Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
        
 
 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

  CUỘC VẬN ĐỘNG

"TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở KHU DÂN CƯ" 


Các văn bản

Tin tức hoạt động

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” ở xã Hưng Thạnh.

Lai Châu: Triển khai điểm chương trình mục tiêu quốc gia gắn với cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”

Hoàng Su Phì (Hà Giang) xây dựng nông thôn mới 

Yên Bái sau 15 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”

Thành phố Hồ Chí Minh tổng kết 10 năm phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (2000-2010), 15 năm cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" (1995-2010)

Hỗ trợ các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi về SKSS tại cộng đồng

Gia đình tín hữu Công giáo xứ Đông Thành xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.

Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Chức sắc tôn giáo xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Chiến lược truyền thông DS/KHHGĐ trên địa bàn huyện Quỳ Hợp

Hoàn thành vượt mức kế hoạch chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ

Vũ Thư (Thái Bình): Dấu ấn cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

 Khu dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư không có người sinh con thứ 3

Năm đầu tiên thực hiện Tháng hành động quốc gia về dân số

Sự sáng tạo trong hoạt động tuyên truyền vận động của các chức sắc trong công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ở Thái Bình và Hưng Yên

Xóm Xuân Đám gắn thực hiện cuộc vận động với xây dựng nông thôn mới  

Đông Minh - Tiền Hải (Thái Bình) tích cực thực hiện đề án dân số vùng biển

Nhìn lại chặng đường 15 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”

Nâng chất các cuộc vận động, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Thành quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trên địa bàn thành phố Đà Nẵng – sau 15 năm nhìn lại…

Hội nghị tổng kết 15 cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”  tỉnh Hòa Bình

MTTQ các cấp tỉnh Vĩnh Phúc với phong trào thi đua yêu nước

Mô hình “Gia đình đồng bào Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại Thái Bình

Hữu Lũng(Lạng Sơn): Sau 10 năm xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

Phường Chí Minh Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Hiệu quả từ một  phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai

Kết quả thực hiện mô hình điểm DS-KHHGĐ ở xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

Sơn Hà: Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Xây dựng các khu dân cư văn hóa: Bắt đầu từ trách nhiệm cộng đồng 

Công tác triển khai mô hình điểm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tại Hưng Yên

Trịnh Xá với phong trào " toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"

Hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư


|Trang trước| | Về đầu trang|


Trịnh Xá với phong trào " toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"

Những năm gần đây, đời sống nhân dân thôn Trịnh Xá, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã có nhiều chuyển biến tích cực, diện mạo nông thôn thay đổi rõ nét, 5 năm liền thôn được công nhận làng văn hóa cấp huyện. Kết quả đó chính là thôn đã thực hiện tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Về Trịnh Xá hôm nay, đi trên những con đường trải bê tông phẳng lì, ngắm nhìn các ngôi nhà cao tầng khang trang, mới thấy hết sự “thay da đổi thịt” ở vùng quê này. Ông Trịnh Huy Hương, trưởng thôn Trịnh Xá phấn khởi cho biết: Để có được kết quả như ngày hôm nay, chi bộ đảng, mặt trận và nhân dân thôn Trịnh Xá đã đoàn kết, nỗ lực thực hiện 6 nội dung của cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Ngay từ khi phát động, các nội dung đã triển khai rộng rãi đến từng người dân, hộ gia đình để họ nắm rõ và cùng nhau thực hiện. Hiệu quả cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư thể hiện rõ nhất ở đời sống kinh tế của người dân thôn Trịnh Xá được nâng cao. Toàn thôn có 415 hộ gia đình chủ yếu sống bằng nghề nông. Nhờ chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nhân dân thôn Trịnh Xá đẩy mạnh phát triển sản xuất theo lợi thế của địa phương, phát triển nông nghiệp theo hướng tăng năng suất, chất lượng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chăn nuôi. Qua đó mang lại hiệu quả kinh tế cao, ngoài hai vụ lúa nhân dân cong trồng cây rau màu, trong đó chú trọng là cây khoai tây cho năng suất cao. Một số ngành nghề, dịch vụ cũng đang phát triển. Với sự cần cù của người nông dân, sự hướng dẫn tận tình của cán bộ địa phương nhân dân thôn Trịnh Xá từng bước thoát ra khỏi nghèo đói, số hộ có đời sống kinh tế khá, giàu chiếm gần 95%, bình quân thu nhập đầu người năm 2009 đạt khoảng 8 triệu đồng, trên 80% hộ gia đình có xe máy, điện thoại, gần 100% hộ gia đình có phương tiện nghe nhìn và nhiều vật dụng giá trị khác

Song song với phát kinh tế là phát triển về văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vào dịp lễ, tết hay những ngày kỷ niệm lớn của dân tộc, đường làng, cổng làng nhà văn hoá được vệ sinh sạch sẽ, trang trí đẹp mắt. Nhà văn hóa thôn Trịnh Xá được xây dựng từ năm 2005 khang trang, với đầy đủ các trang thiết bị như ti vi, loa đài. Đây là công trình do nhân dân trong thôn góp sức xây dựng, là nơi đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, hoạt động thể thao của nhân dân trong thôn. Từ khi có nhà văn hóa, mà các đoàn thể trong thôn có điều kiện để sinh hoạt đều đặn. Sân cầu lông phía trước nhà văn hóa là nơi người dân thường xuyên tập luyện, thi đấu thể thao. Phong trào thể dục thể thao của thôn từ đó phát triển mạnh thu hút nhiều người, từ già đến trẻ nhỏ với các môn cầu lông, bóng đá, đá cầu...Hoạt động thể thao không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân trong thôn mà còn là một nhân tố quan trọng giúp địa phương đẩy lùi các tai tệ nạn. CLB dưỡng sinh, thơ ca, hò vè của các cụ cao tuổi luôn hoạt động sôi nổi, qua đó gắn kết tình làng nghĩa xóm, tạo thành nét đẹp truyền thống trong cộng đồng khu dân cư Trịnh Xá. Phát huy tinh thần tương thân tương ái, hàng năm địa phương thực hiện tốt các chế độ chính sách, những gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đều được thôn quan tâm trong các ngày lễ cũng như những lúc ốm đau.  Chính quyền thôn Trịnh Xá còn vận động nhân dân đóng góp hàng trăm triệu đồng để sửa chữa trường mầm non, nhà văn hóa, nghĩa trang. Trước đây khi chưa phát động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, Trịnh Xá vẫn xảy ra các hiện tượng như, trộm cắp, đánh chửi nhau, cưới tảo hôn, đám cưới thường tổ chức lãng phí. Đến nay các hiện tượng đó đã được đẩy lùi, các thủ tục rườm rà trong cưới hỏi cũng được cắt bỏ, các gia đình đều tổ chức đám cưới gọn nhẹ, văn minh. Vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch hàng năm, lãnh đạo địa phương cùng nhân dân tổ chức lễ hội truyền thống tại đình làng. Lễ hội được diễn ra 3 ngày, bảo đảm an toàn, lành mạnh, tiết kiệm, thu hút đông đảo nhân dân và những người con xa quê về dự.

Đến nay, số hộ gia đình văn hoá trong thôn tăng nhanh, nếu như năm 2005 chỉ có gần 70% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa thì đến năm 2009 đã có hơn 90% gia đình đạt gia đình văn hóa, nhiều gia đình giữ vững danh hiệu gia đình văn hóa trong nhiều năm liên tiếp, góp phần vào xây dựng làng văn hóa.  Trịnh Xá hôm nay đang thực sự khởi sắc, nhiều con em đi lao động ở nước ngoài và các công ty trong và ngoài tỉnh trở về đầu tư xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp. Các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước, đều được triển khai đến từng hộ dân.  Bà Trịnh Thị Tầm, Bí thư Đảng ủy xã Chỉ Đạo cho biết : có được kết quả trên là do Trịnh Xá thực hiện tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư. Với những gì thôn Trịnh Xá đã và đang làm, tin rằng trong một tương lai không xa, Trịnh Xá sẽ  trở thành khu văn hóa kiểu mẫu trong xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư trên địa bàn.

Theo Hồng Phấn - Báo Hưng Yên

Về đầu trang


Hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

Những năm qua, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã phát triển sâu rộng, toàn diện và trở thành phong trào thi đua sôi nổi, được mọi người, mọi nhà tham gia, giữ vững ANCT-TTATXH tại địa phương.

Nhiều mô hình tiên tiến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như: phong trào toàn dân đoàn kết phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, XĐGN, giữ gìn ANCT, TTATXH, xây dựng nông thôn mới; phong trào làm nhà cho người nghèo; đền ơn đáp nghĩa; phòng chống tội phạm và các TNXH… đã góp phần thúc đẩy mọi tổ chức, mọi gia đình và các cá nhân chủ động thực hiện và hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng trên từng địa bàn dân cư. Năm qua, Quỹ Vì người nghèo các cấp trong tỉnh đã thu được hơn 2,9 tỷ đồng, trong đó quỹ cấp tỉnh là gần 1,7 tỷ đồng. Toàn tỉnh đã xây dựng được 1.018 nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, giúp các hộ nghèo có chỗ ở ổn định, yên tâm sản xuất, từng bước vươn lên thoát nghèo. Năm 2009, MTTQ các cấp trong tỉnh đã kiện toàn 132 Ban Thanh tra nhân dân; phối hợp xây dựng 129 hòm thư tố giác tội phạm; củng cố 10.230 tổ liên gia tự quản, 1.525 tổ hoà giải… tiến hành hoà giải thành hàng trăm vụ việc mâu thuẫn trong các gia đình, dòng họ, làng, xã… đem lại niềm vui và sự đoàn kết trong lao động sản xuất, khơi dậy và phát huy tinh thần đoàn kết ở mỗi thôn, làng, khu dân cư, mọi người, mọi nhà sống đoàn kết gắn bó, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau. Đến nay, các xã, phường, thị trấn đã xây dựng được hương ước, quy ước quy định khá đầy đủ mọi hoạt động phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương, được nhân dân tham gia bàn bạc, thống nhất dân chủ. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nên nhân dân đều nghiêm túc thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ… Nhiều hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan dần được loại bỏ. Việc mừng thọ cho các cụ cao tuổi cũng được tổ chức theo đúng quy định của MTTQ và Hội Người cao tuổi. Các cụ được UBND và uỷ ban MTTQ mời đến UBND xã, phường, thị trấn hoặc đến nhà văn hoá ở khu dân cư để tặng quà, sau đó về gia đình tổ chức đơn giản, gọn nhẹ và mời Hội Người cao tuổi trong thôn đến chúc mừng. Các lễ hội trên địa bàn tỉnh đều được tổ chức theo đúng quy định của nhà nước, tiết kiệm nhưng vẫn trang trọng và giữ được nét đẹp truyền thống của dân tộc, đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, có ý nghĩa giáo dục truyền thống đạo lý và nét đẹp văn hoá trong nhân dân. Đến nay hầu hết các thôn, làng, khu dân cư đã xây dựng được nhà văn hoá để làm nơi hội họp của các chi bộ Đảng, họp các đoàn thể và là nơi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của nhân dân. Mặt bằng dân trí được nâng cao chính là yếu tố thuận lợi giúp phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” ngày càng phát huy hiệu quả. Năm 2009, toàn tỉnh có 188.595 hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá (chiếm 81,1%); có 1.092 khu dân cư đạt danh hiệu khu dân cư tiên tiến (chiếm 76,8%), trong đó có 771 khu dân cư được công nhận khu dân cư văn hoá (chiếm 59,1%).

Theo Vũ Hồng Hạnh - Báo Vĩnh Phúc

Về đầu trang  


Xây dựng các khu dân cư văn hóa: Bắt đầu từ trách nhiệm cộng đồng 

Đổi mới, nâng cao chất lượng cuộc vận động (CVĐ) "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư (KDC)" là nội dung MTTQ TP Hà Nội quyết tâm thực hiện để chào mừng sự kiện Thủ đô tròn 1000 năm tuổi. Ngoài việc gắn kết với các phong trào thi đua yêu nước, MTTQ đã triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng CVĐ đến tận KDC, thôn, làng, tổ dân phố nhằm phát huy có hiệu quả vai trò của cộng đồng cùng thực hiện mục tiêu chung.

Đưa cộng đồng vào cuộc

Phó Chủ tịch UB MTTQ TP Đặng Huyền Thái khẳng định, với Thủ đô Hà Nội, CVĐ là một nội dung lớn, được triển khai đồng bộ từ TP đến KDC; gắn với CVĐ "Xây dựng người Hà Nội văn minh - thanh lịch", thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Đến nay, Hà Nội đã xây dựng được nhiều mô hình văn hóa, đặc biệt là tổ chức tốt hội nghị đại biểu nhân dân nhằm phát huy quyền làm chủ của dân trong bàn bạc, quyết định những việc cần làm. Qua đó, cả cộng đồng được huy động cùng tham gia và có trách nhiệm gìn giữ, phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến. Từng KDC, thôn, làng, tổ dân phố đã loại bỏ dần các hủ tục, từng bước xây dựng nếp sống văn minh đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, đơn vị. Sự tham gia rộng khắp, tự giác của đông đảo nhân dân tạo nên những nét đẹp mới trong chuẩn mực văn hóa và trong nhân cách con người Việt Nam... Hiện đã có trên 80% gia đình văn hóa, trên 60% KDC tiên tiến, trên 33% KDC văn hóa, nếu được phát huy CVĐ sẽ tạo nên sức mạnh cộng đồng góp phần hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Với KDC Phan Huy Ích (phường Nguyễn Trung Trực, Ba Đình) xây dựng KDC văn hóa bắt đầu từ mỗi người, từ mỗi gia đình. Người dân trực tiếp bàn bạc, thống nhất 7 tiêu chí của con người văn hóa, từ cách nói năng, ăn uống, đến tinh thần tương thân, tương ái, ý thức chấp hành pháp luật của mỗi thành viên… KDC này khá thành công với mô hình "số nhà văn hóa". 7-8 hộ cùng chung số nhà cùng nhau có trách nhiệm tự quản về ANTT, giữ cho khu phố bình yên.

KDC số 6 (phường Hàng Bông, Hoàn Kiếm) đã xây dựng được "cơ chế tự quản" về môi trường và ANTT. Ý thức tự giác của mỗi thành viên trong cộng đồng dân cư được nâng lên, tạo chuyển biến tích cực về vệ sinh môi trường. Trên các tuyến phố đã sạch đẹp, tệ đổ rác ra đường, để túi rác ở gốc cây, hè phố hầu như không còn. Ở tổ dân phố 28, nhân dân đã thành lập nhóm bảo vệ tự quản, giải quyết dứt điểm tình hình phức tạp về ANTT.

Khơi dậy trách nhiệm vì cái chung

"Hội nghị đại biểu nhân dân"- một sáng tạo của MTTQ TP Hà Nội nhằm tập hợp trí tuệ và trách nhiệm của người dân trong việc xây dựng gia đình, KDC văn hóa đã được triển khai từ 10 năm nay. Tùy vào đặc điểm, tình hình mà mỗi KDC lựa chọn chủ đề hành động để nhân dân bàn bạc, thảo luận, quyết định. Chẳng hạn, để mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, quận Hoàn Kiếm chọn chủ đề: "Xây dựng văn minh đô thị, vì môi trường xanh - sạch - đẹp", "Văn minh phố cổ", triển khai tới 167 ban công tác mặt trận. Qua kiểm tra thực tế, chủ đề này đang được triển khai hiệu quả. Huyện Đông Anh chọn chủ đề rất mới - "Tang văn minh tiến bộ", vận động người dân nên hỏa táng, thay vì địa táng để bảo đảm vệ sinh môi trường.

Phó Chủ tịch UB MTTQ TP Đặng Huyền Thái cho biết, để nâng cao chất lượng CVĐ, năm nay, mặt trận sẽ chú trọng công tác kiểm tra, sơ, tổng kết điển hình tiên tiến; nâng cao trách nhiệm của cán bộ mặt trận cơ sở trong khâu tuyên truyền, vận động. Tuy vậy, để CVĐ này hiệu quả hơn, theo Phó Chủ tịch, cần phải có sự phối hợp tốt trong công tác chỉ đạo từ TƯ đến cơ sở, khi trao tặng những danh hiệu văn hóa cần phải quan tâm tới chất lượng.

Theo Lê Hoàn- Báo HNM

Về đầu trang


Sơn Hà: Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư 

Xã Sơn Hà  nằm ở gần trung tâm huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn có đường quốc lộ 1A và đường sắt chạy qua, việc giao thông đi lại thuận tiện, thương mại, dịch vụ, nhiều ngành nghề phát triển, sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh.  

Với tổng diện tích tự nhiên là 6 km2 được chia làm 8 thôn, 982 hộ, 4252 nhân khẩu, tập trung 5 dân tộc anh em là Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Hoa cùng sinh sống. Thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” (TDĐKXDĐSVH) do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát động, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Sơn Hà triển khai thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả thiết thực, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày một nâng lên.

Trong phong trào đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, MTTQ các cấp đã chủ động phối hợp với chính quyền, các đoàn thể vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, áp dụng tiến bộ KHKT, đưa các giống cây, con có năng suất cao vào sản xuất. Vì vậy, những năm gần đây, bình quân lương thực có hạt/người/năm ngày càng tăng. Nếu như năm 2000 chỉ đạt 370 kg/người/năm thì đến năm 2009 đã tăng lên 523 kg/người/năm. Bên cạnh đó, để giúp bà con có vốn phát triển sản xuất, kinh doanh, các tổ chức hội đứng ra vay ủy thác qua ngân hàng. Tính đến tháng 12/2009, tổng dư nợ là 3 tỷ 200 triệu đồng cho trên 300 hộ vay. Có vốn bà con đẩy mạnh phát triển kinh tế với nhiều mô hình VAC, VACR. Đã có nhiều mô hình kinh doanh giỏi cho thu nhập từ 100-150 triệu đồng/năm. Tỷ lệ hộ có mức sống khá và giàu ngày càng nhiều, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới toàn xã hiện chỉ còn chiếm 4,45%.    Phong trào “uống nước nhớ nguồn” đền ơn đáp nghĩa được cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể quan tâm, từ năm 2000 đến 2009 vận động nhân dân ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa được trên 30 triệu đồng, hỗ trợ được trên 60 triệu đồng xây 2 nhà tình nghĩa cho 2 thương binh hạng 2/4 và 3 triệu đồng tu sửa 1 nhà cho thương binh. Vận động nhân dân, các nhà hảo tâm ủng hộ quỹ xây dựng nhà bia ghi tên liệt sỹ bằng ngày công, vật liệu, tiền mặt qui ra tiền trên 76 triệu đồng; giúp xây dựng 8 nhà đại đoàn kết cho các hộ nghèo với tổng giá trị 240 triệu đồng, trong đó Nhà nước hỗ trợ 65 triệu đồng. Các phong trào chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, y tế, dân số KHHGĐ được chú trọng; 100% trẻ 5 tuổi đi nhà trẻ, 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS. Thực hiện tốt phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chất lượng dạy và học ngày được nâng lên, tỷ lệ học sinh khá giỏi, giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn ngày càng cao. Lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu ở khu dân cư được quan tâm, đã có 100% khu dân cư có y tế cộng đồng. Công tác phòng chống dịch bệnh, tiêm phòng vắc xin cho bà mẹ mang thai và trẻ em trong độ tuổi được duy trì thực hiện theo đúng kế hoạch. Quy chế dân chủ ở cơ sở, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được thực hiện có hiệu quả. Đến nay đã có 7/8 khu dân cư được phê duyệt thực hiện quy ước, hương ước; thành lập và duy trì 8 tổ an ninh nhân dân, Các tổ hòa giải, tổ tự quản hoạt động thường xuyên, đã tiến hành hòa giải được hàng chục vụ mâu thuẫn trong các khu dân cư. Từ đó góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Chú trọng thực hiện đoàn kết xây dựng cơ sở chính trị trong sạch vững mạnh, gắn bó với nhân dân, tạo niềm tin trong nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể vững mạnh.    

Có thể khẳng định rằng, cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH ở khu dân cư” đã được Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân xã Sơn Hà thực hiện với các phong trào thiết thực, có hiệu quả, góp phần vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương.

Theo Đỗ Hoạt - Báo Lạng Sơn

Về đầu trang


Hiệu quả từ một  phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai 

Trong những năm qua, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" của huyện Si Ma Cai được đẩy mạnh, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của địa phương. 

