốc
cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm. Hội thẩm quân
nhân Toà án quân sự quân khu và tương đương do Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị quân
đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân
đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục Chính
trị quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Hội thẩm quân dân Toà án quân sự khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân
khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu
của cơ quan chính trị sưđoàn hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân
khu, quân đoàn, quân chủng, Tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm, bãi nhiệm
(Điều 39).
Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân tối cao và Hội thẩm
quân nhân là 5 năm, còn nhiệm kỳ Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương
theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp (Điều 39).
Về các nguyên tắc xét xử, Hiến pháp 1992 ghi nhận lại những nguyên
tắc đã quy định trong Hiến pháp 1980. Đó là các nguyên tắc: Việc xét xử của Toà
án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với
Thẩm phán; khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định Toà án nhân dân
xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo;
quyền của công dân thuộc các dân tộc khác nhau có thể dùng tiếng nói và chữ viết
của mình trước toà án (Điều 129, 130, 131, 132, 133).
Về Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp 1992 cũng xác định tính chất,
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhưtrước đây, nhưng về tổ chức và trách nhiệm
cũng có những thay đổi và bổ sung nhất định. Theo quy định của Hiến pháp và Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ban hành năm 1992 cụ thể hoá quy định của Hiến
pháp thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương thành lập Uỷ ban kiểm sát. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm
sát nhân dân tối cao gồm có: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, một số kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng cử và trình Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội phê chuẩn. Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương gồm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, một số kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Viện trưởng cử
và trình Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao phê chuẩn. Một số vấn đề
quan trọng trước đây do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
nay chuyển cho Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Uỷ ban kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương .
Ngoài quy định nói trên, Hiến pháp 1992 cũng nhưluật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân 1992 có quy định mới về việc "Viện trưởng các Viện kiểm sát
nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình
hình thi hành Pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng
nhân dân" (Điều 140).
Các quy định trên đây về Viện kiểm sát nhân dân cho chúng ta thấy
rằng: Hiến pháp 1992 một mặt vẫn đề cao chế độ làm việc theo nguyên tắc thủ
trưởng và trực thuộc một chiều để đề cao tính độc lập của Viện kiểm sát, mặt
khác phải kết hợp nguyên tắc này với chế độ bàn bạc tập thể khi Viện kiểm sát
quyết định những vấn đề quan trọng. Đồng thời Hiến pháp 1992 cũng xác định tính
chất giám sát của Quốc hội cũng nhưHội đồng nhân dân các cấp đối với hoạt động
của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương XI- Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày quốc khánh,
bao gồm 5 điều (từ Điều 141 đến Điều 145) chương này về cơ bản giữ nguyên các
quy định của các Hiến pháp trước đây, chỉ bổ sung thêm vào Hiến pháp năm 1992
việc quy định ngày Quốc khánh của nước ta là 2-9, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Chương XIII- Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp
là chương cuối cùng của Hiến pháp 1992 chỉ có 2 điều (Điều 146, 147). Nội dung
của chương này hoàn toàn giống quy định của Hiến pháp 1980.
Tóm lại, Hiến pháp 1992 đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lịch sử
lập hiến Việt Nam. Đây là bản Hiến pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ
đổi mới toàn diện và sâu sắc về kinh tế, từng bước và vững chắc về chính trị.
Đây là bản Hiến pháp kế thừa có chắt lọc những tinh hoa của các Hiến pháp 1946;
1959; 1980; đồng thời là bản Hiến pháp vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội
vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Hiến pháp 1992 đánh dấu sự phục hưng và phát
triển của nền tảng kinh tế của xã hội Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ XX.
Nó là tấm gương phản chiếu những đổi mới trong tưtưởng lập Hiến và lập Pháp của
con người Việt Nam, đó là bản Hiến pháp thể hiện sự độc lập và tự chủ trên tiến
trình phát triển của nền triết học pháp quyền Việt Nam, một nền triết học pháp
quyền thể hiện bản sắc dân tộc, đồng thời thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
tính dân tộc với tính quốc tế và hiện đại trên cơ sở phát triển những tinh hoa
của nền văn hoá pháp lý Việt Nam và sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá pháp lý
thế giới.
