Dân tộc Brâu
Tên
gọi khác
Brạo
Nhóm ngôn ngữ
Môn - Khmer
Dân số
200 người.
Cư trú
Tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Đặc điểm kinh tế
Dân tộc Brâu đã bao đời du canh du cư. Người Brâu chủ yếu đốt rừng làm rẫy để
trồng các loại lúa, ngôi, sắn, với công cụ sản xuất thô sơ như: rìu, rựa và
chiếc gậy chọc lỗ tra hạt, năng suất cây trồng thấp.
Hôn nhân gia đình
Thanh niên nam nữ Brâu được tự do lấy vợ, lấy chồng. Nhà trai tổ chức hỏi vợ
phải nộp lễ vật cho nhà gái, nhưng đám cưới thì tiến hành tại nhà gái, và
chàng rể phải ở lại nhà vợ khoảng 2 đến 3 năm rồi mới được làm lễ đưa vợ về ở
hẳn nhà mình.
Tục lệ ma chay
Theo phong tục người Brâu, người chết được đưa ra khỏi nhà, cho vào quan tài
độc mộc và quàn tại một căn nhà riêng do dân làng dựng lên. Mọi người đến chia
buồn, gõ chiêng cồng, mấy ngày sau mới mai táng. Những ché, gùi, dao, rìu...
bỏ lại trong nhà mồ là số của cải gia đình cho người chết.
Văn hóa
Người Brâu ưa thích chơi cồng chiêng và các nhạc cụ cổ truyền. Chiêng cồng có
các loại khác nhau. Đặc biệt có bộ chiêng tha (chỉ gồm hai chiếc) nhưng có thể
trị giá từ 30 đến 50 con trâu. Các thiếu nữ thường chơi Krông pút là nhạc cụ
gồm 5-7 ống lồ ô dài ngắn không đều nhau đem ghép với nhau, tạo âm thanh bằng
đôi bàn tay vỗ vào nhau ngoài miệng ống. Khi ru con hoặc trong đám cưới...
người Brâu có những điệu dân ca thích hợp. Những trò thả diều, đi cà kheo,
đánh phết cũng là sinh hoạt vui chơi của thanh thiếu niên.
Nhà cửa
Nhà của người Brâu có những đặc điểm rất dễ nhận, ít thấy ở nhà những dân tộc
khác.
Trước hết là người Brâu rất chú trọng làm đến việc làm đẹp cho ngôi nhà. Điều
này được thể hiện ở các kiểu "sừng đầu đốc". Chỉ trong một làng nhỏ mà chúng
tôi đã thấy bốn kiểu khác nhau. Chạy dọc theo sống nóc người ta còn dựng một
dải trang trí không chỉ đẹp mà còn rất độc đáo.
Bộ khung nhà với vì kèo đơn giản, vách che nghiêng theo thế "thượng khách hạ
thu".
Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt: vào nhà từ phía đầu hồi. Thang bắc lên
một gian hồi để trống rồi mới vào nhà. Cách bố trí trên mặt sàn của gian hồi
này cũng rất đặc biệt. Mặt sàn chia làm ba phần với các độ chênh khác nhau.
Trong nhà chia đôi theo chiều dọc, nửa về bên trái, một phần dành cho con gái,
còn lại là nơi sinh hoạt của con trai về ban ngày vì đêm họ ra ngủ tại nhà
rông. Còn nửa kia đặt bếp.
Trang phục
Tồn tại một loại hình trang phục đơn giản và có cá tính trong tạo hình và
trang trí. Người Brâu có tục xăm mặt, xăm mình và cà răng. Phụ nữ đeo nhiều
vòng trang sức ở tay chân và cổ.
+ Trang phục nam
Nam ở trần đóng khố. Đến tuổi 14, 15, 16 tuổi phải cưa bốn răng cửa hàm trên,
và thường xăm mặt, xăm mình.
+ Trang phục nữ
Phụ nữ để tóc dài hoặc cắt ngắn. Xưa mình trần, mặc váy. Đó là loại váy hở,
quấn quanh thân. Thân váy được xử lý mỹ thuật ở phần đầu váy và chân váy với
lối đáp các miếng vải khác màu có các sọc đen ngang đơn giản chạy ngang thân
váy. Mùa lạnh họ mang chiếc áo chui đầu, cộc tay, khoét cổ. Đây là loại áo
ngắn thân thẳng, tổng thể áo có hình gần vuông. Thân áo phía mặt trước và sau
được xử lý mỹ thuật cũng theo nguyên tắc như váy. Toa õn bộ thân trước màu
sáng có đường viền đậm trên vãi và gấu áo; phía lưng áo được xử lý màu sáng có
sọc ngang đơn giản nửa phía dưới áo. Người Rơ Măm không biết dệt, nhưng đây là
bộ trang phục thấy ở họ với một phong cách tạo dáng (áo) khoét cổ (phía trước
thấp hơn phía sau) đơn giản cũng như phong cách thẩm mỹ giản dị (áo và váy) ít
gặp ở các dân tộc trong khu vực cũng như trong nhóm ngôn ngữ (đây cũng là lý
do được chọn). Phụ nữ còn mang trên cổ một vài chuỗi hạt cườm ngũ sắc, hoặc
vòng đồng, bạc cũng như vòng tay bằng các chất liệu trên