Hàng năm, Ban chỉ đạo (BCĐ) huyện chủ động họp, bàn, xây dựng kế hoạch, đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Đồng thời, phân công các thành viên phụ trách địa bàn phối hợp với cơ sở triển khai, tuyên truyền, cụ thể hoá các nội dung của cuộc vận động cho phù hợp với đặc điểm từng địa bàn. Phong trào triển khai rộng khắp, được nhân dân đồng tình hưởng ứng; gắn chặt với công tác xây dựng Đảng, chính quyền, xây dựng các đoàn thể trong sạch, vững mạnh, xây dựng các cơ quan, đơn vị văn hoá. Quá trình triển khai, đã huy động được sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, mọi tầng lớp nhân dân, mọi nguồn lực xã hội trong việc thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo ở địa phương. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao. Đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhân dân tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Qua 10 năm thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" đã có nhiều chuyển biến tích cực trong xây dựng gia đình văn hoá. Năm 2000, toàn huyện có 1.052 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá, năm 2009 có 2.540 hộ. Đến hết năm 2009, toàn huyện có 67 khu dân cư đạt danh hiệu khu dân cư tiên tiến, 36 khu dân cư xuất sắc, 76 cơ quan, đơn vị, trường học văn hoá, trong đó có nhiều thôn, khu dân cư, cơ quan, đơn vị nhiều năm liền đạt danh hiệu văn hoá. Trong những năm qua, nhân dân toàn huyện đã đóng góp gần 2 tỷ đồng cùng nhà nước làm mới, nâng cấp, sửa chữa đường giao thông, xây dựng nhà văn hoá cộng đồng thôn, bản; có nhiều hộ dân đã hiến đất để làm đường. Phong trào giữ gìn vệ sinh môi trường, phòng - chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm ở khu dân cư ngày càng nâng lên. Mạng lưới y tế cơ sở được đầu tư, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Công tác xoá đói, giảm nghèo góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo năm 2009 xuống còn 37,41%. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đã xây dựng mô hình điểm tiên tiến về an ninh trật tự và đời sống văn hoá ở khu dân cư tại 2 xã Lùng Sui và Nàn Sán; củng cố các xã trọng điểm về an ninh trật tự và xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư tại 2 xã Nàn Sín và Lử Thẩn.

Phát huy những kết quả đã đạt được, trong giai đoạn 2010 - 2015, huyện Si Ma Cai tiếp tục có biện pháp chỉ đạo các ngành chức năng, vận động các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa công việc xây dựng gia đình, thôn, bản, khu dân cư văn hoá, cơ quan, đơn vị văn hoá. Tăng cường củng cố khối đoàn kết toàn dân, tạo sự đồng thuận cao, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương.

Hồng Điệp

Về đầu trang


Hữu Lũng(Lạng Sơn): Sau 10 năm xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

Những năm gần đây Uỷ ban MTTQ huyện Hữu Lũng và các tổ chức thành viên mặt trận, các tầng lớp nhân trên địa bàn huyện đã có nhiều đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn…Đặc biệt là thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.

Trong 10 năm qua, nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền; sự phối hợp chặt chẽ giữa MTTQ và các tổ chức thành viên từ huyện đến cơ sở cùng với sự nhiệt tình, năng động của đội ngũ làm công tác MT, đặc biệt là sự đồng tình hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân huyện Hữu Lũng đã đạt được nhứng kết quả tích cực trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn huyện được tăng cường, những giá trị văn hoá truyền thống được khơi dậy, tình làng nghĩa xóm và quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Phương châm lấy dân làm gốc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, được thực hiện tương đối tốt, trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, đã quy tụ được nguồn lực lớn trong nhân dân và cả xã hội. Kinh tế của huyện có bước phát triển khá, thu nhập bình quân đầu người năm 2000 là 4 triệu đồng/ người/năm, đến năm 2009 đạt 7 triệu đồng/người/năm, hộ nghèo còn 15,87%, cơ bản không còn hộ đói. Văn hoá, thể thao, y tế, giáo dục tiếp tục được phát triển. Cơ sở chính trị, nền tảng liên minh giai cấp công nông ngày càng vững mạnh, MTTQ các cấp và các tổ chức đoàn thể được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay trên địa bàn toàn huyện có 244 ban công tác MT ở khu dân cư (KDC) của 26 xã, thị trấn; các KDC đều xây dựng và thực hiện theo quy ước, hương ước. Các tổ an ninh nhân dân, tổ hoà giải, tổ liên gia ở các thôn bản, KDC thường xuyên được củng cố, duy trì hoạt động có hiệu quả. Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và các phong trào ông, bà, cha, mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền được khơi dậy và có tác dụng tốt đối với gia đình và xã hội. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và các chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội luôn được quan tâm đẩy mạnh. Sau 10 năm thực hiện cuộc vận động, đến nay toàn huyện Hữu Lũng có 175/244 KDC không có tệ nạn xã hội, công tác cảm hoá người lầm lỗi tại cộng đồng được quan tâm đẩy mạnh. Các thiết chế văn hoá như: sân chơi, bãi tập, nhà văn hoá, nhà họp thôn…được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, đóng góp xây dựng. Đến nay toàn huyện đã xây dựng được 107/244 nhà sinh hoạt cộng đồng ở KDC; 16/26 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá; 23/26 xã, thị trấn có sân chơi, bãi tập; 7/26 xã, thị trấn có nhà văn hoá, nhiều thôn, xã có đội văn nghệ, câu lạc bộ TDTT, phần lớn các gia đình đều có phương tiện nghe nhìn, số KDC có đường bê tông, có nước sạch sinh hoạt ngày càng tăng, môi trường ở nhiều KDC được giữ gìn sạch đẹp. Số lượng KDC tiên tiến, KDC văn hoá năm sau luôn cao hơn năm trước, 100% thôn, bản, KDC đều xây dựng được quy ước, hương ước, văn hoá mới. 1.285 lượt KDC dạt danh hiệu KDC tiên tiến; 869 lượt KDC đạt danh hiệu KDC văn hoá và có 134.169 lượt hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá, bình quân mỗi năm đạt 64,6% trên tổng số hộ đạt gia đình văn hoá. Trong đó có nhiều thôn, bản, KDC, nhiều hộ gia đình, đơn vị, cơ quan nhiều năm liên tục đạt tiêu chuẩn văn hoá. Dựa trên những kết quả đã đạt được, trong phương hướng tới, Hữu Lũng tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể vững mạnh, MTTQ từ huyện đến cơ sở tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động và thống nhất trong phối hợp hành động. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phong huyện đã đề ra.

Thanh Đàn- Báo Lạng Sơn

Về đầu trang


Phường Chí Minh Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Thực hiện tốt các CVĐ do MTTQ phát động, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phường Chí Minh đã có sự chuyển biến tích cực trong cách nghĩ, cách làm, xây dựng quê hương khang trang, giàu đẹp.

15 năm qua, thực hiện Cuộc vận động (CVĐ) “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư (KDC)” và 10 năm thực hiện CVĐ “Ngày vì người nghèo”, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phường Chí Minh (thị xã Chí Linh) đã có sự chuyển biến tích cực trong cách nghĩ, cách làm. Qua đó, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quê hương Chí Minh ngày càng khang trang, giàu đẹp.

Đến KCD văn hóa An Hưng, chúng tôi thấy toàn bộ đường ngõ xóm đã được bê-tông hóa, nhà 2 tầng mọc lên san sát, khu trung tâm văn hóa thôn rộng rãi, thoáng mát với nhà văn hóa được xây dựng khang trang. Anh Nguyễn Văn Giao, Trưởng ban công tác mặt trận thôn cho biết: Ngay sau khi MTTQ cấp trên phát động CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở KDC”, chúng tôi đã tích cực thực hiện CVĐ. Ban đầu là vận động nhân dân đóng góp kinh phí xây dựng khu trung tâm văn hóa và nhà văn hóa. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, ban công tác mặt trận thôn đã tham mưu cho chi bộ, trưởng KDC tổ chức nhiều cuộc họp bàn với nhân dân, thống nhất việc đóng góp kinh phí. Đến năm 2002, chúng tôi đã xây dựng được nhà văn hóa của KDC trị giá 42 triệu đồng, san nền, xây dựng sân bóng đá, xây tường bao, cổng cho toàn bộ diện tích của khu trung tâm văn hóa rộng 9.000 m2. Sau đó, thôn vận động nhân dân đóng góp mỗi khẩu 300 nghìn đồng để bê-tông hóa đường ngõ xóm. Đến năm 2006, toàn bộ đường ngõ xóm của thôn đã được bê-tông hóa. Năm 2005, KDC An Hưng đã vinh dự được UBND tỉnh công nhận là KDC văn hóa. Ban công tác mặt trận thôn cũng tích cực vận động nhân dân xây dựng các công trình vệ sinh khép kín,  sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, thực hiện tốt các quy định trong việc tổ chức việc cưới, việc tang theo đúng thuần phong mỹ tục, tránh lãng phí.

Đến KDC Văn Giai, chúng tôi được chứng kiến niềm vui của gia đình ông Trương Trọng Nữa, 75 tuổi, một cựu chiến binh đã từng tham gia cả 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. “Nếu không có Ủy ban MTTQ cấp trên và phường thì có lẽ các con tôi mãi mãi phải ở trong những ngôi nhà tranh tre, dột nát, chứ đâu được ở trong những ngôi nhà khang trang như thế kia” - vừa nói ông Nữa vừa chỉ tay về phía 2 ngôi nhà mới xây năm 2009. Đó là ngôi nhà của anh Trương Mạnh Thế, nạn nhân chất độc da cam và anh Trương Mạnh Lai có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tháng 8 - 2009, anh Thế được Ủy ban MTTQ tỉnh trích Quỹ "Vì người nghèo" 10 triệu đồng hỗ trợ xây nhà "Đại đoàn kết". Cùng với nguồn kinh phí đó, họ hàng, anh em, các đoàn thể của phường đã hỗ trợ 40 ngày công, kinh phí xây dựng cho gia đình anh ngôi nhà rộng 45 m2, trị giá 45 triệu đồng. Đồng thời, ủy ban MTTQ phường Chí Minh trích 7 triệu đồng từ Quỹ "Vì người nghèo" của phường xây dựng nhà "Đại đoàn kết" cho anh Trương Mạnh Lai. Họ hàng, gia đình, anh em hỗ trợ thêm tiền của, các đoàn thể của phường như: Hội CCB, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ... đã ủng hộ 50 ngày công giúp anh Lai xây dựng ngôi nhà rộng 50 m2, trị giá 50 triệu đồng. Đến nay, con, cháu ông Nữa không còn phải sống trong những ngôi nhà dột nát cùng nỗi lo canh cánh mỗi mùa mưa bão đến.

Nói về hiệu quả trong 15 năm thực hiện CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở KDC” và 10 năm thực hiện CVĐ “Ngày vì người nghèo”, đồng chí Trương Phương Hồng, Chủ tịch Ủy ban MTTQ phường Chí Minh cho biết: Thực hiện các CVĐ, nhân dân trong phường đã đoàn kết, nỗ lực, tạo điều kiện giúp đỡ nhau về mọi mặt để vươn lên làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Nếu năm 1995, thu nhập bình quân đầu người của phường mới chỉ đạt 2,2 triệu đồng/năm, thì đến nay đã đạt 8,6 triệu đồng. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ năm 1995 là 13% thì đến nay theo tiêu chí mới toàn phường chỉ còn 8,2%; số hộ khá, giàu ngày một tăng nhanh. Phường cũng luôn làm tốt các chính sách xã hội đối với các đối tượng chính sách, gia đình thương binh, liệt sĩ, những người có công với nước... Trong 15 năm qua, phường đã tặng 200 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các đối tượng chính sách trị giá từ 200 đến 500 nghìn đồng/sổ, hỗ trợ xây 5 ngôi nhà cho người có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách, tổng trị giá 110 triệu đồng. Đồng thời, tiếp nhận các nguồn ủng hộ và trích từ Quỹ "Vì người nghèo" của phường hỗ trợ các gia đình xây mới, tu sửa nhà, xây dựng công trình vệ sinh; hỗ trợ vốn sản xuất trị giá 160 triệu đồng; tu sửa nghĩa trang liệt sĩ với kinh phí 260 triệu đồng. Các CVĐ đã góp phần động viên nhân dân đoàn kết, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, tuân thủ pháp luật, quy ước làng, thực hiện tốt Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Đến nay, phường Chí Minh có 9 KDC thì cả 9 khu đạt KDC tiên tiến, 8 KDC đạt danh hiệu KDC văn hóa. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, thực hiện tiết kiệm trong việc cưới, việc tang ở phường được thực hiện tốt. Thông qua các CVĐ, các tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể cơ sở được củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động. Qua đó, đưa phường Chí Minh trở thành “điểm sáng” của toàn tỉnh trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở KDC” thực hiện CVĐ “Ngày vì người nghèo” do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát động.

VŨ ÚY

Về đầu trang


MTTQ các cấp tỉnh Vĩnh Phúc với phong trào thi đua yêu nước

Phát huy truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo trong lao động, đoàn kết, dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, tình nghĩa, nhân ái trong cuộc sống của nhân dân Vĩnh Phúc, 5 năm qua, MTTQ các cấp trong tỉnh tiếp tục tổ chức thực hiện các cuộc vận động do MTTQ Việt Nam phát động, đó là: Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", "Ngày vì người nghèo", “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Tiêu biểu trong các cuộc vận động là 2 cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", "Ngày vì người nghèo" đã đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương và  trở thành điểm sáng trong các phong trào thi đua yêu nước và có tác dụng rõ rệt vào việc nâng cao vai trò, vị thế của MTTQ Việt Nam. Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, trong hệ thống Mặt trận, các tổ chức thành viên đều có các phong trào phù hợp với đối tượng vận động, hướng vào thực hiện nhiệm vụ chính trị và các chương trình kinh tế - xã hội, gắn liền với lợi ích thiết thân của đoàn viên, hội viên. Tiêu biểu là các  phong trào: "Lao động giỏi, lao động sáng tạo" của Liên đoàn lao động đã tạo ra nhiều công trình, nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh; phong trào "Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng” của Hội nông;  phong trào " 5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và "4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” của Đoàn thanh niên "; Hội Liên hiệp Phụ nữ với phong trào "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc",…..

Trên từng lĩnh vực thi đua phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo,  MTTQ là tổ chức nòng cốt tuyên truyền vận động nhân dân tham gia cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Chính vì  vậy, những  năm qua nhân dân đã tự giác ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, giúp nhau về vốn, vật tư, cây con giống, kinh nghiệm sản xuất,  ngày công lao động để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giải quyết việc làm, cùng với các nguồn lực của tỉnh hỗ trợ người nghèo xoá nhà tạm, nhà dột nát....  Hưởng ứng cuộc vận động ủng hộ quỹ “Vì người nghèo” và phong trào “xóa nhà tạm” cho các hộ nghèo, 5 năm qua, MTTQ các cấp trong tỉnh đã vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia ủng hộ. Từ năm 2005 đến hết năm 2009, tổng số quỹ thu được ở cả 3 cấp là trên 11,2 tỷ đồng. Đặc biệt năm 2010, Uỷ ban MTTQ tỉnh đã tham mưu và phối hợp tổ chức thực hiện các mục tiêu giải pháp hoàn thành 2293 nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo và phấn đấu hoàn thành mục tiêu đề án trước năm 2012 với  tổng số 5224 nhà Đại đoàn kết. 5 năm qua, bằng các nguồn lực huy động, toàn tỉnh xóa được 9098 nhà tạm cho hộ nghèo, bình quân mỗi nhà trị giá xây dựng từ 20 đến 30 triệu đồng. Năm 2005 tỉnh Vĩnh Phúc đã được Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tặng Bằng Ghi công đã hoàn thành xây “Nhà Đại đoàn kết”, xóa xong nhà dột nát cho người nghèo. Bên cạnh đó, nhân dân và các tổ chức, đơn vị doanh nghiệp… đã quyên góp hỗ trợ giúp đỡ cho hàng ngàn hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất, cải thiện điều kiện sản xuất, cải tạo nhà ở, học tập, chữa bệnh... Nhiều huyện, thành, thị trong tỉnh nhanh chóng xóa được đói, giảm được nghèo; tiêu biểu như: năm 2009 Thành phố Vĩnh Yên hộ nghèo giảm còn 2,16%; thị xã Phúc Yên giảm còn 3,5%; huyện Yên Lạc giảm còn 4,9%.

Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, nhân đạo từ thiện từ lâu đã trở thành nét đẹp truyền thống và là việc làm thường xuyên của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội trên địa bàn tỉnh. Phát huy truyền thống tương thân tương ái, Uỷ ban MTTQ các cấp trong tỉnh đã tham mưu trích ngân sách, trao tặng hàng ngàn suất quà cho các gia đình thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công, người nghèo có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em nhiễm chất độc da cam. Phong trào đoàn kết phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, xây dựng khu dân cư lành mạnh được MTTQ các cấp tích cực vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước tại cộng đồng dân cư. Nhiều khu dân cư đã xây dựng hương ước, qui ước; tổ chức các nhóm liên gia, nhóm tự quản, tổ hoà giải....

Phong trào thi đua trong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo được tổ chức đều khắp nhằm thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tự do tín ngưỡng tôn giáo, “Sống tốt đời đẹp đạo”, đồng bào tôn giáo “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, động viên đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo đoàn kết xây dựng quê hương, tích cực tham gia phòng chống mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để chống phá nhà nước, phá hoại cuộc sống yên bình của nhân dân. Tính đến nay, toàn tỉnh đã cải tạo và xây mới được 125 nhà văn hóa xã, 1107 nhà văn hoá ở khu dân cư. Hàng năm, có trên 60% khu dân cư đạt danh hiệu khu dân cư tiên tiến, khu dân cư văn hóa; từ 75- 80% số hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa.

Với những thành tích đạt được trong phong trào thi đua yêu nước, những năm qua, Uỷ ban MTTQ tỉnh đã được Nhà nước, Chính Phủ, Tỉnh ủy, các bộ, ngành Trung ương tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng  Ba, cờ thi đua xuất sắc, Bằng khen. Trong hệ thống Mặt trận từ tỉnh tới cơ sở có hàng trăm lượt tập thể, cá nhân  được tặng huân chương Đại đoàn kết, Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc, Bằng khen.

Hoàng Nga

Về đầu trang


Hội nghị tổng kết 15 cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”  tỉnh Hòa Bình

Ngày 10-8-2010, tại tỉnh Hòa Bình, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hòa Bình đã tổ chức hội nghị tổng kết 15 năm cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Tham dự hội nghị có bà Hà Thị Liên, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các đồng chí đại diện lãnh đạo Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành của tỉnh cùng 150 đại biểu, đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ của 11 huyện, các xã, phường, khu dân cư của tỉnh Hoà Bình được khen thưởng tại hội nghị.

Những năm qua, với sự nỗ lực của các cấp Mặt trận, sự quan tâm của các cấp uỷ, chính quyền địa phương, sự phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng tham gia thực hiện của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"  và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” ở tỉnh Hoà Bình đã đạt được kết quả thiết thực, góp phần tăng cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân toộc, phát huy các nguồn lực trong nhân dân để xây dựng khu dân cư về mọi mặt; đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện; góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương và thành tựu chung của cả nước.

Hiện nay toàn tỉnh có 139.635 hộ gia đình  đạt gia đình văn hoá; 1.665 Khu dân cư tiên tiến; 1.242 Khu dân cư đạt Khu dân cư văn hoá; 1.149 khu dân cư  có nhà văn hóa ... Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” được triển khai từ năm 2000 đến tháng 6/2010 toàn tỉnh xây dựng ủng hộ quỹ được 25.782.000.000đ; hỗ trợ cho trên 20 nghìn lượt cá nhân, hộ gia đình nghèo; Ngoài việc hỗ trợ tiền mặt từ “Quỹ vì người nghèo”, các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân còn tạo điều kiện giúp đỡ cho người nghèo hàng trăm nghìn ngày công lao động, hàng chục nghìn cây, con giống, vật liệu xây dựng, phương tiện trang thiết bị sản xuất khác với tổng trị giá hàng chục tỷ đồng… Cuộc vận động đã góp phần cùng Đảng và chính quyền đẩy nhanh tiến độ xóa đói giảm nghèo trong toàn tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo năm 2000 là 27,37%; dự kiến cuối năm 2010 là 14%.

Thay mặt Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, bà Hà Thị Liên, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã biểu dương các tầng lớp nhân dân các dân tộc của tỉnh đã chung sức, chung lòng, nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn trong sản xuất và cuộc sống, cùng với cấp uỷ đảng, chính quyền và Mặt trận hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động nói chung, đặc biệt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”. Bà Hà Thị Liên nhấn mạnh MTTQ các cấp tỉnh Hoà Bình cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị và trong các tầng lớp nhân dân về 2 cuộc vận động và khẳng định, đây là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm tằng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết ở cộng đồng dân cư thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Tại Hội nghị Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, UBND tỉnh Hoà Bình và Uỷ ban MTTQ tỉnh Hoà Bình đã khen thưởng cho 88 tập thể, cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong việc tổ chức, thực hiện 2 cuộc vận động.

