Dân tộc Cơ Tu
Tên gọi khác
Ca Tu, Gao, Hạ, Phương, Ca-tang
Nhóm ngôn ngữ
Môn - Khmer
Dân số
37.000 người.
Cư trú
Cư trú tại các huyện Hiên, Giằng, (Quảng Nam - Đà Nẵng), A Lưới, Phú Lộc (Thừa
Thiên-Huế)
Đặc điểm kinh tế
Sinh sống trên vùng Trường Sơn hiểm trở, người Cơ Tu trồng cây lương thực theo
lối phát rừng làm rẫy, chọc lỗ tra hạt. Các hoạt động kinh tế khác gồm có chăn
nuôi, dệt, đan lát, hái lượm, đánh cá, săn bắn và trao đổi hàng hóa theo cách
vật đổi vật.
Tổ chức cộng đồng
Người Cơ Tu theo chế độ phụ hệ, con lấy họ theo cha, chỉ con trai mới được thừa
hưởng gia tài. Mỗi dòng họ người Cơ Tu đều có tên gọi riêng, người trong họ phải
kiêng cữ một điều nhất định. Có chuyện kể về lai lịch của dòng họ và sự kiêng cữ
đó. Lúc sống, dòng họ có trách nhiệm cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau, khi chết được
chôn cất bên nhau trong bãi mộ chung của làng. Làm nhà mồ, chung quanh mộ dựng
nhiều tượng gỗ, không có tục cúng giỗ, tảo mộ.
Hôn nhân gia đình
Theo tập tục Cơ Tu, khi người họ này đã lấy vợ họ kia, thì người họ kia không
được lấy vợ họ này, mà phải tìm ở họ khác.
Tập tục người Cơ Tu cho phép khi chồng chết, vợ có thể lấy anh em chồng, khi vợ
chết, chồng có thể lấy em hay chị vợ. Việc kết hôn thường mang tính gả bán, và
sau lễ cưới cô dâu đến ở nhà chồng. Chế độ một vợ một chồng phổ biến, nhưng cũng
có một số người khá giả lấy hai vợ.
Nhà cửa
Trong làng người Cơ Tu, các nếp nhà sàn tạo dựng theo hình vành khuyên hoặc gần
giống thế. Ngôi nhà rông cao, to, đẹp, hơn cả là nơi tiếp khách chung, hội họp,
cúng tế, tụ tập chuyện trò vui chơi.
Trang phục
Có cá tính riêng trong tạo hình và trang trí trang phục, khác các tộc người khác
trong khu vực, nhất là trang phục nữ. Đồ trang sức phổ biến là vòng tay, vòng cổ,
khuyên tai. Các phong tục xăm mặt, xăm mình, cưa răng, đàn ông búi tóc sau gáy
đã dần được loại bỏ.
+ Trang phục nam
Nam đóng khố, ở trần, đầu hoặc vấn khăn hoặc để tóc ngắn bình thường. Khố có các
loại bình thường (không trang trí hoa văn và ít màu sắc), loại dùng trong lễ hội
dài rộng về kích thước và trang trí đẹp với màu sắc và hoa văn trên nền chàm.
Mùa rét, họ khoác thêm tấm choàng dài hai, ba sải tay. Tấm choàng màu chàm và
được trang trí hoa văn theo nguyên tắc bố cục dải băng truyền thống với các màu
trắng đỏ, xanh. Người ta mang tấm choàng có nhiều cách : hoặc là quấn chéo qua
vai trái xuống hông và nách phải, thành vài vòng rồi buông thõng xuống trùm quá
gối. Lối khoác này tay và nách phải ở trên, tay và vai trái ở dưới hoặc quấn
thành vòng rộng từ cổ xuống bụng, hoặc theo kiểu dấu nhân trước ngực vòng ra
thân sau.
+ Trang phục
nữ
Phụ nữ Cơ Tu để tóc dài búi ra sau gáy, hoặc thả buông. Xưa họ để trần chỉ buộc
một miếng vải như chiếc yếm che ngực. Họ mặc váy ngắn đến đầu gối, màu lanh
khoác thêm tấm chăn. Họ thường mặc áo chui đầu khoét cổ, thân ngắn tay cộc. Về
kỹ thuật đây có thể là một trong những loại áo giản đơn nhất (trừ loại áo choàng
chỉ là tấm vải). Aáo loại này chỉ là hai miếng vải khổ hẹp gập đôi, khâu sườn và
trừ chỗ tiếp giáp phía trên làm cổ. Khi mặc cổ xòe ra hai vai thoạt tưởng như áo
cộc tay ngắn. Aáo được trang trí ở vai, ngực, sườn, gấu, với các màu đỏ, trắng
trên nền chàm. Váy ngắn cũng được cấu tạo tương tự như vậy : theo lối ghép hai
miếng vải khổ hẹp gập lại thành hình ống. Họ ưa mang các đồ trang sức như vòng
cổ, vòng tay đồng hồ (mỗi người có khi mang tới 5,6 cái), khuyên tai bằng gỗ,
xương, hay đồng xu, vòng cổ bằng đồng, sắt cũng như các chuỗi hạt cườm, vỏ sò,
mã não.. Nhiều người còn đội trên đầu vòng tre có kết nút hoặc những vòng dây
rừng trắng (rơnơk) và cắm một số loại lông chim. Một vài vùng có trục cưa răng
cho nam nữ đến tuổi trưởng thành khi đó làm tổ chức lễ đâm trâu. Ngoài ra người
Cơ Tu còn có tục xăm mình, xăm mặt.