Hoàng Chương

Về đầu trang


Thành quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trên địa bàn thành phố Đà Nẵng – sau 15 năm nhìn lại…

Thực tiễn 15 năm qua cho thấy: cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố chủ trì phối hợp thực hiện được xem là một cuộc vận động mang tính toàn dân, toàn diện, có khả năng dung nạp nhiều cuộc vận động, nhiều chương trình, nhiều phong trào thi đua và đã tác động trực tiếp vào các mục tiêu về dân sinh, dân trí và dân chủ…góp phần tích cực vào sự phát triển của thành phố trên tất cả các lĩnh vực:

Thật vậy, bên cạnh sự nỗ lực vươn lên của từng hộ gia đình, sự đầu tư của thành phố…Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên đã thường xuyên duy trì và nhân rộng các phong trào, các mô hình của các thành viên Mặt trận trong hoạt động xoá nghèo được triển khai hiệu quả, nổi bật như: Phong trào tiết kiệm trong chi tiêu hàng ngày để xây dựng “Quỹ quay vòng” của Hội Liên hiệp Phụ nữ; “Mái ấm Công đoàn” của Liên đoàn Lao động; “Tổ nông dân giúp nhau xoá nghèo” của Hội Nông dân; “Cựu chiến binh làm kinh tế giỏi” của Hội Cựu chiến binh;  Phong trào “Nêu gương sáng tham gia sản suất, xoá đói giảm nghèo”của Hội Người cao tuổi..đã thiết thực giúp hội viên, đoàn viên thoát nghèo, vươn lên trong đời sống. Thành quả nổi bật là chỉ trong vòng 2 năm (2000-2001) triển khai thực hiện, cuộc vận động đã góp phần hoàn thành mục tiêu không có hộ đói trong Chương trình “Thành phố 5 không” (giai đoạn 2000 – 2005). Về xoá nghèo, đầu năm 2001 toàn thành phố có 9.769 hộ nghèo với 46.333 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 6,66% số hộ toàn thành phố. Đến cuối năm 2004 số hộ nghèo đã giảm xuống còn 185 hộ, chiếm tỷ lệ 0,13%. Như vậy, đến cuối năm 2004 thành phố đã hoàn thành mục tiêu không có hộ đói và cơ bản hoàn thành chỉ tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn của Trung ương. Để phù hợp với điều kiện phát triển mới, đầu năm 2005, thành phố ban hành Đề án giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2010, nâng chuẩn nghèo lên cao hơn mức chung của Trung ương (khu vực nông thôn dưới 200.000đ/người/tháng; khu vực đô thị dưới 300.000đ/người/tháng). Với các tiêu chí này, thành phố có 23.241 hộ nghèo gồm 104.904 nhân khẩu, chiếm 15,19% tổng số hộ. Từ nỗ lực chung của các cấp Chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và nhân dân, Đề án giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2010 đã được các khu dân cư triển khai lồng ghép vào Cuộc vận động đạt hiệu quả cao. Đến cuối năm 2008 số hộ nghèo chỉ còn lại 1.450 hộ, chiếm tỷ lệ 0,95% tổng số hộ. Như vậy Đề án giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2010 của thành phố đã cơ bản hoàn thành trước 02 năm.

Trong phong trào  “Đền ơn đáp nghĩa”: 15 năm qua đã vận đông hơn 14 tỷ 312 triệu đồng vào Quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây mới 640 nhà tình nghĩa với số tiền 8 tỷ 787 triệu đồng và giúp đỡ sửa chữa 1837 nhà bị xuống cấp với số tiền 9 tỷ 694 triệu đồng, vận động 2.363 sổ tiết kiệm với giá trị hơn 1 tỷ 313 triệu đồng để tặng các gia đình chính sách. Hiện nay thành phố có 164 mẹ VNAH được 155 cơ quan, đơn vị nhận phụng dưỡng thường xuyên với mức trên 500.000đ/tháng; Đến nay không còn hộ gia đình chính sách ở nhà tạm, dột nát và có 1720/2203 khu dân cư (79%) không còn hộ chính sách nghèo (theo chuẩn mới của thành phố); 51 phường, xã (đạt 91%).được UBND thành phố công nhận làm tốt công tác thương binh liệt sỹ.

Công tác nhân đạo, từ thiện đã vận động và trợ giúp cho người nghèo, người bị hoạn nạn… số tiền hơn 11 tỷ 113 triệu đồng. Đặc biệt, những hoạt động này được thể hiện rõ nét nhất trong việc nhân dân giúp nhau khắc phục hậu quả cơn bão số 1 (Chanchu) với số tiền hơn 4 tỷ 763 triệu đồng và bão số 6 (Xangsane) với số tiền hơn 14 tỷ 299 triệu đồng. Duy trì nồi cháo tình thương, xuất cơm cho người nghèo ở các bệnh viện luôn được duy trì thường xuyên.   

Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được triển khai chu đáo. Các mô hình như: “Tổ xe thồ tự quản” nhằm phát hiện và phòng chống tội phạm; mô hình “5 cộng 1” để thực hiện giúp đỡ cai nghiện và người vi phạm pháp luật đang được hoà nhập cộng đồng; “Câu lạc bộ 09”, “Câu lạc bộ sau cai”, “Tiếng kẻng an ninh”, “Cụm dân cư liên kết”, “Tộc họ không có người vi phạm pháp luật”…đã góp phần giữ vừng an ninh trật tự và thực hiện có hiệu quả hoạt động toàn dân tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép các chất ma tuý và cảm hoá, giáo dục, giúp đỡ người lầm lỗi ở cộng đồng khu dân cư. Năm 2000 có 31,2% khu dân cư không phát sinh tội phạm mới, đến đầu năm 2005 tỷ lệ này tăng lên là 58% và đến cuối năm 2009 là 70% khu dân cư không phát sinh tội phạm mới. Trong 10 năm qua có 10.178 lượt người được cảm hoá, giúp đỡ, giáo dục tại cộng đồng dân cư, trong đó có 5.488 lượt người đã tiến bộ. Có 88% khu dân cư không có người nghiện ma tuý mới, số được giúp đỡ sau cai tại công đồng là 1.166 lượt người, trong đó có 670 trường hợp đã cai được. Từ tháng 9 năm 2008, các khu dân cư triển khai thực hiện mô hình “Tổ dân phố, thôn không có tội phạm và tệ nạn xã hội”. Đây là mô hình tổng hợp các giải pháp có hiệu quả đã được thực hiện trong phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ An ninh Tổ quốc” ở các khu dân cư trong những năm qua. Hơn 53% khu dân cư không có người vi phạm an toàn giao thông trong nhiều năm liền, ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ và quy định đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy đã được nâng lên rõ rệt và được nhân dân chấp hành tương đối tốt. Công tác giám sát và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (nay là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn) được Mặt trận xã, phường và Ban công tác Mặt trận thường xuyên quan tâm thực hiện, đã có 1.820/2203 (đạt 83%) khu dân cư xây dựng quy ước, hương ước theo các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó có 1.745 quy ước, hương ước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Công tác hòa giải ở các khu dân cư thực hiện tốt, không những góp phần giải quyết các mâu thuẫn trong nôi bộ nhân dân ở khu dân cư mà còn làm hạn chế tối đa việc khiếu kiện đông người, vượt cấp. Hằng năm số vụ hoà giải thành đạt trên 90%, năm 2009 đã hòa giải thành 1.324vụ / 1.395 vụ. 

Mặt trận đã chú trọng vận động nhân dân tham gia giải quyết những vấn đề cấp bách trong cộng đồng về vệ sinh môi trường, nâng cấp và cải tạo đường kiệt, ngõ xóm, góp phần xây dựng trường học, trạm xá, nhà sinh hoạt cộng đồng, xoá bỏ những tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan, xây dựng và thực hiện tập quán mới, tạo cảnh quan mới ở các khu dân cư. Nhiều phong trào có ý nghĩa về văn hoá tinh thần và giáo dục sâu sắc đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng như: phong trào xây dựng “Đoạn đường (tuyến đường) an toàn – văn minh - sạch đẹp”, phong trào “Ông bà, cha mẹ mẫu mực con cháu hiếu thảo”, “Người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan”.

 Hàng năm có trên 80% hộ gia đình được công nhận danh hiệu Gia đình văn hoá. Riêng năm 2009 có 150.006/170.268 hộ (chiếm tỷ lệ 88,1%) số hộ đạt danh hiệu này, trong đó 82.069 hộ ( chiếm tỷ lệ 48,2%) đạt danh hiệu Gia đình văn hoá 5 năm liên tục, rất nhiều gia đình xứng đáng là tấm gương tiêu biểu cho tộc họ, cho cộng đồng học tập, làm theo. 

Chương trình ”Tiếp sức đến trường” được các khu dân cư hưởng ứng tích cực. Hiện nay có 1.818 khu dân cư không có trẻ em bỏ học (đạt 83%), trong đó có 1.468 khu dân cư 3 năm liên tục không có trẻ em bỏ học; 1.266 khu dân cư có quỹ khuyến học (đạt 58%); 1.762 khu dân cư có phong trào thể dục thể thao thường xuyên (đạt 80%) với hơn 24% người dân và hơn 17% số hộ tham gia tập luyện. Từ chỉ một vài câu lạc bộ năm 1997, đến nay đã có trên 40 câu lạc bộ võ cổ truyền, 16 câu lạc bộ taekwondo, 17 câu lạc bộ thể hình, 11 câu lạc bộ thể dục thẩm mỹ, hàng trăm câu lạc bộ cầu lông, bóng bàn, 54 câu lạc bộ dưỡng sinh. Từ cuộc vận động này đã có 1.506 khu dân cư không có người sinh con thứ 3 (chiếm 68%), trong đó có 1.082 khu dân cư 3 năm liên tục không có người sinh con thứ 3; có 2.083 khu dân cư có phong trào vệ sinh môi trường tốt (đạt 95%). 

Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp nhất là ở Ban công tác Mặt trận được tăng cường củng cố theo hướng đảm bảm số lượng và tăng cường chất lượng. Mặt trận đã thực hiện tốt công tác vận động, giám sát bầu cử Đại biểu Quốc hội các khoá X, XI , XII và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố các khoá V,VI,VII đúng theo luật định; đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh thông qua việc góp ý và lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt ở cơ sở.  

Hiện nay, cùng với việc chăm lo vun đắp khối đại đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân và tạo sự đồng thuận xã hội, cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" được các cấp Mặt trận tiếp tục  và mở rộng quy mô, làm cho cuộc vận động tiếp tục đi vào cuộc sống, tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến các lĩnh vực dân sinh, dân trí, dân chủ… đem lại kết quả thiết thực trên nhiều mặt của đời sống xã hội ở từng khu dân cư, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.  

                                                                                   Nguyễn Đăng Hải

Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN thành phố Đà Nẵng

Về đầu trang


Nâng chất các cuộc vận động, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Ngày 18-10, khai mạc Hội nghị tổng kết 15 năm cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”

Trong công cuộc đổi mới đất nước, công tác tăng cường vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống Mặt trận. Những năm qua, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động và chủ trì triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, cuộc vận động “ Ngày vì người nghèo” rộng khắp trên địa bàn toàn quốc. Đây là hai cuộc vận động lớn mang tính xã hội, nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên, cùng với thời gian, xuất hiện một số ý kiến băn khoăn về sự chồng chéo, lạc hậu,…trong nội dung các cuộc vận động. Ông Vũ Trọng Kim, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với báo chí để giải đáp một số thắc mắc của bạn đọc.  

Tình người không thể đong đếm

Thưa ông, người ta có thể giúp đỡ một ai đó trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, chứ rất khó để duy trì sự giúp đỡ lâu dài. Vậy mà cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do MTTQ chủ trì đã trải qua 10 năm. Đó là thời gian khá dài nếu xét trên phương diện kêu gọi lòng nhân ái? 

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký UBTƯMTTQ Việt Nam Vũ Trọng Kim:10 năm có thể là con số không nhỏ, nhưng tôi cho  rằng, tình người không đong đếm theo thời gian. Việt Nam ta vốn có truyền thống tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách”. Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” là một cách phát huy truyền thống tốt đẹp  của dân tộc. Sau 10 năm tổ chức thực hiện, cuộc vận động đã trở thành hoạt động thường xuyên và trọng tâm của các cấp Mặt trận trong cả nước. Các hoạt động giúp đỡ người nghèo diễn ra phong phú, đa dạng. Bản thân tôi cho rằng không ai thực tâm giúp người nghèo mà lại tính xem mình đã từng giúp bao nhiêu, như vậy liệu có quá nhiều,.... Trong những hoạt động giúp đỡ người nghèo, thời gian chỉ là minh chứng cho sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam.  

Theo ông, liệu có sự gượng ép nào không bởi nhiều nơi, người dân cũng còn rất khó khăn? 

- Sau 10 năm, tôi khẳng định rằng không có sự gượng ép bởi đây là cuộc vận động do Mặt trận phát động, mang tính chất động viên, khích lệ chứ không bắt buộc. Thành công của cuộc vận động bắt nguồn từ những tấm lòng nhân ái dành cho người nghèo. Có nhiều địa phương còn rất khó khăn, nhưng họ đã có những cách làm sáng tạo để thực hiện hiệu quả cuộc vận động này. Điển hình như Sóc Trăng, vốn là một tỉnh nghèo nhưng Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã phối hợp với UBND tỉnh phát động đợt vận động đặc biệt chăm lo cho người nghèo; tỉnh Hậu Giang với các chương trình, chủ đề phong phú như: “Hậu Giang ngày mới”, “Xoa dịu nỗi đau”, “Cảm thông và chia sẻ”, “Chương trình An sinh phúc lợi xã hội”... đã vận động được hàng trăm tỷ đồng trong một năm. Tỉnh Bình Dương có nhiều cách vận động ủng hộ người nghèo như tổ chức chương trình văn nghệ “Giai điệu tình thương”, “Giai điệu Bình Dương”, “Nghĩa tình chiến khu D”, đấu giá biển số xe đẹp và sim điện thoại đẹp ủng hộ người nghèo; tỉnh Vĩnh Long, tổ chức chương trình “Vòng tay nhân ái”, phối hợp vận động nhiều tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp trên địa bàn tham gia ủng hộ; MTTQ tỉnh Hà Tĩnh phối hợp tổ chức nhiều đêm giao lưu “Nhịp cầu nhân ái”, “Mái ấm cho người nghèo”, “Tết vì người nghèo”. MTTQ tỉnh Phú Thọ tham mưu và phối hợp tổ chức chương trình “Nối vòng tay nhân ái- vì người nghèo đất Tổ”; MTTQ tỉnh Cao Bằng phối hợp tổ chức chương trình truyền hình “Nối vòng tay lớn vì người nghèo”, chương trình “Ấm áp tình thân”, “Chung tay góp sức vì cội nguồn cách mạng” .... Các tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp cũng đã có nhiều hình thức phong phú và đa dạng chăm lo cho đoàn viên, hội viên nghèo. Nhờ đó, Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” ngày càng thấm sâu, lan toả đến mọi người, mọi nhà, xuất hiện hàng vạn tấm gương tiêu biểu trong các hoạt động nhân ái, tình nghĩa vì người nghèo. 

Tuy nhiên, như tôi đã nói, các con số chỉ là tượng trưng, tình người mới là điều quan trọng nhất. Và đó thực sự là điều không thể đong đếm được.  

Khu dân cư có mạnh thì đất nước mới vững mạnh

Nhân dịp tổng kết 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, MTTQ cũng tổng kết 15 năm cuộc vận động  “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Có điều gì đặc biệt khi 2 cuộc vận động này luôn gắn liền với nhau, thưa ông? 

- Nếu tính theo “tuổi đời”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đã trải qua 15 năm. Tuy nhiên, nếu không xoá đói, giảm nghèo thì không thể xây dựng được khu dân cư văn hoá. Đó cũng là lý do tại sao MTTQ lại duy trì song song 2 cuộc vận động này. Những nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được thực hiện một cách hiệu quả đã mang lại những kết quả khá toàn diện. Hai cuộc vận động sẽ bổ sung, hỗ trợ cho nhau để xây dựng những khu dân cư vững mạnh. Tôi cho rằng, các khu dân cư là nền tảng của quốc gia. Một đất nước vững mạnh thì phải  có các khu dân cư vững mạnh. Chính vì thế, những năm qua Đảng, Nhà nước ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện chính sách đầu tư, hỗ trợ cho vùng nghèo, người nghèo. Và cũng chính Mặt trận đã góp phần rút ra những bài học thực tiễn để xây dựng những chính sách đó. 

Một trong những nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” là “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế xã hội của địa phương và cả nước”. Điều này có tạo ra sự chồng chéo với nội dung cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”? 

- Trên thực tế, các cuộc vận động đều hướng tới việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Cuộc vận động “Ngày Vì người nghèo” nhấn mạnh đến sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân đối với người nghèo, còn cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” lại hướng trọng tâm vào việc phát động toàn dân thi đua phát triển kinh tế, làm giàu hợp pháp và xóa đói giảm nghèo, nhân rộng những cách làm hay, những sáng kiến mới, tạo ra nguồn lực tại chỗ để xoá đói giảm nghèo đạt kết quả nhanh và vững chắc. Đây cũng chính là động lực để người nghèo tự vươn lên thoát nghèo.  Nói như thế để thấy rằng, không hề có sự chồng chéo trong việc triển khai, thực hiện. 

Dù thực sự thành công thì cũng không có mô hình nào là bất biến. Sau 10 năm, 15 năm triển khai 2 cuộc vận động, đã xuất hiện những ý kiến xoay quanh vấn đề “lạc hậu” trong nội dung các cuộc vận động. Ông nghĩ sao về quan điểm này? 

- Thực tiễn sinh động ở các khu dân cư là minh chứng rõ nét cho kết quả của 2 cuộc vận động. Hội nghị tổng kết hôm nay sẽ làm rõ những kết quả đã đạt được, chỉ ra hạn chế, yếu kém, rút ra bài học kinh nghiệm; thống nhất phương hướng, nhiệm vụ và những giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng hai cuộc vận động. Mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 1869/CT-TTg ngày 10-10-2010 về việc tăng cường phối hợp đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong giai đoạn mới. MTTQ các cấp cần tiếp tục thực hiện, nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và  Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, bổ sung nội dung về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh với phương châm: Hướng về cơ sở, cộng đồng dân cư với quyết tâm nâng cao chất lượng hai cuộc vận động lớn, chú trọng bổ sung các nội dung, tiêu chí về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04-6-2010 của Chính phủ, thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05-8-2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII khoá X về “nông nghiệp, nông dân và nông thôn”; thực hiện phương châm “thành thị thúc đẩy, hỗ trợ nông thôn; công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp và động viên trí thức hỗ trợ nông dân”. Thiết nghĩ, những điều này sẽ giải đáp băn khoăn của ai đó về sự “lạc hậu” trong các cuộc vận động. 

Trân trọng cảm ơn ông!

Phạm Hằng (thực hiện)

Về đầu trang


Nhìn lại chặng đường 15 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ? khu dân cư”

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đã trở thành một phong trào rộng khắp, có sức lan toả trong toàn quốc, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong đời sống nhân dân, gắn liền với việc nâng cao vị thế và việc đổi mới nội dung,  phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp theo phương châm đưa công tác mặt trận về với địa bàn khu dân cư. Đây chính là một trong những nhiệm vụ chính trị, nội dung phương thức hoạt động đã được Mặt trận Tổ quốc các cấp xác định rõ trong thời gian qua.

Trải qua 15 năm, cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" ở tỉnh Phú Thọ đã đem lại hiệu quả thiết thực trên nhiều mặt của đời sống xã hội, thể hiện tính đúng đắn trong chủ trương của Đảng, được đông đảo các tầng lớp nhân dân nhiệt tình hưởng ứng và tham gia tích cực. Cuộc vận động đã được các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể của tỉnh quan tâm hưởng ứng và thường xuyên phối hợp với Mặt trận Tổ quốc đã tạo nên sự thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. 6 nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được đánh giá cụ thể là:

Nội dung 1: Đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Cuộc vận động tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong cộng đồng khu dân cư. Cùng với sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước thông qua các chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo, sự giúp đỡ trực tiếp từ cộng đồng là rất to lớn. Nhiều nơi đã có cách làm thiết thực như giúp đỡ ngày công, con giống, giúp đỡ về vốn, về kỹ thuật, chăn nuôi, trồng trọt, về giới thiệu việc làm.... đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3-5%/năm.

Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” đã được triển khai ở 100% khu dân cử trong tỉnh, đã trở thành hoạt động thường xuyên có hiệu quả với nhiều hình thức vận động phong phú. Chỉ tính riêng số quỹ vận động trực tiếp vào quỹ các cấp, không kể nguồn Ngân sách địa phương hay quỹ cấp trên điều chuyển về cùng các khoản thu hợp pháp khác, từ năm 2001 đến năm 2010, quỹ “Vì người nghèo” toàn tỉnh đã vận động ủng hộ và đăng ký ủng hộ được trên 127 tỷ đồng. Trong đó, năm 2010, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ tỉnh đã tổ chức chương trình “Nối vòng tay nhân ái – Vì người nghèo Đất Tổ” và vận động được các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và nhà hảo tâm ủng hộ, đăng ký ủng hộ trên 102 tỷ đồng (trong đó, riêng Quỹ cấp tỉnh vận động được 92 tỷ đồng). Số tiền trên đã sử dụng phục vụ cho các chương trình an sinh xã hội và xoá cơ bản xong gần 7000 nhà tạm trên địa bàn tỉnh.

Đây chính là một trong những nội dung quan trọng được chính quyền, MTTQ các cấp tỉnh quan tâm thực hiện nhằm động viên, phát huy nội lực của các tầng lớp nhân dân ở từng khu dân cư tham gia xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu. Thực hiện tốt nội dung trên, làm cơ sở, tiền đề cho việc triển khai có hiệu quả các nội dung khác của cuộc vận động.

Nội dung 2: Đoàn kết phát huy truyền thống tương thân tương ái đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa:  MTTQ các cấp trong tỉnh luôn quan tâm đến việc thăm hỏi, động viên các gia đình nghèo, gia đình chính sách, người có công với cách mạng. Vì vậy MTTQ các cấp đã triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào xã phường làm tốt công tác thương binh liệt sỹ và các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Công tác vận động, cứu trợ giúp đỡ đồng bào bị thiên tai bão lũ được phát động kịp thời: trong năm năm qua, Uỷ ban MTTQ tỉnh tổ chức phát động ủng hộ trên toàn tỉnh và nhận được sự ủng hộ của nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài tỉnh với số tiền trên 12 tỷ đồng, 1.800 tấn gạo và nhiều hàng hoá hiện vật trị giá hàng trăm triệu đồng, đặc biệt từ năm 2008 đến nay đã vận động được gần 8 tỷ đồng nhằm hỗ trợ nhân dân trong và ngoài tỉnh bị thiên tai, bão lũ...

Nội dung 3: Đoàn kết phát huy dân chủ giữ gìn kỷ cương, mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật: Tính đến nay toàn tỉnh đã có 2.464/2.875 khu dân cư xây dựng được quy ước, hương ước. Nhân dân đã tích cực tham gia hoạt động hoà giải các mâu thuẫn sảy ra tại cộng đồng dân cư. Gắn với việc đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Ban Công tác mặt trận khu dân cư đã quan tâm tuyên truyền chủ trương chính sách pháp luật trong nhân dân. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân học tập, tìm hiểu và chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. MTTQ các cấp đã và đang thực hiện có hiệu quả Đề án 02-212 về “ Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư” triển khai trên toàn tỉnh. Đồng thời thực hiện dân chủ ngay từ địa bàn khu dân cư thông qua các hình thức: dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và các hoạt động tự quản.

Nội dung 4: Đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc: Uỷ ban MTTQ các cấp đã tổ chức tốt việc đăng ký gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến. Hầu hết các khu dân cư đã chú trọng việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, các hoạt động văn hoá, thể thao, tham gia xây dựng thiết chế văn hoá, nhà văn hoá... Tính đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được 2.292 nhà văn hoá/2.875 khu dân cư, đạt gần 80%.

Nội dung 5: Đoàn kết chăm lo sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát triển thể dục thể thao và chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình, môi trường: Qua cuộc vận động các khu dân cư tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, với sự quan tâm của gia đình, dòng họ, của cộng đồng dân cư để chăm lo cho sự nghiệp giáo dục của con em. Chăm lo, duy trì việc phổ cấp giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và phấn đấu phổ cập giáo dục bậc Trung học.

Hầu hết các xã đều có Trung tâm học tập cộng đồng. Nhân dân đã ý thức tự giác đóng góp công sức, tiền của cùng với Nhà nước chăm lo xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà trẻ, trường học, tạo môi trường giáo dục toàn diện.

Nội dung 6: Đoàn kết xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh gắn bó mất thiết với nhân dân trong khu dân cư: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong tham gia xây dựng chính quyền, Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên đã tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân ở cộng đồng được nâng cao về chất lượng. Các hoạt động giám sát đại  biểu dân cử và cán bộ viên chức tại cộng đồng dân cư được đẩy mạnh, phát hiện và đóng góp những ý kiến quý báu giúp cho đội ngũ cán bộ các cấp, ngành tại cộng đồng dân cư. Nhân dân đã tích cực bàn bạc dân chủ tham gia giải quyết những bức xúc tại khu dân cư công khai và đi vào nề nếp.

Từ những kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, để tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong tình hình mới, MTTQ các cấp trong tỉnh cần xác định một số giải pháp sau:

Một là: Coi trọng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân ở khu dân cư, tập trung được mọi tầng lớp, giới tính, độ tuổi cùng tham gia. Đại đoàn kết toàn dân phải dựa trên cơ sở vừa huy động sức dân vừa coi  trọng việc chăm lo và bồi dưỡng sức dân. Từ đó tạo nên động lực thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của Cuộc vận động trong toàn xã hội. Trên cơ sở đó tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nhận thức và tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước do Uỷ ban MTTQ phát động tại địa bàn khu dân cư.

Hai là: Tiếp tục triển khai và thực hiện tốt Nghị quyết 20/NQ-TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Tiếp tục đổi mới nội dung phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân đến năm 2015”. Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện sâu rộng trong toàn xã hội Quyết định 290-QĐ/TW và các Kết luận số 57, 62, 65-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận, về xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đổi mới nội dung phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị. Trong đó chú trọng nâng cao chất lượng Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" với chất lượng mới; nhân ra diện rộng những kinh nghiệm hay, những điển hình mới, thực hiện việc đưa công tác Mặt trận đến từng gia đình, từng người dân, bám sát cuộc sống của nhân dân, làm cho Mặt trận thực sự là chỗ dựa tin cậy của dân.

Ba là: Phối hợp tổ chức tốt các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của nhân dân trong xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, nâng cao chất lượng tổ chức ngày hội “Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư­ vào dịp 18/11 hàng năm gắn với  việc bình xét thi đua đánh giá kết quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”.

Bốn là: Tiếp tục nâng cao chất lượng hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, gắn với nội dung xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết TW 7 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhằm sớm triển khai có hiệu quả Chỉ thị 1869/CT – TTg ngày 10/10/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về việc tăng cường phối hợp với Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” trong giai đoàn mới. Nội dung trên được tiến hành theo lộ trình sau: Giai đoạn 2011 – 2015: xây dựng 95 xã đạt nông thôn mới, đồng thời phấn đấu để toàn tỉnh có 3 huyện đạt tiêu chuẩn huyện nông thôn mới. Giai đoạn 2016 – 2020: sẽ xây dựng 112 xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới cho 8 huyện còn lại. Phấn đấu đến năm 2020, Phú Thọ đạt tỉnh nông thôn mới.

Phát huy truyền thống vẻ vang 80 năm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ giữa MTTQ với chính quyền và các tổ chức thành viên chắc chắn các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước do MTTQ Việt Nam phát động, đặc biệt  là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” sẽ thu được những kết quả tốt đẹp, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương ngày càng giàu mạnh./.

                                                                                Ông Trần Phù Tiêu

Uỷ viên ĐCT Uỷ ban TƯ MTTQ Việt Nam, TUV,

 Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh Phú Thọ

Về đầu trang


Xóm Xuân Đám gắn thực hiện cuộc vận động với xây dựng nông thôn mới

Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xóm Xuân Đám, xã Đồng Liên huyện Phú Bìnhtỉnh Thái Nguyên là một trong những khu dân cư đã gắn Cuộc vận động vào hoạt động của Ban công tác Mặt trận, để khơi dậy sức mạnh toàn dân chung sức xây dựng diện mạo nông thôn mới. 

Những năm qua, thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, Ban công tác Mặt trận xóm Xuân Đám, xã Đồng Liên luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân khắc phục khó khăn, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động, góp phần chuyển hóa những nội dung CVĐ thành những nhiệm vụ cụ thể, thiết thực đối với khu dân cư.

 Phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo là điều kiện cơ bản để ổn định đời sống của nhân dân ở khu dân cư. Nhận thức rõ về vấn đề này, Ban CTMT đã vận động nhân dân gieo trồng hết diện tích lúa theo kế hoạch và cùng với chính quyền thôn mời cán bộ khuyến nông của huyện, tỉnh về hướng dẫn kỹ thuật trồng đậu tương, trồng ngô giống cao sản và dưa chuột năng xuất cao trên đất hai lúa....do vậy đời sống của nhân dân nâng cao một bước đáng kể như bình quân lương thực năm 1995 đạt 310kg/người, đến năm 2010 đạt 480 kg/người. Ban công tác Mặt trận đã phối hợp với các tổ chức thành viên vận động nhân giúp nhau giống, vốn để phát triển sản xuất, từ đó hộ nghèo trong thôn ngày càng giảm, số hộ khá, giàu ngày càng tăng; năm 1995 số hộ nghèo trong xóm có 31,3%, năm 2009 chỉ còn 7,8%, thu nhập bình quân đạt 12 triệu đồng/người/năm. Điển hình là hộ gia đình chị Đoàn Thị Hồng, thường xuyên nuôi từ 200-300 con gà và 20-30 con lợn để cung cấp giống cho bà con trong thôn chăn nuôi và cho nợ tiền giống đến khi thu hoạch mới trả; từ kinh doanh dịch vụ chị còn tạo việc làm cho hàng chục lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập bình quân 1,5 triệu – 2 triệu đồng người/tháng.

Trong những năm qua xóm được đầu tư hơn 3 tỷ đồng cho các công trình xây dựng hạ tầng cơ sở như đường giao thông liên xã, xây dựng kênh mương nội đồng, quy hoạch đất dân cư và dịch vụ, xây dựng nhà văn hoá, sân tập thể thao, trong đó nhân dân đóng góp trên 600 triệu, diện mạo từng thôn xóm đã đổi thay theo hướng khang trang, sạch đẹp. Trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, an ninh nông thôn tiếp tục được tăng cường và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Phong trào rèn luyện và chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em được thực hiện tốt, trẻ trong độ tuổi được tiêm phòng các loại vác-xin, các dịch bệnh đã được kiểm soát; công tác Dân số- KHHGĐ được cụ thể hoá thành tiêu chí, coi đó là tiêu chuẩn quan trọng trong việc phấn đấu trở thành gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến. Do vậy, từ năm 1995 đến nay, khu dân cư không có người sinh con thứ 3.  

Ngoài ra Ban CTMT đã tích cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo phương châm “Dân biết - Dân bàn - Dân làm - Dân kiểm tra - Dân giám sát”. Vận động nhân dân tích cực tham gia phong trào phòng chống các tệ nạn xã hội, phòng chống tội phạm., thực hiện an toàn giao thông, bảo vệ môi trường. Cuộc vận động đã phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, “Tương thân, tương ái”, “Lá lành đùm lá rách”. Hàng năm Ban Công tác Mặt trận đều tổ chức, thành lập đoàn cán bộ của thôn đến từng hộ gia đình chính sách, người có công thăm hỏi, động viên và tặng quà nhân dịp các ngày lễ, ngày tết. Bên cạnh đó, Ban Công tác Mặt trận đã vận động các tổ chức thành viên góp được 200 ngày công, động viên nhân dân trong xóm hỗ trợ xây dựng 7 nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; ủng hộ xây dựng trường Tiểu học Đồng Liên; đóng góp xây dựng các loại quỹ đạt gần 50 triệu, ngoài ra còn vận động nhân dân ủng hộ các hộ neo đơn, gia đình chính sách, ủng hộ xây dựng Đền thờ Liệt sỹ, đến nay, 100% hộ gia đình chính sách trong thôn đã thoát nghèo và có cuộc sống ổn định.

 Đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc được quy định hết sức cụ thể trong hương ước của thôn và được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân để bà con nắm bắt và thực hiện các quy định trong hương ước ngày một tốt hơn. Cụ thể là trước năm 2004 việc tổ chức đình đám ma chay, cưới hỏi…còn có nhiều hủ tục lạc hậu, tốn kém và lãng phí đến nay các đám cưới đã không hút thuốc lá, thanh niên không uống rượu say; đám hiếu đã hạn chế ăn uống tốn kém và kéo dài…vận động nhân dân hiến trên 7.000m2 đất để làm đường giao thông, tuyên truyền, vận động bà con giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm xanh - sạch - đẹp, hầu hết các tuyến đường trong xóm đã bê tông hoá và vôi hoá; xóm đã có tổ thu gom rác thải của các hộ gia đình chở về đổ ở nơi quy định.

Năm 2005 cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước nhân dân xóm đã đóng góp xây dựng được nhà văn hoá rộng 140 m2, sân bê tông trên 400 m2, với 2 sân cầu lông, và bóng chuyền. Phong trào TDTT, VHVN ngày càng phát triển, đến nay xóm đã thành lập đội văn nghệ, đội cầu lông, bóng đá có trên 50 thành viên tham gia, hàng năm vào các dịp lễ, tết và ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư (18/11) xóm Xuân Đám đều tổ chức giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, tạo được không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân. Từ năm 2001 đến nay, xóm liên tục đạt danh hiệu khu dân cư văn hoá, năm 2009 xóm vinh dự được Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tặng Bằng khen đạt thành tích xuất sắc trong công tác Mặt trận.

 Có thể nói, qua thực hiện các phòng trào, các cuộc vận động, đã giúp khơi dậy tình làng, nghĩa xóm, tinh thần đoàn kết cộng đồng, đoàn kết, tăng cường và  đùm bọc lẫn nhau của bà con nhân dân ở Xuân Đám ngày càng được thể hiện, góp phần vào xây dựng diện mạo nông thôn mới ở Phú Bình.

                                                                                                              Bắc Lệ

Về đầu trang


Sự sáng tạo trong hoạt động tuyên truyền vận động của các chức sắc trong công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ở Thái Bình và Hưng Yên

Qua các con số thống kê và ý kiến của người dân cho thấy, nhiều người dân quan tâm về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh và hưởng ứng việc triển khai các mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục tình trạng Mát cân bằng giới tính khi sinh”. Việc triển khai các mô hình là nhu cầu cấp thiết và biện pháp hữu hiệu cho việc giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức triển khai thí điểm tại địa bàn 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình là phù hợp.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đặt ra trong cả nước nói chung và tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh tại Hưng Yên và Thái Bình cùng với nhu cầu ứng dụng mô hình nói riêng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) tiến hành khảo sát, xây dựng mô hình. Từ đó phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng Giáo hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên, tại Thái Bình là vận động sự ủng hộ của tòa Giám mục Thái Bình để triển khai thực hiện mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại các xã điểm Đại Đồng và Chỉ Đạo của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại xã Đông Cường (Đông Hưng), Nam Hải (Tiền Hải), tỉnh Thái Bình. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò của các chức sắc tôn giáo trong việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Cụ thể, tại Hưng Yên, trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô hình, Ban Thường trực, Ban Chỉ đạo các Tăng Ni đã có những cách làm sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ (trụ trì chùa Nôm, xã Đại Đồng) đã chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hưng Yên về giảng dạy trực tiếp những nội dung liên quan đến vấn đề mất cân bằng giới tính cho các tín đồ Phật tử. Tại buổi tuyên truyền đã có 150 Phật tử tham gia nghe giảng. Bên cạnh đó, trụ trì của các Chùa cũng thường xuyên lồng ghép nội dung về mất cân bằng giới tính vào các buổi thuyết pháp, giảng đạo cho tín đồ trong các ngày lễ.  “Thầy Huệ rất nhiệt tình. Tiếng nói của thầy rất có uy tín. Thầy bận nhiều việc nhưng báo trước thì thầy cũng đi cùng “Các vị chức sắc ở xã hiện giờ mới có chùa vân Ổ là sư Tiến, chùa Đại Từ có sư Giang, chùa Lộc Thượng thì có sư Từ nhưng sư Từ thì cũng chưa được nhập khẩu ở chùa, cũng toàn đi học. Còn sư Tiến, sư Giang và thầy Huệ đây thì rất tích cực. Như hôm buổi lễ Vu Lan trên Vân Ổ, các sư cũng lồng ghép tuyên truyền, và còn tặng cho mỗi Phật tử một quyển sổ có những lời nói của Chùa dạy, cũng hay lắm. Còn ở chùa Nôm này thì thầy Huệ tổ chức vào ngày mùng 4 nói chung Phật tử cũng đông, có thể tuyên truyền. Các vị chức sắc nhiệt tình, thầy Huệ chỉ đạo thì mọi người đều nghe theo. Kể cả Phật tử lẫn các chức sắc thuộc quản lý của thầy. Tại Thái Bình, những buổi thuyết giảng không chỉ được lồng ghép tại các buổi sinh hoạt do UBMTTQ đề nghị mà còn thuyết giảng tại các lễ hôn phối cho các vợ chồng trẻ sau khi xây dựng gia đình. Linh mục Vũ Công Phước đã tổ chức thuyết giảng tại các lễ hôn phối. Ở các buổi lễ trọng như vậy thu hút người dân tham gia rất đông đảo. Việc các vị linh mục tổ chức lồng ghép thuyết giảng các kiến thức về mất cân bằng giới tính sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao.

“Các kiến thức liên quan đến mất cân bằng giới tính được lồng ghép vào các buổi lễ khá nhiều, kết hợp so sánh với các giáo lý giáo luật, kiến thức đời như vậy thì mình là con cái của chúa cần phải hiểu sâu hơn. Số lượng người vào những ngày đông nhất thì phải hơn 1000 người đến dự. Khi vào phần quan trọng thì có linh mục được nói. Giáo dân phải tuân theo buộc phải nghe. Ngày chúa nhật chính là ngày học đạo, lời chúa muốn nói với từng người một. Mỗi một tuần có chủ đề riêng đều có nội dung, ví dụ về hôn nhân đều có chúa nhật riêng về hôn nhân. Sự chuẩn bị bài giảng rất vất vả đòi hỏi phải có sự cập nhật thường xuyên. Giáo lý hôn nhân thì chủ yếu là hôn phối. Còn vào ngày chúa nhật thì nói trước buổi lễ 15-20 phút. Bài giảng là rất quan trọng. Có những bài giảng thì được ghi băng, nhưng không bán rộng rãi, chỉ bán ở các cơ sở chính như các nhà thờ lớn”

Tại các xã thí điểm mô hình trên địa bàn 2 tỉnh và các chức sắc tôn giáo nhận thức và nắm bắt được rõ ràng mục tiêu của việc thực hiện mô hình. Căn cứ vào mục tiêu của chương trình, thực tế tình hình địa phương và mục tiêu của Đại hội Đảng bộ địa phương về công tác dân số, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc của 2 Tỉnh Hưng Yên và Thái Bình đã phối hợp với các Tăng Ni trụ trì các chùa (ở Hưng Yên), và các linh mục chánh xứ kết hợp với các chức việc, trùm trưởng các giáo xứ, họ lẻ (tại Thái Bình) để tổ chức thực hiện.

Phải khải định rằng hoạt động tuyên truyền Kế hoạch hoá gia đình của các chức sắc đã tạo sự đồng thuận, ủng hộ và cam kết của các vị chức sắc tôn giáo trong việc giáo dục, thuyết phục các tín đồ về khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đạt hiệu quả cao thông qua tổ chức hoạt động của mô hình và tăng cường năng lực tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, đặc biệt là những vùng có đông đồng bào là tín đồ tôn giáo nhằm chuyển biến nhận thức của nhân dân về vấn đề này.

Về đầu trang


Mô hình “Gia đình đồng bào Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng với diện tích tự nhiên 1.537,8 km2. Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách Hà Nội 110km về phía đông nam, cách Hải Phòng 70 km về phía tây nam. Thái Bình tiếp giáp 5 tỉnh, thành phố: Phía bắc giáp Hải Dương, phía Tây Bắc giáp Hưng Yên, phía Đông Bắc giáp Hải Phòng, phía Tây giáp Hà Nam, phía Tây và Tây nam giáp Nam Định, phía Đông là biển Đông. Thái Bình có dân số khoảng 1.780.954 người (919.833 nữ) với 542.465 hộ, tập trung ở 8 huyện. Thành phố, mật độ gần 1.200 người/km2. Mật độ dân số 1152 người/km2. Áp lực dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn. Tỷ số giới tính khi sinh là 111,6/100.

Thái Bình cũng là một tỉnh có nhiều tôn giáo, đồng bào có đạo chiếm 11% dân số toàn tỉnh. Với mô hình “Đồng bào Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” được triển khai thí điểm tại 2 xã: Đông Cường (huyện Đông Hưng) và xã Nam Hải (huyện Tiền Hải).

Nam Hải có diện tích đất tự nhiên 701 ha, cách trung tâm huyện 12 km có dân số đông, có khoảng 2.782 hộ với 11.021 nhân khẩu được chia thành 9 thôn. Tổng số sinh 6 tháng đầu năm 2010: 88 cháu. Tỷ lệ sinh 1,6%. Nhân dân trong xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, xã có 2 làng nghề dệt chiếu cói và đan mây tre. Ngoài ra còn một số nghề đánh bắt cá biển và chế biến nước mắm. Tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 102,24 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,2%, thu nhập bình quân đầu người đạt 9,2 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trong tiểu thủ công nghiệp, xây dựng (29,7%), dịch vụ thương mại (18,8%), giảm tỷ trọng nông nghiệp (49,4%). Hiện nay Nam Hải có 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo chiếm 25% dân số trong xã, có 2 nhà thờ xứ, 3 nhà thờ họ lẻ và 1 đền khấn Vi Xen Tê, 1 nhà phước, có 1 linh mục quản 2 xứ. Đạo Phật có 5 chùa (Chùa Đông, Chùa Trung, Chùa An Tứ, Chùa Tây và Chùa An Hạ), 3 đền, có một đại đức kiêm nhiệm và 4 sư thầy, 4 sư bác, 4 tiểu. 

Đồng Cường là địa phương là sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,1%. Cơ cấu kinh tế đang hướng đến giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp, tăng tỷ trọng kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Giá trị sản xuất bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 16,6 triệu đồng/ người, tỷ lệ hộ giàu và khá tăng, hộ nghèo giảm xuống còn 11,6%. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo chiếm 28% dân số xã với 421 hộ giáo dân với 2029 nhân khẩu. Có 1 giáo xứ, 6 nhà họ lẻ, 1 nhà thờ xứ. Đạo Phật có 5 chùa 2 đền. 

Thực trạng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam, ở địa phương, hậu quả của việc mất bình đẳng giới và những lời khuyên của giáo hội công giáo với bà con tín hữu (cùng với quy định của Luật Bình đẳng giới) để xây dựng gia đình hạnh phúc.

Cả 2 xã đều tổ chức sinh hoạt chuyên đề với 6 nhóm. Đặc biệt, vào Lễ Chúa nhật cuối tháng 3 và tháng 6, tại nhà thờ giáo xứ Đông Thành, Thục Thiện, xã Nam Hải; Nhà thờ xứ Đông Khê, nhà thờ họ Tào Xá xã Đông cường, đã có 1.650 người đến làm lễ và nghe Linh Mục thuyết giảng và tiếp tục tổ chức sinh hoạt định kỳ nhóm thứ 2 của năm 2009. Chủ đề sinh hoạt về Bạo lực gia đình: Thực trạng và ảnh hưởng xấu của bạo lực gia đình, những quy định của pháp luật, Giáo luật về phòng chống bạo lực giao đình cũng như trách nhiệm của mỗi người  trong việc thực hiện xây dựng gia đình không có bạo lực.

Qua tổ chức sinh hoạt nhóm định kỳ lần thứ 3 trong năm 2009 về  tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam và một số nước, nguyên nhân, hậu quả của nó. Kèm theo là những tham vấn, lời khuyên của Giáo hội đối với đồng bào Công giáo nói riêng, những quy định của pháp luật và lời khuyên của cộng đồng nói chung về khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Ban điều hành đã đưa  ra những phương án và lời khuyên để thực hiện tốt vấn đề dân số vấn đề gia đình, hành vi bạo lực gia đình, tình hình mất cân bằng giới tính của mỗi quốc gia, những việc làm góp phần giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và lồng ghép vào cuộc vận động  “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào thi đua yêu nước xây dựng xứ họ đạo 4 gương mẫu của đồng bào Công giáo.

Qua các buổi sinh hoạt đã vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách dân số, gia đình trong đó có việc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính tại khu dân cư, xứ và họ giáo. Việc triển khai mô hình vào 4 nhóm đồng bào không là công giáo tại các địa bàn triển khai là sự linh hoạt hiệu quả của Ban điều hành MTTQ tỉnh Thái Bình, không chỉ gây tác động tốt trong dư luận quần chúng mà còn tạo sự so sánh, nhìn nhận hiệu quả trong việc rút kinh nghiệm cũng như bổ sung trong quá trình hoàn thiện các phương pháp thực hiện. Đối với nam nữ thanh niên bên Công giáo thì Giáo lý quy định trước khi kết hôn phải tham gia lớp học về Giáo lý hôn nhân, sau khi kiểm tra, đánh giá và được xét cấp chứng chỉ thì mới được phép kết hôn. Trong cộng đồng Thiên chúa giáo việc giáo dục đạo đức cũng như quy định về hôn nhân được tiến hành chặt chẽ nên tỉ lệ ly hôn rất ít. Trong công tác tuyên truyền vận động dân số- kế hoạch hóa gia đình cần có sự tham khảo cách làm hiệu quả này. Các lớp về giáo lý hôn nhân được tiến hành thường xuyên, linh mục phụ trách chuẩn bị tài liệu, cập nhật thông tin phục vụ cho quá trình học.

Hơn 1 năm thực hiện mô hình, Ban Thường trực Ủy Ban MTTQ Thái Bình đã tổ chức được 6 lần sinh hoạt định kỳ với những nội dung khác nhau, có sự linh hoạt và phong phú. Trước mỗi kỳ sinh hoạt, Ban Thường trực đã trực tiếp trao đổi, mời các vị linh mục đảm nhiệm, nhiệm vụ mục vụ ở xứ, để họ thuyết giảng tại các nhóm đồng bào Công giáo,  hợp đồng với giảng viên cán bộ Hội phụ nữ, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và MTTQ tỉnh thuyết trình tại các nhóm còn lại. Trong quá trình thực hiện có sử dụng tài liệu do các giảng viên biên soạn, Ban Thường trực Ủy Ban MTTQ tỉnh in, phô tô gửi cho hội viên theo kỳ sinh hoạt cùng với tài liệu của Trung ương cấp trên 2000 cuốn tài liệu và hàng nghìn tờ rơi phát cho hội viên. Công tác thực hiện mô hình của Ban Điều hành dự án đã có hiệu quả và từng bước đi vào chiều sâu.

UBMTTQ ngoài việc lồng ghép các hoạt động vào mô hình “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của khu dân cư”, còn có sự  lồng ghép việc thực hiện mô hình hiệu quả vào phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Lồng ghép vào 2 phong trào thi đua xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu và Xứ họ đạo 4 gương mẫu. Mô hình giảm thiểu tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh của đồng bào Công giáo được lồng ghép vào cuộc thi đua này là một thành công lớn và tạo thuận lợi căn bản cho việc thực hiện.

Qua công tác triển khai đã có 100 % các cơ sở tôn giáo đăng ký xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu, Xứ họ đạo 4 gương mẫu. Đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề, hạn chế thấp nhất người sinh con thứ 3. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc sinh con có trách nhiệm và bình đẳng giới tính khi sinh. Sự lồng ghép linh hoạt vào các phong trào thi đua đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu quả trong việc tác động tới nhận thức của nhân dân nói chung và nhóm đồng bào theo đạo nói riêng.

Một điểm sáng tạo mới tại Thái Bình đó là lồng ghép vào cuộc vận động thi đua xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu và Xứ họ đạo 4 gương mẫu trong phong trào thi đua  Dân Vận Khéo của tỉnh, nội dung thi đua có đưa các tiêu chí để góp phần làm giảm tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh tại địa phương, việc lồng ghép có sự linh hoạt và hiệu quả.

Về đầu trang


Công tác triển khai mô hình điểm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tại Hưng Yên

Tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, Hưng Yên có 23 km quốc lộ 5A và trên 20 km tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy qua. Ngoài ra Hưng Yên có quốc lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua thị xã đến quốc lộ 1A qua cầu Yên Lệnh và quốc lộ 10 qua cầu Triều Dương, là trục giao thông quan trọng nối các tỉnh Tây- Nam Bắc bộ (Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa…) với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh. Hưng Yên có diện tích 923 km². 

Theo số liệu Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 01/04/2009, Hưng Yên có 1.128.702 người với mật độ dân số 1.223 người/km² bao gồm 1 thành phố và 9 huyện: Thành phố Hưng Yên; các huyện: Ân Thi, Khoái Châu, Mỹ Hào, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ. Hưng Yên có 3 Tôn giáo: Đồng bào theo Công giáo chiếm 15%, theo Đạo  Phật giáo 82% và theo đạo Tin Lành 0,3%. Công giáo trên địa bàn có 11 linh mục, chịu sự chỉ đạo của 4 Toà Giám mục (Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình); về Đạo Phật có 1 Ban Trị sự Hội Phật giáo tỉnh. Mỗi huyện, thành phố có 1 Ban Đại diện Hội Phật giáo huyện.

Huyện Văn Lâm nằm ở phía Bắc tỉnh Hưng Yên, phía Bắc huyện giáp tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, phía Nam giáp huyện Mỹ Hào và huyện Yên Mỹ, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp thành phố Hà Nội và huyện Văn Giang. Có 11 đơn vị hành chính, gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 74,42 km2. Huyện Văn Lâm có tổng diện tích tự nhiên là 74,42km2, trong đó: đất nông nghiệp 4.674,68 ha (chiếm 62,81%), đất chuyên dùng 1.740,83 ha (chiếm 23,39%), đất ở 709,02 ha (chiếm 9,53%), đất chưa sử dụng 317,66 ha (chiếm 4,27%). Văn Lâm đang phát triển các khu công nghiệp, đây cũng là huyện có kinh tế đang ngày càng phát triển.

Xã Đại Đồng có diện tích 8,03km2, dân số của xã khoảng 9.400 nhân khẩu với 2.400 hộ. định cư ở 9 thôn, trong đó có 2 thôn đông dân cư là Văn Ổ và Đại Từ. Mỗi năm dân số tăng khoảng 1,2%, đặc biệt số bé trai sinh ra tăng nhiều và tỷ lệ người sinh con thứ 3 tăng, chủ yếu tập trung ở những hộ có kinh tế khá giả hoặc chưa có con trai.

Đại Đồng về cơ bản vẫn là một xã nông nghiệp, phần đa người dân là làm ruộng. Diện tích canh tác toàn xã có khoảng 419,16 ha. Theo báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng đầu năm 2010 cho biết: tổng giá trị thu nhập của xã đạt 40.720 triệu đồng; tăng 4.520 triệu đồng so với năm 2009. Trong đó thu từ nông nghiệp chiếm 40,6%; từ tiểu thủ công nghiệp 27,4% và từ thương mại, dịch vụ chiếm 32%. Như vậy cơ cấu kinh tế đang có bước dịch chuyển, không chỉ là thuần nông như trước.

Phần lớn người dân trong xã theo đạo Phật. Đại Đồng có 6 ngôi chùa, trong đó có một chùa được xếp hạng di tích lịch sử, các ngôi chùa mới xây đều do nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng. Ngoài ra có một thôn theo Công giáo toàn tòng (thôn Đình Tổ) với 345 tín đồ. Đặc trưng ở xã Đại Đồng là sự lớn mạnh của 13 dòng họ. Mỗi dòng họ đều có nhà thờ họ riêng. Vai trò của người trưởng họ có ảnh hưởng rất lớn đến mỗi thành viên trong việc ra quyết định của các thành viên trong dòng họ.

Xã Chỉ Đạo có dân số khoảng 7449 nhân khẩu với 1995 hộ là một xã lao động nông nghiệp với 350,90 ha diện tích đất canh tác. Song trong những năm gần đây, nhiều người dân đã hướng đến những hình thức lao động khác như: làm công nhân trong các xí nghiệp, công ty trong khu công nghiệp mới xây dựng; một số người ra thành phố lao động (sáng đi tối về); nhiều gia đình làm nghề tái chế...Kinh tế của người dân có phần khá hơn trước. Chỉ Đạo chỉ có một tôn giáo duy nhất là Phật giáo, chịu sự chỉ đạo của Ban Đại diện Hội Phật giáo huyện Văn Lâm. Xã có 4 thôn và cả 4 thôn đều có chùa riêng, có 2 khu: Cát Linh và Đông Mai là chùa có sư trụ trì. Đây cũng là một yếu tố thuận lợi cho việc triển khai mô hình.

Sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở Hưng Yên đang là vấn đề nổi cộm và được chính quyền đặc biệt quan tâm, và là một trong những vấn đề nóng của công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình. Việc mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai về giới tính. Những tác động của nó ảnh hưởng tiêu cực không chỉ tới cơ cấu dân số mà còn làm nảy sinh những vấn đề xã hội phức tạp.

Mặc dù đã có một hệ thống văn bản đầy đủ từ Trung ương đến địa phương và các chương trình, hoạt động về dân số được triển khai, song cơ cấu dân số của tỉnh Hưng Yên những năm gần đây vẫn có những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đang trong tình trạng báo động. Theo báo cáo về tình hình dân số của tỉnh Hưng Yên, trong quý I năm 2010, tỷ số giới tính của tỉnh là 130/100. Tỷ lệ sinh con thứ 3 năm 2009 chiếm 9,1% (1.618 người), phần lớn con thứ 3 là con trai. Trường hợp này chủ yếu rơi vào những gia đình có kinh tế khá giả và chưa có con trai. Điều đó đã góp phần khiến cho sự chênh lệch giới tính khi sinh của tỉnh càng cao hơn.

Cụ thể đối với huyện Văn Lâm – địa bàn triển khai mô hình – tỷ số này là 120/100. Trong 6 tháng đầu năm 2009, tại 2 xã được chọn thí điểm mô hình, tỷ số giới tính như sau: xã Đại Đồng 161/100 và xã Chỉ Đạo là 138/100. Như vậy con số thực tế cho thấy sự mất cân bằng về giới tính ở Hưng Yên nói chung và 2 xã thí điểm nói riêng đang ở mức rất cao.

Với tình hình trên Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hưng Yên đã họp và chỉ đạo các ban chuyên môn khảo sát về tình hình thực hiện chương trình Dân số của tỉnh. Căn cứ vào mục tiêu chương trình và kết quả khảo sát này, Ban Thường vụ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh thống nhất chọn 2 xã Đại Đồng và Chỉ Đạo thuộc huyện Văn Lâm để thực hiện mô hình. Sau khi khảo sát Mặt trận Tổ quốc tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện mô hình. Thành phần Ban Chỉ đạo bao gồm: Về phía Giáo hội Phật giáo có 2 vị Phó ban Trị sự Giáo hội tham gia; về phía Mặt trận có 2 đồng chí lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc tỉnh, cán bộ uỷ viên thường trực Mặt trận Tổ quốc huyện cùng các cán bộ trong Hội phụ nữ, Sở Y tế, Chi cục Dân số.

Sau khi được sự chỉ đạo triển khai của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và huyện Văn Lâm, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc 2 xã Chỉ Đạo, Đại Đồng đã cùng với thường trực Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã ra quyết định thành lập ban chỉ đạo cấp xã gồm 10 người, trong đó có các cán bộ trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, Đảng ủy, cán bộ Tư pháp, Dân số, Hội phụ nữ, Y tế và 2 chức sắc tôn giáo (trụ trì chùa Đông Mai và chùa Cát Lư).

Ban Chỉ đạo xã Đại Đồng hướng dẫn các ban vận động, các nhóm tổ chức cho hơn 1570 hộ gia đình đăng ký cam kết thực hiện 6 nội dung do Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên xây dựng và xã Đại Đồng, tại xã Chỉ Đạo, các khu dân cư thành lập các nhóm tuyên truyền, tổ chức triển khai cam kết xuống các hộ gia đình Phật tử (1584 gia đình ký cam kết) và lồng ghép hoạt động mô hình vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng gia đình văn hóa của các khu dân cư” trong các ngày lễ kỷ niệm tại các khu dân cư. Lồng ghép tuyên truyền mất cân bằng giới tính vào các buổi chuyển giao Khoa học kỹ thuật, phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo vệ sinh môi trường, xây dựng mô hình nông thôn mới ...

Ban Chỉ đạo mô hình tổ chức tọa đàm, kiểm tra các hoạt động, truyền thông ở các lớp an cư, kiết hạ của các Tăng Ni nhằm mục tiêu để các Tăng Ni hiểu, từ đó phối hợp với công tác tuyên truyền. Các chức sắc xã đã tổ chức được 6 buổi thuyết giảng cho các tín đồ Phật tử trong độ tuổi 18-60, mỗi buổi có 45-55 tín đồ Phật tử tham gia. Các chức sắc Phật giáo tổ chức truyền thông về vấn đề mất cân bằng giới tính cho các tín đồ thông qua các ngày lễ, ngày rằm, mồng một hoặc những ngày lễ lớn của phật giáo như: Lễ Phật đản, lễ Vu Lan... Công tác tuyên truyền được thực hiện dựa trên sự phối hợp lồng ghép linh hoạt thông qua các hội nghị của các tổ chức liên quan như: Thanh niên, Phụ nữ, Người cao tuổi, Dân số, Đài truyền thanh; đặc biệt phối kết hợp với các chùa.

Một trong những hình thức để tuyên truyền mang lại tác động hiệu quả là nêu gương điển hình: những gia đình sinh con một bề nhưng cuộc sống gia đình hạnh phúc, con cái ngoan, thành đạt... Mục đích nhằm góp phần tác động thay đổi quan niệm của người dân về việc phải sinh con trai, con gái trong gia đình. Đồng thời cũng đưa ra nội dung, chương trình, mục tiêu của mô hình để làm căn cứ chấm điểm hàng tháng. Hoạt động chấm điểm, xếp loại thi đua và lồng ghép các nội dung vào thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư

Nhìn chung hoạt động mô hình triển khai tại hai xã đa dạng về nội dung: tổ chức tuyên truyền tại tuyến xã (có mời cán bộ); truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng như loa phát thanh của thôn, truyền thanh xã; phổ biến tuyên truyền lồng ghép vào những ngày lễ lớn của Phật giáo và các buổi hội nghị của các ngành; cung cấp tài liệu phát tay cho người dân cũng như các chức sắc tìm hiểu; tư vấn cho các gia đình và cá nhân về vấn đề mất cân bằng giới tính; ngoài ra còn sử dụng hình thức văn nghệ, kịch để truyền thông. Tất cả các hoạt động này đều được phần lớn người dân đánh giá ở mức độ thường xuyên.

Về đầu trang


Năm đầu tiên thực hiện Tháng hành động quốc gia về dân số

 “Kiểm soát, giảm thiểu mất công bằng giới tính khi sinh - Trách nhiệm của chúng ta” là chủ đề của Tháng hành động quốc gia về dân số được thực hiện năm đầu tiên sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2161/QĐ-TTg lấy tháng 12 hằng năm là “Tháng hàng động quốc gia về Dân số”.

Sáng 6-12, tại quảng trường Công viên Thống nhất, UBND thành phố Hà Nội và Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động quốc gia về dân số 2010” với sự tham gia đông đảo những người làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình và đoàn diễu hành, cổ động của bốn quận: Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai và Hai Bà Trưng.

Bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội phát biểu: Trong những năm qua, Hà Nội luôn xác định công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển Thủ đô, là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và cộng đồng. Trong những năm qua thành phố đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác này: tốc độ gia tăng quy mô dân số được kiểm soát thành công trong thập niên 2001-2010, mô hình gia đình có một hoặc hai con đang dần được tự nguyện chấp nhận và trở thành một chuẩn mực xã hội thông qua hương ước, quy ước và các thỏa ước lao động tập thể. Người dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình trở thành hành động tự giác…

Tuy nhiên, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đang phải đối mặt với những thách thức mới khi dân số Thủ đô đã có hơn 6,7 triệu người, mật độ dân số 1.918 người/k2, gấp tám lần bình quân cả nước. Mỗi năm có hơn 100 nghìn trẻ em được sinh ra; Hà Nội đang phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số ở các quận nội thành; tỷ lệ trẻ em dưới năm tuổi bị suy dinh dưỡng tập trung ở vùng xâu, vùng nghèo và địa bàn khó khăn; tỷ lệ nạo phá thai, đặc biệt là nạo phá thai vị thành niên chiếm tỷ trọng khoảng 30%; Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh đáng báo động. Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1-4-2009 cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh của Hà Nội là 113,2 trẻ trai/100 trẻ gái. 

Các chuyên gia quốc tế đã nhận xét, sự mất cân bằng giới tính chỉ xuất hiện ở những nước có nền văn hóa tương đồng (ưa thích con trai hơn con gái) như Việt Nam nhưng chưa có nước nào có tốc độ gia tăng nhanh và diễn biến phức tạp như ở nước ta. Nếu tình trạng này không có những giải pháp tích cực, sự mất cân bằng này sẽ để lại những hệ lụy nặng nề và gây khó khăn trong việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai và tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội. 

Vì vậy, với chủ đề “Kiểm soát, giảm thiểu mất công bằng giới tính khi sinh - Trách nhiệm của chúng ta”, Tháng hành động Quốc gia về dân số 2010 nhằm đạt hai mục tiêu chính: Sức khỏe, hạnh phúc của mỗi con người, mỗi gia đình và tăng cường sự tham gia phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, ngành, đoàn thể, xã hội nhằm giảm thiểu sự mất cân bằng giới tính. Ngoài ra đây là cơ hội nhằm kêu gọi sự giúp đỡ hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế đối với công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam. 

 THANH HÀ

Về đầu trang


Đông Minh - Tiền Hải (Thái Bình) tích cực thực hiện đề án dân số vùng biển

Là xã ven biển của Tiền Hải, với dân số gần 9000 người. Cũng như những vùng ven biển khác, đặc điểm địa lý, tập quán sinh sống của cư dân vùng biển đã trở thành những khó khăn đặc trưng cho công tác dân số-KHHGĐ. 

Năm 2009, khi Thái Bình được triển khai “Đề án biển”, chính quyền và nhân dân xã Đông Minh đã nồng nhiệt đón nhận đề án.

Bà Nguyễn Thị Dùng, cán bộ chuyên trách công tác Dân số-KHHGĐ xã cho biết những năm gần đây, tỷ lệ sinh của Đông Minh khoảng 1,4%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 16%. Không chỉ có tỷ lệ sinh con thứ ba cao, trình độ dân trí, chất lượng cuộc sống của một bộ phận nhân dân trong xã còn nhiều hạn chế.

Vì vậy, đội ngũ lãnh đạo và phần lớn bà con trong xã đều rất phấn khởi khi địa phương được tiếp nhận đề án. Ngay sau khi nhận được hướng dẫn của Sở Y tế, Chi cục Dân số-KHHGĐ, Đảng ủy chính quyền xã đã tích cực chỉ đạo triển khai các hoạt động. Ban dân số lập kế hoạch, trình UBND xã phê duyệt đồng thời tham mưu cho UBND xã triển khai, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành thành viên.

Không chỉ đội ngũ lãnh đạo Đảng, chính quyền mà lãnh đạo các ban, ngành đoàn thể cũng được quán triệt đầy đủ về tầm quan trọng và ý nghĩa của đề án đối với công tác dân số địa phương. Tổ chức ra quân thực hiện đề án, tại xã, các hoạt động truyền thông được đẩy mạnh. Bám sát vào tài liệu do Chi cục Dân số- KHHGĐ cấp, đài truyền thanh xã thường xuyên tuyên truyền về đề án tới nhân dân..

Hệ thống biển tường, pano, áp phích cũng được làm mới trên các trục đường gửi các thông điệp về dân số, KHHGĐ đến bà con ngư dân. Đội ngũ cán bộ dân số xã cũng tích cực thực hiện truyền thông trực tiếp xuống từng thôn xóm và từng hộ gia đình, quan tâm đến việc tư vấn cho đối tượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, thanh niên trẻ, vị thành niên.

Song song với hoạt động truyền thông, hoạt động cung cấp dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ cũng được quan tâm đầu tư nâng chất lượng. Cùng với nguồn kinh phí từ đề án, xã cũng trích kinh phí hỗ trợ các hoạt động dân số tại địa phương. Một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu đó là nâng chất lượng các dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ.

Từ đầu năm đến nay, triển khai hai đợt chiến dịch mạnh và tổ chức thực hiện dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ định kỳ vào thứ 4 hàng tuần đã thu hút đông chị em phụ nữ đến khám, điều trị các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản. Đến nay, kế hoạch thực hiện các gói dịch vụ tại xã đều đạt và vượt mức kế hoạch trong đó có nhiều gói dịch vụ như khám, điều trị phụ khoa vượt cao trên 200%.

Đặc biệt, tại xã đã triển khai  mô hình điểm cung cấp phương tiện tránh thai trên cơ sở mỗi cộng tác viên dân số thôn là một điểm cung cấp phương tiện tránh thai, xã đã xây dựng được 10 điểm cung cấp, thu hút đông đảo bà con ngư dân, nhất là đối tượng đi biển dài ngày. Từ đầu năm đến nay, các điểm cung cấp phương tiện tránh thai đã cấp 600 vỉ thuốc tránh thai và cung cấp thường xuyên bao cao su cho hơn 100 cặp vợ chồng. Theo dự kiến năm 2010, tỷ lệ sinh trong xã đạt 1,37%, giảm 0,15% so với năm 2009. Đặt ra mục tiêu 100% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránh thai, giảm tỷ lệ sinh 0,25%, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên 2% những năm tới,  Đông Minh đang tiếp tục vận dụng sáng tạo các mô hình mà Chi cục dân số triển khai, đẩy mạnh các hoạt động của đề án biển để không chỉ giảm tỷ lệ sinh con thứ ba mà còn nâng cao chất lượng dân số và cải thiện cuộc sống cho nhân dân trong xã.

 Thu Hương

Về đầu trang


 Khu dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư không có người sinh con thứ 3

 Khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thư hiện có khoảng 15 cặp vợ chồng sinh con một bề, trong đó có 10 cặp sinh con 1 bề là gái, mặc dù vậy các gia đình này đều xác định không sinh con thứ 3.

 Trao đổi với anh Đồng Xuân Sơn - khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thư, anh cho chúng tôi biết về suy nghĩ của mình: "chúng tôi nghỉ rằng con trai cũng được, con gái cũng được miễn sao chúng ta nuôi con cái thành đạt, theo tôi cũng chẳng vấn đề gì cả, hiện con lớn chúng tôi đang học đại học năm thứ 2, con thứ hai đang học lớp 10, nếu chúng tôi có ý đẻ thêm  thì đã đẻ từ lâu rồi"

Nhằm giữ vững danh hiệu khu dân cư tiên tiến, Ban công tác Mặt trận và Ban vận động ngoài việc tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh còn đề ra các biện pháp tuyên truyền, vận động cụ thể. Ban vận động đã giao cho Hội phụ nữ thôn nắm chắc đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, động viên, đả thông tư tưởng các đối tượng sính con một bề để có biện pháp tuyên truyền.  Đồng thời còn duy trì các phong trào văn hoá, văn nghệ để nâng cao chất lượng truyền thông bằng nhiều hình thức như tuyên truyền trực tiếp, họp tổ, nhóm, hội thảo, văn nghệ…qua đó tác động trực tiếp đến nhận thức của người dân, góp phần nâng cao nhận thức về kế hoạch hoá gia đình, trang bị nhưng kiến thức cơ bản về chăm sóc sức khoẻ sinh sản để người dân tự biết cách bảo vệ sức khoẻ cho chính mình.  Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Trưởng ban công tác Mặt trận khu Minh Tiến Thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư chia sẻ kinh nghiệm: "Trước hết chi bộ thường xuyên có nghị quyết lãnh đạo chỉ đạo về công tác dân số, gia đình trẻ em, trong nghị quyết từ chi bộ nhiệm kỳ, chi bộ hàng tháng chúng tôi đều đưa nội dung công tác dân số, gia đình trẻ em để sinh hoạt. Sau khi có nghị quyết chi bộ, chúng tôi triển khai đến tổ chức quần chúng, tới thành viên Ban công tác Mặt trận để thực hiện nghị quyết ở cấp ủy của  chi bộ". Nói về kinh nghiệm tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, Chị Nguyễn thị Hoa - Chi Hội trưởng phụ nữ -cộng tác viên dân số khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thu tâm sự: "Chi hội phụ nữ thường xuyên vận động chị em, nhất là chị em trong độ tuổi sinh đẻ mà sinh con một bề, những người có nguy cơ cao, chúng tôi ở trong ban chấp hành phụ nữ, cộng tác viên dân số thường xuyên gặp gỡ trao đổi nắm bắt tình hình,  tâm tư nguyện vọng của chị em, qua đó động viên chị em kịp thời".    

 Nhờ biết phát huy hiệu quả của cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" và thực hiện tốt pháp lệnh dân số,  khu dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã giữ vững danh hiệu 16 năm liền không có người sinh con thứ 3.

                                                                      Thắm- Hòa

Về đầu trang


Vũ Thư (Thái Bình): Dấu ấn cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Để tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”và các phong trào thi đua, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của Chính quyền và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện cuộc vận động. 

Mười lăm năm qua, cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do ủy ban T.Ư  MTTQ Việt Nam phát động gồm 6 nội dung và các tiêu chí thi đua cụ thể đã trở thành phong trào thi đua rộng khắp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân các khu dân cư huyện Vũ Thư tham gia.

Chỉ tính trong mốc thời gian từ 2005-2009, toàn huyện đã có 293.000 lượt hộ gia đình đăng ký thực hiện xây dựng “Gia đình văn hóa”; trong đó 237.000 lượt hộ gia đình đạt hàng năm (tỷ lệ 80,1%). Có 1055 lượt khu dân cư đăng ký thực hiện xây dựng “Khu dân cư tiên tiến”; qua bình xét có 235 lượt đạt, trong đó 132 lượt khu dân cư đạt năm thứ nhất, 43 khu dân cư đạt từ 3- 7 năm liên tục.

Năm 2010, Vũ Thư có 85% số hộ gia đình đăng ký xây dựng Gia đình văn hóa, 56% thôn làng đăng ký xây dựng và giữ vững “ Đơn vị văn hóa”. Thực hiện cuộc vận động đã góp phần khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết cộng đồng, lấy sức dân chăm lo cho dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ở khu dân cư.

Nhân dân đã cho nhau vay hàng ngàn tấn thóc, hàng chục tỷ đồng thông qua phường họ với lãi suất thấp, tạo điều kiện cho các hộ gia đình có vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống còn 10,39%. 5 năm qua, toàn huyện đã quyên góp xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được trên 1,3 tỷ đồng, xây mới và tu bổ sửa chữa được 153 căn nhà tình  nghĩa cho đối tượng chính sách với tổng giá trị 1,224 tỷ đồng. 

Các xã, thị trấn phối hợp với các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; Vận động quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị thiên tai, quỹ “ nạn nhân chất độc màu da cam”, mua áo ấm tặng người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn với số tiền hàng tỷ đồng.

Đặc biệt quyên góp xây dựng quỹ “Vì người nghèo” 2 cấp được gần 2 tỷ đồng, cùng với các nguồn vốn khác, xây dựng được 844 căn nhà tình thương tặng hộ nghèo với tổng giá trị là 11,680 tỷ đồng.

Thông qua thực hiện cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, góp phần  thực hiện tốt Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở, đảm bảo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. 5 năm 2005-2009, đã có 146 khu dân cư không có tội phạm hình sự, 75 khu không có ma túy và tệ nạn xã hội, 162 khu không có vi phạm về trật tự an toàn giao thông.

MTTQ các cấp trong huyện đã phối hợp với ngành công an và Ban ATGT xây dựng được 78 tổ tự quản an ninh trật tự, 79 tổ tự quản về ATGT. Nhân dân phối hợp với công an triệt phá nhiều tụ điểm tội phạm, ma túy, tệ nạn phức tạp. Hàng năm, các Ban công tác Mặt trận đã hòa giải thành hàng ngàn vụ mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp trong nội bộ nhân dân góp phần củng cố, giữ vững sự bình yên của thôn xóm.

Đến nay, 100% các khu dân cư trong huyện đều có hương ước, quy ước, xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu mê tín dị đoan. Ban công tác Mặt trận đã vận động nhân dân đóng góp xây dựng đường làng, ngõ xóm, nhà văn hóa thôn làng, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp, thực hiện tốt chính sách dân số và KHHGĐ.

Toàn huyện có 62 khu dân cư không sinh con thứ ba. 146 khu dân cư và 200 dòng họ có quỹ khuyến học. 5 năm qua đã có 89 họ đạo và 153 chùa đạt danh hiệu “ Xứ họ đạo – chùa cảnh 4 gương mẫu” .

Thông qua cuộc vận động, các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở khu dân cư đã có những chuyển biến tích cực phát huy được vai trò hạt nhân lãnh đạo ở khu dân cư. Quyền làm chủ của nhân dân được đảm bảo và phát huy, thể hiện rõ nhất là trong việc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các Nghị quyết, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của cơ sở và trong  các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội,  HĐND các cấp, bầu trưởng thôn và thanh tra nhân dân…

Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri nhân dân được đóng góp ý kiến  và quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình. Thực hiện tốt cuộc vận động góp phần xây dựng củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở khu dân cư trong sạch, vững mạnh.

Qua 5 năm thực hiện cuộc vận động, bên cạnh thành tích, kết quả đã đạt được, Vũ Thư cũng còn những khó khăn, hạn chế sau:  Kết quả thực hiện cuộc vận động hàng năm chưa cao. Số khu dân cư đạt danh hiệu “Khu dân cư tiên tiến” còn thấp và thiếu tính bền vững. Có nơi việc xét duyệt và công nhận còn nặng về hình thức Việc biểu dương khen thưởng các khu dân cư có thành tích chưa kịp thời. Một số nơi chưa quán triệt đầy đủ tinh thần “ Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư” nên còn tổ chức sơ sài cả về nội dung và hình thức. Có xã thực hiện chưa nghiêm việc phân bổ kinh phí cuộc vận động.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”và các phong trào thi đua, Vũ Thư chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của Chính quyền và các tổ chức thành viên  trong việc thực hiện cuộc vận động.

Tiếp tục đẩy mạnh  công tác tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Hàng năm, MTTQ các xã – thị trấn chủ trì xây dựng kế hoạch thực hiện chọn các nội dung tiêu chí thiết thực đưa ra nhân dân bàn bạc, tổ chức đăng ký thực hiện.

Gắn thực hiện cuộc vận động với chương trình xây dựng nông thôn mới, thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, xây dựng  nếp sống tự quản ở khu dân cư, thông qua cuộc vận động để đưa các phong trào thi đua yêu nước vào cuộc sống.  Kịp thời động viên khen thưởng những điển hình tiên tiến và những nhân tố mới thực hiện tốt 6 tiêu chí của cuộc vận động. 

P.V

Về đầu trang


Hoàn thành vượt mức kế hoạch chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ 

Chiến dịch “Tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ đến vùng đông dân, có mức sinh cao, vùng khó khăn” năm 2010 đã được tỉnh ta triển khai làm 2 đợt tại 146 xã, phường, thị trấn, với mục tiêu đảm bảo thực hiện 80% chỉ tiêu kế hoạch năm về các biện pháp tránh thai lâm sàng.

 

Hội viên phụ nữ xã Khánh Công (Yên Khánh) xem tờ rơi phổ biến kiến thức SKSS/KHHGĐ  

Với sự nỗ lực, quyết tâm cao của các cấp, các ngành, chủ lực là Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh, chiến dịch năm nay đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành vi về SKSS/KHHGĐ trong các tầng lớp nhân dân. 

Huyện Yên Mô là một trong những đơn vị vượt chỉ tiêu kế hoạch các biện pháp tránh thai lâm sàng (triệt sản, đặt dụng cụ tử cung, cấy, tiêm tránh thai) trong chiến dịch cao nhất tỉnh. Rút kinh nghiệm của những đợt chiến dịch trước, Yên Mô đã có cách làm khá hiệu quả là giao cho cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số rà soát phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) và giao chỉ tiêu, kế hoạch cho các địa phương triển khai chiến dịch rất sớm, đồng thời chú trọng công tác tập huấn cho cán bộ nhằm nâng cao kỹ năng tuyên truyền, vận động, tư vấn đối tượng lựa chọn biện pháp tránh thai; cách ghi chép sổ sách…  

Xác định công tác truyền thông, vận động để mọi tầng lớp nhân dân hiểu và thực hiện nghiêm túc chiến dịch là một trong những yếu tố quan trọng, nên trước, trong thời gian diễn ra chiến dịch, các xã, thị trấn đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: thông qua hệ thống đài phát thanh, sinh hoạt nhóm, nói chuyện chuyên đề, tư vấn nhóm đối tượng, tổ chức ký cam kết không sinh con thứ 3 trở lên cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, kẻ vẽ panô, khẩu hiệu… tạo nên không khí sôi động, thu hút sự quan tâm hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân trong những ngày diễn ra chiến dịch. Việc xã hội hóa công tác dân số cũng được đẩy mạnh, nên trong đợt tổ chức chiến dịch truyền thông, hầu hết các xã tham gia chiến dịch đều có sự đầu tư thêm kinh phí, tổ chức đưa đón đối tượng chu đáo.  

Kết thúc chiến dịch, toàn huyện đã khám và chăm sóc sức khỏe cho 5.112 lượt phụ nữ, trong đó phát hiện và điều trị 2.673 người mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục; đã khám thai và tiêm phòng uốn ván cho 575 bà mẹ đang mang thai; có 2.044 cặp vợ chồng thực hiện các biện pháp tránh thai lâm sàng, đạt 189% kế hoạch chiến dịch, đạt 90,8% kế hoạch năm. Kinh phí đầu tư cho chiến dịch của các xã, thị trấn là hơn 100 triệu đồng.  

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Lưu Danh Cung, Phó Giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh cho biết: Hoạt động tuyên tuyền, vận động trực tiếp đối tượng đã được Chi cục hết sức chú trọng. Đặc biệt, trong chiến dịch năm 2010, công tác tuyên truyền đã tập trung hơn vào đối tượng nam nông dân có vợ trong độ tuổi sinh đẻ để nâng cao vai trò của nam giới trong việc chia sẻ trách nhiệm và thực hiện KHHGĐ. Trong chiến dịch, nhiều hoạt động đã được tổ chức như: Mít tinh, cổ động diễu hành đã thu hút được nhiều lực lượng tham gia.  

Nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ, Trung tâm Dân số-KHHGĐ các huyện, thành phố, thị xã phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng và các Trạm y tế xã, phường, thị trấn chuẩn bị lực lượng y, bác sỹ, thuốc men, dụng cụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đối tượng thực sự yên tâm khi tham gia chiến dịch. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo, vào cuộc quyết liệt, đồng bộ nên chiến dịch đã đạt được kết quả khá cao: Tổng số người mới chấp nhận các biện pháp tránh thai lâm sàng toàn tỉnh là 14.362 người, đạt 84,7% kế hoạch năm. Nhiều địa phương đã thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu đặt ra như: Huyện Yên Mô, Gia Viễn, Yên Khánh… 

Kết quả của chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ đã góp phần cải thiện đời sống của người dân, nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bản thân, song vẫn còn một số khó khăn tồn tại: Một số xã, phường cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, đầu tư kinh phí cho chiến dịch nên kết quả chiến dịch đạt được chưa cao, đặc biệt một số chỉ tiêu thực hiện các biện pháp tránh thai lâm sàng đạt thấp so với kế hoạch đê ra; công tác tư vấn còn nhiều hạn chế, chưa nắm chắc đối tượng vận động thực hiện biện pháp tránh thai; một số trạm y tế cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu các phòng làm thủ thuật, thiếu trang thiết bị và dụng cụ y tế đã ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả chiến dịch…

Bài, ảnh: Hà Mi

Về đầu trang


Chiến lược truyền thông DS/KHHGĐ trên địa bàn huyện Quỳ Hợp

Trong nững năm qua, cùng với các thành tựu đạt được trên các lĩnh vực đời sống xã hội, công tác DS-KHHGĐ cũng được đánh dấu bằng việc thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược dân số qua các thời kỳ.

Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chính sách DS-KHHGĐ được nâng lên, tỷ suất sinh bình quân giảm 0,5%0/năm. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm rỡ rệt. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm xuống còn 1,05%, cơ cấu dân số của huyện ngày càng trẻ, là điều kiện thuận lợi về nguồn nhân lực để phát triển KT-XH thời kỳ CNH-HĐH. Phong trào khối, xóm, bản không sinh con thứ 3 phát triển rộng khắp trên các xã, thị trấn. Hàng năm có hơn 2/3 khối, xóm, bản thực hiện thành công mô hình không sinh con thứ 3.

Tuy nhiên, tỷ lệ tăng dân số tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao và chưa bền vững, có sự mất cân bằng giữa các vùng, miền và giới tính. Thêm vào đó, những phong tục tập quán lạc hậu “trọng nam, khinh nữ” vẫn còn nặng nề; một số quy định về chính sách DS-KHHGĐ ban hành thời gian gần đây nội dung có chỗ chưa chặt chẽ, thực hiện thiếu đồng bộ.

Cán bộ cơ sở biến động lớn, chưa ổn định, thiếu kỹ năng, kinh nghiệm trong công tác truyền thông giáo dục, tư vấn các đối tượng và chưa thực sự gắn bó, yên tâm với công tác.

Hiện nay, chính sách khen thưởng đối với các cá nhân, tập thể thực hiện tốt KHHGĐ chưa thực sự khuyến khích được các tập thể và cá nhân;  việc xử lý cá nhân vi phạm chính sách DS,KHHGĐ chưa đủ mạnh.

Phương tiện phục vụ cho các hoạt động truyền thông ở cơ sở vừa thiếu vừa chưa thực sự phù hợp với từng vùng miền và các dân tộc, đây là khó khăn lớn nhất cho hoạt động của cán bộ Chuyên trách và Cộng tác viên trong việc thực hiện nhiệm vụ.

Để thực hiện có hiệu quả công tác truyền thông về DS-KHHGĐ, từng bước ổn định quy mô dân số và nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công tác truyền thông về DS/KHHGĐ trong thời gian qua đã tập trung vào các vấn đề:

1. Tập trung tuyên truyền sâu rộng nội dung của Pháp lệnh Dân số và các văn bản, Nghị quyết, chỉ thị của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác DS/KHHGĐ để từ đó nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền, các đại biểu dân cử, những người có uy tín trong cộng đồng, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm chính sách dân số. Xã hội hoá công tác dân số - KHHGĐ, tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực và dư luận xã hội ủng hộ thực hiện chính sách dân số- KHHGĐ của Đảng, Nhà nước.

2. Quan tâm tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng của đội ngũ cán bộ truyền thông. Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng nhu cầu truyền thông của các đơn vị, lựa chọn nhóm đối tượng để có thông điệp truyền thông phù hợp. Đội ngũ truyền thông về DS/KHHGĐ ở cơ sở phải được cập nhật chương trình, nội dung tài liệu về truyền thông chuyển đổi hành vi, tôn trọng sự lựa chọn của người sử dụng dịch vụ.

3. Công tác giáo dục tư vấn đã cung cấp đầy đủ các thông tin về SKSS/KHHGĐ cho mọi nhóm đối tượng, nhất là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, khắc phục tâm lý, tập quán và hành vi không có lợi đối với công tác dân số - KHHGĐ. Nâng cao kiến thức về DS, SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên. Tăng cường tư vấn cho vị thành niên và thanh niên để hạn chế các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Đẩy mạnh sự ủng hộ của xã hội đối với truyền thông giáo dục DS, SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên trong các nhà trường.

3. Đa dạng các hoạt động truyền thông - giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ... cũng được coi là những giải pháp cần thiết. Tại những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao thì việc tăng cường các chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ nhằm tăng nhanh số người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, số người sử dụng các dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng, an toàn và hiệu quả trong thời gian ngắn sẽ góp phần hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch. Quan tâm chú trọng đến hình thức vận động trực tiếp cho nhóm đối tượng có nguy cơ lựa chọn giới tính khi sinh và sinh con thứ 3 trở lên.

4. Phát triển hệ thống cung cấp thông tin có chất lượng và tham mưu thường xuyên, kịp thời về DS/SKSS/KHHGĐ cho lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và những người có uy tín tại cộng đồng, bao gồm cả việc xây dựng mạng lưới truyền thông vận động, chia sẻ thông tin và thống nhất kế hoạch hành động. Tạo nhiều cơ hội cho vị thành niên, thanh niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, người cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS được tham gia vào các hoạt động truyền thông.

5. Coi trọng giải pháp huy động đồng bộ, thường xuyên của các kênh truyền thông và nhấn mạnh việc chú trọng truyền thông đại chúng, đảm bảo tính nhất quán về nội dung và thông điệp để nâng cao hiệu quả, tác động của thông tin, thông điệp DS/SKSS/KHHGĐ tới các đối tượng của chương trình. 

Bên cạnh đó, ngành DS/KHHGĐ huyện Quỳ Hợp đã tăng cường công tác nghiên cứu, đánh giá nhận thức, thái độ của người dân về chuyển đổi hành vi DS/SKSS/KHHGĐ. Phối hợp với Trung tâm Y tế có các chính sách phù hợp để khuyến khích, nâng cao kỹ năng truyền thông, tư vấn và trách nhiệm của đội ngũ cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ,nhằm đảm bảo đối tượng nhận dịch vụ theo chuẩn quốc gia về chăm sóc SKSS và được tư vấn đầy đủ. Nâng cao sự hiểu biết, kiến thức và thái độ của họ, góp phần chuyển đổi hành vi bền vững cho các cặp vợ chồng, phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh đẻ, kể cả người chưa kết hôn, nêu được các vấn đề về SKSS cần ưu tiên và lợi ích của việc thực hiện SKSS/KHHGĐ, tình dục an toàn, phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm …. nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu chung. 

Sau gần 5 năm thực hiện chiến lược truyền thông, được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự phối kết hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể, công tác truyền thông giáo dục thay đổi hành vi về DS, SKSS/KHHGĐ đã tạo được sự thay đổi mạnh mẽ về nhận thức và hành động của toàn xã hội trên phạm vi toàn huyện. Kết quả việc thực hiện KHHGĐ và chăm sóc SKSS đã góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm sinh và nâng cao chất lượng dân số. Qui mô gia đình ít con ngày càng được nhân dân chấp nhận rộng rãi, tốc độ gia tăng dân số được kiểm soát; số cặp vợ chồng chấp nhận sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng tăng. Đặc biệt thông qua các đợt tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ ở vùng có mức sinh cao và khó khăn, số người được hưởng lợi từ các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ngày càng cao. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình tăng sinh trong thời gian gần đây có dấu hiệu xảy ra tại một số xã. Tỷ lệ sinh con lần thứ 3 trở lên có dấu hiệu gia tăng. Đáng quan tâm là các trường hợp sinh con thứ 3 trở lên có dấu hiệu mất cân bằng về giới tính khá rõ. Đây là vấn đề nhạy cảm, tuy chưa dám khẳng định nhưng đã hé lộ vấn đề có hiện tượng lựa chọn giới tính khi mang thai. Kết quả chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ hàng năm cũng cho thấy số đối tượng bị viêm nhiễm và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khá cao. Tính bền vững của các cặp vợ chồng chấp nhận biện pháp tránh thai không ổn định, dẫn đến nhiều trường hợp bị “vỡ kế hoạch”. Hiệu quả tuyên truyền vẫn chưa cao… là những yếu tố không nhỏ làm cho công tác truyền thông thay đổi hành vi gặp khó khăn. Nguyên nhân do mặt bằng dân trí không đồng đều giữa các vùng, miền, nông thôn và thị trấn. Do đó khả năng tiếp cận những thông tin mới về công tác dân số-KHHGĐ, chăm sóc SKSS, vấn đề về giới, bình đẳng giới ...còn rất hạn chế. Bên cạnh đó tư tưởng cho rằng thực hiện dân số - KHHGĐ là trách nhiệm của phụ nữ vẫn còn tồn tại, cho nên sự chia sẻ trách nhiệm của nam giới trong lĩnh vực này còn quá ít. Trong khi đó, quyền quyết định số con trong gia đình, đại đa số vẫn do người chồng và gia đình họ tộc nhà chồng quyết định. Tư tưởng phải có con trai còn rất nặng nề, những gia đình đã có 2-3 con (là con gái) vẫn muốn sinh thêm con trai, do đó gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyên truyền vận động.

Đây chính là mối quan tâm, trăn trở của các ngành các cấp, những người làm công tác dân số. Thiết nghĩ, để giải quyết thực trạng này đòi hỏi phải có sự đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, có sự chung tay góp sức tích cực của nhiều ngành, nhiều cấp, trong đó đòi hỏi sự sáng tạo và lòng nhiệt tình của các lực lượng làm công tác tuyên truyền. Từ thực tiễn sinh động của công tác tuyên truyền về các vấn đề dân số- KHHGĐ trong thời gian qua, rút ra những kinh nghiệm cần quan tâm, đó là:

 - Công tác tuyên truyền phải hướng vào đối tượng cụ thể, nhất là tập trung những đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ và có nguy cơ sinh con thứ 3 trở lên. Tích cực thực hiện các nội dung trong Chiến lược truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số, sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình.

 - Thực hiện “xây” đi đôi với “chống”. Bên cạnh việc biểu dương những gia đình sinh con một bề làm kinh tế giỏi, hạnh phúc, cần chú trọng xử lý bằng hình thức thích hợp những trường hợp vi phạm, nhất là những cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3, đồng thời thông tin công khai đến nơi cư trú, chứ không chỉ thông tin nội bộ. Cần tranh thủ các lực lượng tuyên truyền viên, như trưởng các dòng họ, chi, phái; những gia đình “sinh con một bề” làm ăn phát đạt, hạnh phúc. Cần xem đây là những cộng tác viên không chuyên trách, vì lời nói của họ sẽ có trọng lượng cao, tác động rất lớn đối với công chúng.  

- Tăng cường các thông tin về công tác dân số- KHHGĐ trên báo chí đảm bảo sát thực tiễn, có lý luận sâu sắc. Đồng thời, thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền cho đội ngũ làm công tác dân số- KHHGĐ. 

- Tăng cường tuyên truyền Dân số - KHHGĐ hướng về đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Đây là địa bàn dân trí thấp, điều kiện tiếp cận thông tin về Dân số-KHHGĐ-SKSS còn nhiều hạn chế, việc đi lại của cán bộ truyền thông Dân số - KHHGĐ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, cần phải lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, hấp dẫn, như hình thức tuyên truyền trực quan, sân khấu hoá, tờ rơi, truyền thanh...

   Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Phương

Về đầu trang


Chức sắc tôn giáo xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Xã Đông Cường có khu vực hành chính thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình với tổng diện tích đất tự nhiên là 770 ha có 7.348 khẩu, trong đó có 2.039 khẩu là tín hữu Công giáo, địa giới hành chính được chia làm 5 thôn; nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nghề phụ chậm phát triển. Kinh tế tuy có phát triển nhưng thu nhập bình quân đầu người còn thấp, đời sống của nhân dân còn  gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn chiếm 11,6%.

Tôn giáo có 2 đạo. Đạo Phật có 5 chùa; Đạo Công giáo có 8 họ, 7 nhà thờ (7 họ trên bờ, một họ dưới sông), một họ giáo dưới sông có  124 khẩu, giáo dân làm nghề chài lưới, lấy thuyền làm nhà ngày đêm lênh đênh sông nước. Tuy là địa phương có đồng bào lương giáo sống xen kẽ song luôn có truyền thống đoàn kết tình làng nghĩa xóm gắn bó keo sơn bà con lương giáo đều sống tốt đời, đẹp đạo, luôn có tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau phát triển kinh tế xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và quy định của địa phương.

Trong nhiều năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đông Cường tích cực thực hiện chính sách dân số và gia đình, đã góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh và từng bước nâng cao chất lượng dân số. Tuy nhiên, đối với công tác dân số, nhất là chất lượng dân số vẫn là vấn đề cần được quan tâm thường xuyên, đó là việc sinh con thứ 3 trở lên, cân bằng tỷ lệ nam, nữ khi sinh hiện nay đang có xu hướng tăng, một phần do mặt trái của việc thực hiện mô hình gia đình ít con( mỗi gia đình nên có từ 1 đến 2 con), cùng với nhận thức lạc hậu từ xưa có con trai để nối dõi tông đường vẫn còn in sâu trong suy nghĩ của nhân dân, đa số cặp vợ chồng mong muốn, thậm chí là bắt buộc phải có con trai nên gia đình nào đã có một trai một gái hoặc 2 con trai rồi thì yên tâm, nhưng nếu 2 con gái  thì tìm mọi cách để phải đẻ thêm con trai nữa. Từ nhận thức như vậy, cùng với khoa học hiện đại đang hỗ trợ hành động cho họ như dùng máy siêu âm để xác định thai nhi rất nhiều, nên một số cặp vợ chồng khi đã phát hiệ thai nhi không được như ý muốn đã huỷ thai nhi đó đi (chủ yếu là huỷ thai nhi là giới tính nữ) và phương pháp bắt mạch, chọn khẩu phần ăn, tính ngày thụ thai để đẻ con trai... cho nên hiện nay tình trạng bé trai sinh ra nhiều hơn bé nữ. Đó là nhận thức cục bộ của mỗi gia đình, trong khi đó, do hạn chế của công tác tuyên truyền nhân dân chưa nhận thức được về tác hại của việc mất cân bằng giới tính trong phạm vi quốc gia, khu vực, chưa có tầm nhìn xa mà chỉ nghĩ trước mắt là phải có con trai theo ý muốn của mình, của gia đình, dòng họ. Chính vì lẽ đó ở tầm vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách cần có định hướng tuyên truyền cho nhân dân về chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình, chú trọng  quan tâm đến mất cân bằng giới tính khi sinh là rất đúng, rất phù hợp. Trong công tác tuyên truyền sẽ có nhiều kênh, nhưng theo sáng kiến của Văn phòng UNFA Hà Nội và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQVN chọn mô hình “Chức sắc tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh” để thực hiện là rất hiệu quả.

Từ nhận thức trên, được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, MTTQ xã Đông Cường, sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự phối hợp của các tổ chức, các đoàn thể đã tạo thành một phong trào sôi nổi trong nhân dân, các tổ chức các đoàn thể đều vào cuộc và coi đây là một trong những nhiệm vụ của mình.

Mô hình có nhiều điểm tương đồng và phù hợp với phong tục tập quán của địa phương và phù hợp với giáo lý, giáo luật của giáo hội Công giáo như việc sinh sản một cách tự nhiên, không có sự phân biệt giới tính, không trọng nam, khinh nữ nên nhận được sự tham gia tích cực của các vị chức sắc, chức việc và nhân dân.

Công tác tuyên truyền về chính sách dân số chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã được triển khai tích cực trong những năm qua, giúp cho mỗi người dân đều hiểu rõ được và có hành động tích cực và nội dung tuyên truyền về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và hậu quả của nó trong thời gian tới do mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra rất phù hợp với chính sách dân số và nguyện vọng của nhân dân. Từ đó đã thu hút được sự tham gia tích cực của nhân dân, giúp cho nhân dân từ chỗ chưa biết trở thành hiểu và biết để thảo luận bàn bạc tìm ra những giải pháp khắc phục hữu hiệu.

T.L

Về đầu trang


Kết quả thực hiện mô hình điểm DS-KHHGĐ ở xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

Khi nhận kế hoạch của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và của MTTQ tỉnh Thái Bình, MTTQ xã Đông Cường đã xây dựng kế hoạch tham mưu với Đảng uỷ thành lập Ban chỉ đạo và ra nghị quyết lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể đưa nội dung này vào nội dung hoạt động của đoàn thể mình cùng phối hợp tổ chức thực hiện.

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã ra quyết định thành lập Ban điều hành mô hình gồm 7 thành viên do Chủ tịch MTTQ xã làm Trưởng ban, một số thành phần làm thành viên như Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, cán bộ dân số, ông Trùm, Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn làm thành viên; đồng thời thành lập nhóm sinh hoạt, mỗi nhóm 100 người. Ban đầu có 2 nhóm là tín hữu Công giáo, mời Linh mục xứ thường xuyên giáo huấn và truyền đạt. Sau khi triển khai, tại cuộc hội thảo đầu tiên do Trung ương MTTQVN chủ trì có sự tham gia của MTTQ tỉnh, huyện, lãnh đạo đại diện cấp uỷ, chính quyền, các ban ngành đoàn thể và các vị chức sắc, chức việc của địa phương, xét thấy cần phải thành lập thêm các nhóm sinh hoạt không là đồng bào Công giáo nhằm giúp cho nhân dân toàn xã được tham gia thực hiện. Do đó, tiếp tục thành lập 4 nhóm do báo cáo viên của tỉnh về truyền đạt. Để nâng cao trách nhiệm của nhân dân tham gia, thực hiện chỉ đạo của MTTQ tỉnh Thái Bình, Ban điều hành đã tiến hành nắm tình hình dân ssố của các nhóm,tiến hành các cuộc hội thảo bàn về cách thức tổ chức, trao đổi nội dung bản cam kết và tổ chức cho nhân dân ký cam kết thực hiện . 100% số thành viên nhóm đã ký kết.

Công tác truyền thông được tiến hành thực hiện từ quý II/2009 đến nay đã tổ chức 7 kỳ sinh hoạt/nhóm. Số thành viên sinh hoạt các nhóm đều đạt yêu cầu, nhiều nhóm là đồng bào Công giáo đông tới gần 600 người.

 Nội dung sinh hoạt do MTTQ tỉnh Thái Bình chỉ đạo gồm: Các chuyên đề liên quan đến việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh như: Phòng chống bạo lực gia đình, chuyên đề về bình đẳng giới, chuyên đề về chăm sóc sức khoẻ thai nhi, hậu quả của việc mất cân bằng giới tính, trách nhiệm của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”. Tình hình dân số và nhà ở (theo Tổng điều tra dân số nhà ở năm 2009)... Thông qua từng chuyên đề được thuyết giảng các nhóm đã tiến hành thảo luận về biện pháp khắc phục. Kết quả thực hiện mô hình năm 2009, tỷ lệ giới tính nam nữ khi sinh ở xã tuy chưa có chuyển biến đáng kể nhưng đây là kết quả bước đầu, xong quan trọng hơn là nhận thức về sự cần thiết phải khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh, cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành,các vị chức sắc và nhân dân được nâng lên, Đảng uỷ đã có Nghị quyết lãnh đạo thực hiện mô hình, UBND xã đã phối hợp tạo điều kiện để tổ chức mô hình, vị chức sắc và các vị chức việc tích cực tham gia, các tổ chức đoàn thể xác ợinh đây là một nhiệm vụ của mình để tổ chức thực hiện , nhân dân nhiều tổ nhóm đã thảo luận bày tỏ sự lo ngại nếu tình trạng này ở Việt nam diễn ra như 1 số nước thì con cháu chúng ta sẽ gặp khó khăn khi đến tuổi lấy vợ...

Từ những thực tế trong quá trình triển khai có thể rút ra một số kinh nghiệm để làm tốt công tác tuyên truyền và phối hợp với các tổ chức thành viên cùng vào cuộc vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả; cần phải thông qua các nhà chức sắc để truyền đạt, giáo huấn gắn với việc thực hiện giáo lý, giáo luật, nêu ra những điểm tương đồng để nâng cao nhận thức cho đối tượng là biện pháp có hiệu quả nhất và Ban điều hành cấp xã và Ban chủ nhiệm nhóm hoạt động tích cực xây dựng được kế hoạch cụ thể, làm tốt công tác tổ chức, thông báo, vận động thành viên nhóm đi dự sinh hoạt. Việc tổ chức sinh hoạt tránh vào lúc mùa vụ. Kinh phí tuy ít nhưng phải tiết kiệm để có chút động viên các thành viên.

T.L

Về đầu trang


Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh 

Nam Hải là xã có số dân 10.800 khẩu, được chia làm 9 thôn, cách trung tâm huyện 12 km, có 2 tôn giáo chính là Đạo Phật và Đạo Công giáo. Đạo Phật có 5 chùa, 3 đền, trong đó có 4 công trình được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Đạo Thiên chúa có: 2 giáo xứ và 3 nhà thờ họ lẻ, 01 đền khấn thánh Vixentê, chiếm 25% dân số cả xã, nhân dân trong xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lương giáo đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm vừa qua, cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận thường xuyên quan tâm đến vận động nhân dân thực hiện chính sách dân số, đã đạt kết quả góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số. Nhưng việc thực hiện chính sách dân số là rất khó khăn, đòi hỏi phải có sự cố gắng, bền bỉ, kiên quyết và rất dân chủ phát huy tính tự giác của người dân vì đây chính là thực hiện chính sách đối với con người, thực tế trong nhiều thập kỷ qua chúng ta mới cơ bản thực hiện được tỷ lệ giảm sinh, đạt mức sinh thay thế. Nhưng cơ cấu dân số, chất lượng dân số và gần đây xuất hiện mất cân bằng giới tính khi sinh đang là vấn đề rất đáng lo ngại. Nhận thức được vấn đề này, được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, Nam Hải phấn khởi tổ chức thực hiện xây dựng mô hình. Ngay sau khi có chỉ đạo của MTTQ tỉnh và được dự hội thảo của Trung ương ở Đà Nẵng, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã đã báo cáo cấp uỷ, thống nhất với chính quyền và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện . Thành lập Ban điều hành của xã, Ban chủ nhiệm các nhóm, mới đầu thành lập 2 nhóm là đồng bào Công giáo sau đó theo đề nghị của cơ sở được MTTQ Trung ương, tỉnh nhất trí tiếp tục thành lập thêm 4 nhóm là lương dân. Quý II/2009 Ban điều hành đã triển khai cho thành viên nhóm ký cam kết tham gia mô hình và tổ chức cho các nhóm vào sinh hoạt đến nay tổ chức được 7 kỳ (mỗi quý 1 kỳ/nhóm), giảng viên do MTTQ mời, 02 nhóm là đồng bào Công giáo được cụ linh mục quản xứ thuyết giảng, 04 nhóm còn lại là báo cáo viên cấp tỉnh, nội dung mỗi kỳ 1 chuyên đề đều gắn với việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh. Các buổi sinh hoạt học viên tham dự khá đông đủ, cùng với nội dung thuyết giảng học viên được nhận tài liệu để tham khảo. Trước mỗi kỳ Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh triển khai, ban điều hành đã tiến hành họp với Ban chủ nhiệm nhóm bàn kế hoạch và tổ chức lớp sau mỗi kỳ có họp rút kinh nghiệm. Kết quả của việc xây dựng mô hình, tuy mô hình mới được triển khai ngắn nhưng đã góp phần nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành ,tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc, chức việc và nhân dân trong xã và có ảnh hưởng tốt đến các xã lân cận. Đảng uỷ xã đã đưa công tác dân số kế hoạch hoá gia đình vào nội dung trong báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2010 – 2015 và có chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện  cho từng quý, từng năm và mục tiêu cho cả nhiệm kỳ giảm sinh bằng mức sinh thay thế, coi trọng chất lượng sinh, bình đẳng giới khi sinh là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình trong cộng đồng dân cư trong xã, đưa mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội để mỗi gia đình có từ 1-2 con, có sức khoẻ tốt có đủ điều kiện học tập lao động thoát khỏi đói nghèo, cải thiện cuộc sống nuôi dạy con thành đạt. Các vị chức sắc, chức việc tích cực tham gia, nhân dân đến học tập đông đủ. Ngoài việc thuyết giảng tại lễ Chúa nhật theo lời mời của Mặt trận, cụ Linh mục còn thuyết giảng nội dung này ở lễ Hôn phối của các đôi vợ chồng đến làm lễ cưới tại nhà thờ, có tác dụng rất tích cực.

Đạt được những kết quả trên có sự chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQVN, hướng dẫn của Uỷ ban MTTQ tỉnh, có sự hỗ trợ tạo điều kiện của chính quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của cán bộ đảng viên và nhân dân và những người có chức sắc, chức việc tôn giáo đồng tình ủng hộ.

Công tác tuyên truyền tổ chức thực hiện mô hình đã gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động xây dựng “Chùa cảnh 4 gương mẫu”, “Xứ họ đạo 4 gương mẫu”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, cuộc vận động “Học tập va làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động thực hiện Pháp lệnh Dân số Kế hoạch hoá gia đình, không còn gnười sinh con thứ 3, sinh con có trách nhiệm và thực hiện bình đẳng giới khi sinh, các cuộc vận động có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, làm chuyển biến nhận thức trong nhân dân và đồng bào có đạo tăng thêm truyền thống kính chúa yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo.

T.H

Về đầu trang


Gia đình tín hữu Công giáo xứ Đông Thành xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh 

Giáo xứ Đông Thành chúng tôi có 1.050 khẩu, trong đó nữ chiếm 55% số khẩu. Nhân dân trong xứ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Năm 2009, chúng tôi được Uỷ ban MTTQVN xã cho đi học tập và triển khai mô hình tín hữu Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và thành lập ở xứ chúng tôi một nhóm có 100 người trong độ tuổi từ 18-60 tuổi, thành lập Ban chủ nhiệm nhóm 3 người để điều hành công việc.

Qua 2 năm tổ chức thực hiện chúng tôi đã tổ chức sinh hoạt được 7 kỳ, các kỳ sinh hoạt đảm bảo yêu cầu đề ra, lồng ghép nhóm là các thôn liền kề, tạo thuận lợi cho việc sinh hoạt trao đổi độ tuổi thành viên của nhóm hầu hết là từ 18 -60, nội dung cam kết được đại diện chủ hộ gia đình ký kết thực hiện nghiêm túc là nhờ có sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban MTTQ xã, ban điều hành mô hình của xã, sự phối kết hợp giữa các đoàn viên, hội viên của các đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của Ban hành giáo, của cha xứ, các vị chức sắc, chức việc của giáo xứ, công tác tuyên truyền triển khai tổ chức thực hiện đã được gắn nhiều phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động lớn như cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động “Quỹ vì người nghèo”, xoá nhà ở dột nát cho hộ nghèo...

Nhóm xứ Đông Thành đã tổ chức cho bà con giáo dân ký vào bản cam kết thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, do MTTQ tỉnh cấp. Dưới sự hướng dẫn của Đức cha quản xứ bà con được học tập 7 chuyên đề liên quan đến giáo lý, giáo luật và lời khuyên để thực hiện tốt việc xây dựng gia đình hạnh phúc làm theo gia đình thánh gia không thực hiện các biện pháp lựa chọn giới tính thai nhi, thực hiện bình đẳng nam nữ. Qua học tập để nâng cao nhận thức cho bà con giáo xứ. Việc Đức cha thuyết giảng rất hiệu quả. Ngoài việc cha thuyết giảng trước giờ lễ của các buổi Chúa nhật, xét thấy cần trao đổi thêm cho các đôi vợ chồng trẻ trước khi hôn lễ nội dung này nên cha xứ đã thuyết giảng thêm tại lễ Hôn phối, có tác dụng rất tích cực cho công tác tuyên truyền.

Qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở rút ra một số kinh nghiệm như sau: Vì người Công giáo phải giữ trọn đức tin thực hiện tốt giáo lý, giáo luật và pháp luật nên việc nâng cao nhận thức cho đồng bào Công giáo thì cùng với các cấp, các ngành, đoàn thể làm công tác tuyên truyền theo tôi việc MTTQ mời các vị chức sắc cùng tham gia truyền giảng cho đồng bào Công giáo trong các buổi lễ là rất đúng và hiệu quả.

T.H

Về đầu trang


Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm 

Thực hiện chỉ đạo của Ban Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam, Kế hoạch của Ban Thường trực UBMTTQ tỉnh Hưng Yên về thực hiện mô hình gia đình phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.

Đại Đồng là một xã thuần nông, nhân dân chủ yếu làm ruộng, cách trung tâm huyện lị 7km, có số dân 9.400 nhân khẩu. Nhân dân đều theo Phật giáo, có 6 ngôi chùa, 1 ngôi chùa xếp di tích lịch sử, 5  chùa còn lại mới xây. 4 ngôi chùa có các nhà sư trụ trì. Có 1 thôn Đình Tổ có 345 nhân khẩu, nhân dân theo đạo công giáo toàn tòng. Diện tích canh tác xã có 419,16 ha, bình quân 1,5 sào/người, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, có 1 thôn (Lộng Thượng) có nghề đúc đồng truyền thống, 1 thôn (Bùng Đông) có nghề gia công quỳ. Đảng bộ có 302 Đảng viên sinh hoạt ở 9 Chi bộ nông thôn và 5 Chi bộ trực thuộc.

Những năm gần đây, tình hình phát triển dân số của xã luôn ở mức 1,2%. Đặc biệt tỷ lệ sinh bé trai tăng nhanh và tỉ lệ người sinh con thứ 3 tăng, chủ yếu tập trung ở lứa tuổi 35 - 40, phần lớn những hộ này đều có điều kiện kinh tế khá giả hoặc chưa có con trai. Nên đã làm ảnh hưởng tới tỉ lệ phát triển dân số của xã.

Quí I năm 2009 được TW MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực MTTQ tỉnh Hưng Yên đã chọn xã Đại Đồng để xây dựng mô hình điểm. Sau khi được MTTQ Việt Nam quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung của việc xây dựng mô hình điểm. Ban Thường trực MTTQ xã xác định đây là một mô hình hết sức mới, cần làm chuyển biến nhận thức của nhân dân về những quan niệm con trai, con gái và nhận thức việc bình đẳng giới trong gia đình cộng đồng dân cư, mà tập trung chủ yếu là các tín đồ phật tử. Khi thực hiện mô hình điểm, Ban Thường trực MTTQ xã báo cáo với Ban Thường vụ Đảng uỷ, phối hợp với UBND xã xây dựng kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng quý thành lập ban chỉ đạo gồm 12 thành viên. Đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ tổ chức Đảng làm Trưởng ban, Chủ tịch MTTQ xã làm phó ban thường trực. Đặc biệt có các vị tăng, ni trụ trì các chùa tham gia ban chỉ đạo.

Việc lồng ghép mô hình điểm vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" là một trong những nội dung đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ, các ban công tác mặt trận và hướng các hoạt động về các KDC, xây dựng KDC thực sự vững mạnh. Việc lồng ghép mô hình trong cuộc vận động được cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đánh giá cao vai trò của MTTQ trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của địa phương. Cuối năm 2010, mỗi chỉ tiêu đề ra của chi bộ được ban CTMT đánh giá thông qua ngày hội đại đoàn kết toàn dân nhân ngày 18/11.

 Nhìn chung sau 1 thời gian triển khai thực hiện mô hình, các chức sắc tôn giáo đã có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam và xã Đại Đồng nói riêng. Từ đó đã tích cực tuyên truyền cho các phật tử tạo chuyển biến về nhận thức và hành động của các tín đồ phật tử. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô hình, Ban Thường trực, Ban chỉ đạo các Tăng, Ni đã có những cách làm sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục DSKHHĐ tỉnh Hưng Yên về trực tiếp giảng những nội dung: hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp nhằm khắc phục thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam cũng như ở Hưng Yên, kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc cho các tín đồ phật tử đã cung cấp lượng thông tin bổ ích cho các tín đồ phật tử.

 Thông qua hoạt động mô hình thì vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình, xã hội đã được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn. Tư tưởng trọng nam, khinh nữ trong bộ phận không nhỏ người dân đã dần thay đổi và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

T.H

Về đầu trang


Thành phố Hồ Chí Minh tổng kết 10 năm phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (2000-2010), 15 năm cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" (1995-2010)

Ngày 18-12-2010, tại thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân và Ủy ban MTTQ thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (2000-2010), 15 năm cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" (1995-2010). Đến dự Hội nghị có các đồng chí Bùi Thị Thanh, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh; Dương Quan Hà, Chủ tịch Ủy ban MTTQ thành phố Hồ Chí Minh.

Sau 15 năm triển khai thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" (1995-2010) và 10 năm phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (2000-2010) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã phát triển đều khắp và lan tỏa đến tận cơ sở; nhiều mô hình mới, nhiều giải pháp hay từ thực tiễn phong trào được nhân rộng. Thông qua cuộc vận động và phong trào đã góp phần đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương; một bộ phận dân cư khó khăn được cải thiện; từng bước xây dựng đạo đức, lối sống trong nhân dân; tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi, môi trường văn hóa ngày một lành mạnh, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Trong 15 năm qua, có 934.399 lượt người tốt được tuyên dương (trong đó có 859.618 lượt người tốt việc tốt cấp cơ sở, 66.035 người tốt việc tốt cấp quận, 8,746 618 lượt người tốt việc tốt cấp Thành phố). Đến nay, Thành phố có 4.172 lượt khu phố, ấp văn hóa; cấp quận công nhận 17.132 lượt công sở văn minh-sạch đẹp-an toàn; cấp Thành phố công nhận 917 công sở văn minh-sạch đẹp-an toàn. Trong phong trào thi đua lao động sáng tạo, 10 năm qua đã có 29.471 sáng kiến, có  3.430 đề tài nghiên cứu làm lợi 378 tỷ đồng, tiết kiệm vật tư nguyên vật liệu 206,8 tỷ đồng...

Tại Hội nghị, tham luận của các đại biểu làm sáng tỏ hơn kết quả thực hiện cuộc vận động và phong trào trong những năm qua; đồng thời, nêu lên những hạn chế và nguyên nhân, những kinh nghiệm, những kiến nghị để đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" trong thời gian tới.

Hội nghị đã thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm của cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở cơ sở trong 5 năm tới là: Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; thực hiện quy chế văn hóa ở cơ sở, văn hóa trong các đơn vị sự nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, nếp sống văn minh nơi công cộng và thực hiện văn hóa giao thông, thông qua hệ thống giải pháp chỉ tiêu: Cuối năm 2015, toàn thành phố phấn đấu có 40% phường, xã, thị trấn có nhà văn hóa; 80% tổng số hộ đạt chuẩn hộ văn hóa; 70% khu phố, ấp đạt tiêu chuẩn khu phố văn hóa, ấp văn hóa; 40% phường, xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn phường, xã, thị trấn văn hóa; 90% công sở đạt tiêu chuẩn công sở văn minh sạch, đẹp, an toàn; 80% đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bùi Thị Thanh đánh giá cao kết quả thực hiện và đóng góp của cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" vào việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua. Bên cạnh những chuyển biến tích cực, địa bàn khu dân cư ở Thành phố vẫn còn tồn tại như tình hình trật tự đô thị, vệ sinh môi trường có lúc có nơi, từng địa bàn dân cư chưa được cải thiện đáng kể; việc huy động nhân dân tham gia một số phong trào ở một số địa bàn chưa được chú trọng; chất lượng một số khu phố văn hóa, ấp văn hóa đã đạt danh hiệu nhưng chưa thật sự nổi bật. Để cuộc vận động và phong trào tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu của Thành phố, Phó Chủ tịch Bùi Thị Thanh đề nghị các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong Thành phố cần nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, coi đây là một trong những nội dung chính trong chương trình công tác. MTTQ và chính quyền các cấp cần hoàn thiện cơ chế phối hợp hoạt động. Đặc biệt cần tăng cường công tác phối hợp, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về nội dung, mục đích, ý nghĩa của cuộc vận động, của phong trào ngày một thấm sâu, lan toả trong đời sống, nhận thức, hành động của mỗi người dân, mỗi cộng đồng dân cư, Phó Chủ tịch Bùi Thị Thanh đề nghị thành phố Hồ Chí Minh sớm xây dựng Kế hoạch triển khai Chỉ thị 1869/CT-TTg, ngày 10-10-2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phối hợp với Ủy ban Trung ương Việt Nam đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong giai đoạn mới. Đồng thời, Phó Chủ tịch Bùi Thị Thanh đề nghị đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp phải tiếp tục đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, khu dân cư; sớm thành lập Ban vận động cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” các cấp ở Thành phố và phối hợp chỉ đạo rà soát, bổ sung tiêu chí và ban hành các danh hiệu “gia đình văn hoá”, “khu dân cư văn hoá“; hàng năm tiến hành đăng ký, bình chọn danh hiệu gắn với việc tổng kết cuộc vận động và tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc” 18-11. 

LÊ MẬU NHIỆM

Về đầu trang


Yên Bái sau 15 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã đoàn kết một lòng, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vươn lên giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới, đưa Yên Bái vững bước đi lên.

Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, tình hình chính trị xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh giữ vững. Có được kết quả đó là sự phấn đấu không ngừng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc toàn tỉnh, trong đó có sự đóng góp quan trọng của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Cuộc vận động đã được Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) các cấp và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái hưởng ứng nhiệt tình và đạt được những kết quả quan trọng.

Cùng với chủ trương chung của Đảng, Nhà nước, Ủy ban MTTQ tỉnh đã vận động nhân dân đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; tổ chức hướng dẫn ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng vụ; xây dựng mô hình phát triển kinh tế hộ; tổ chức giúp nhau về giống, vốn, vật tư nông nghiệp, ngày công lao động, trị giá mỗi năm trên 20 tỷ đồng. Các tổ chức đoàn thể, hội tranh thủ nguồn vốn đầu tư của các chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng hàng ngàn mô hình phát triển kinh tế; nhận ủy thác với Ngân hàng Chính sách Xã hội cho hội, đoàn viên vay vốn phát triển sản xuất với tổng số tiền trên 1.000 tỷ đồng.

Đẩy mạnh cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, tổng nguồn quỹ vận động được trên 40 tỷ đồng đã hỗ trợ sửa chữa và làm mới 9.377 ngôi nhà; hỗ trợ hộ nghèo phát triển sản xuất, học sinh nghèo vượt khó, hỗ trợ đột xuất cho gần 2.000 lượt hộ nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần đưa nền kinh tế của địa phương có bước phát triển quan trọng: tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, GDP bình quân hàng năm đạt trên 11,5%, số hộ nghèo giảm trên 4% mỗi năm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 15,57%.

Ủy ban MTTQ tỉnh còn vận động hỗ trợ các gia đình chính sách, xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” trên 1 tỷ đồng thăm hỏi các gia đình chính sách, xây dựng mới và sửa chữa trên 1.250 nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách, xây dựng 90 vườn cây tình nghĩa trị giá trên 85 triệu đồng; tặng 1.575 sổ tiết kiệm với tổng số tiền 379 triệu đồng; vận động ủng hộ tiền mặt, quần áo, chăn màn cho đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, các nạn nhân bị sóng thần, động đất trong và ngoài tỉnh, các nước láng giềng trị giá mỗi năm trên một tỷ đồng.

Nhân dân phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật; tổ chức phát động phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hóa, giáo dục, cải tạo người lầm lỗi tại gia đình và cộng đồng, khu dân cư”. Bên cạnh đó, vận động trên 1.000 lượt người đi cai nghiện tập trung; phối hợp thành lập và đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức quần chúng tham gia giữ gìn an ninh trật tự tại cơ sở.

Đến nay, toàn tỉnh có 2.248 tổ an ninh nhân dân, 180 ban thanh tra nhân dân, 3.056 tổ tự quản, 2.394 tổ hòa giải, xây dựng 854 hòm thư tố giác tội phạm, 2.035 điểm trình báo tạm trú, tạm vắng, 774 quy ước an ninh trật tự, duy trì hàng trăm câu lạc bộ phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy tại các khu dân cư; vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, giữ gìn thuần phong mỹ tục, mọi gia đình sống hòa thuận, làng xóm láng giềng gắn bó mật thiết; xây dựng quy ước, hương ước thôn, bản.

Đã có gần 70% hộ gia đình được sử dụng nước sạch; 98% số xã có điện thắp sáng; hàng năm, có trên 82% số hộ được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa. Đến nay, đã có 32/180 xã, phường, thị trấn; 1.495 làng, bản, tổ dân phố ra mắt làng văn hóa; xây dựng được 1.180 nhà văn hóa thôn, bản; phối hợp xóa 9.377 nhà tạm, nhà dột nát, trị giá trên 187 tỷ đồng; xóa bỏ các hủ tục ma chay, cưới hỏi dài ngày; xây dựng và duy trì 53 xã, 1.249 khu dân cư không có ma túy và tệ nạn xã hội.

MTTQ các cấp vận động nhân dân tham gia đóng góp xây dựng trường, lớp, nhà ở cho giáo viên, ký túc xá cho giáo viên, học sinh ở các xã vùng sâu, vùng xa; xây dựng quỹ khuyến học, khuyến tài; chăm sóc sức khỏe nhân dân, xây dựng và duy trì 129 xã đạt chuẩn quốc gia y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình; xây dựng, nhân diện các mô hình điểm câu lạc bộ theo nội dung chuyên đề.

Mặt khác tham gia ý kiến đóng góp cho cán bộ, đảng viên, các dự án luật, văn kiện đại hội Đảng các cấp, hiệp thương bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, giám sát việc thi hành chính sách pháp luật, thực hiện quy chế dân chủ; củng cố, kiện toàn ban công tác mặt trận, ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng và các đoàn thể ở khu dân cư; vận động, thu hút trên 70% hội viên, đoàn viên tham gia sinh hoạt và hàng năm, có trên 70% tổ chức mặt trận, các đoàn thể ở khu dân cư đạt tiêu chuẩn vững mạnh.

Qua 15 năm tổ chức triển khai thực hiện, cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" đã thể hiện tính thống nhất cao, quy tụ, tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết trên địa bàn dân cư, đáp ứng yêu cầu đổi mới của tỉnh và đất nước, được đông đảo nhân dân hưởng ứng tích cực, góp phần quan trọng thúc đẩy các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường an ninh - quốc phòng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân.

Cuộc vận động đã phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, thúc đẩy vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, quản lý của Nhà nước và công tác vận động quần chúng; gắn kết cán bộ, đảng viên với nhân dân; nâng cao hơn vị trí, vai trò của Mặt trận trong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và đất nước.

Hoàng Thị Làng - Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Yên Bái

Về đầu trang


Hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ cho các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu tại các tỉnh phía Nam.

Trong hai ngày 19-20/6, tại TP.Hồ Chí Minh, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với Tổng Cục dân số- Bộ Y tế tổ chức  Hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ cho cán bộ Mặt trận, các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu tại các tỉnh phía Nam. Đến dự có đồng chí Lê Bá Trình, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; đồng chí Trần Hoa Mai, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế.

Hội nghị đã nghe các báo cáo viên giới thiệu các chuyên đề về Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020, truyền thông thay đổi hành vi và phương pháp tuyên truyền, vận động khắc phục bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình và mất cân bằng giới tính khi sinh lồng ghép vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết  tốt những vấn đề cơ cấu, phân bổ dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân…

Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận vào các chuyên đề nhằm tìm ra các giải pháp cơ bản để thực hiện công tác DS-KHHGĐ là truyền thông, giáo dục, vận động, chuyển đổi hành vi gắn với cung cấp dịch vụ theo hướng dự phòng tích cực, đảm bảo công bằng, bình đẳng giới và quyền của người dân trong việc tiếp cận thông tin, lựa chọn dịch vụ có chất lượng, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, đặc điểm văn hóa và tập quán của người dân ở các vùng khác nhau.

Đây là những nội dung hết sức cơ bản và thiết thực liên quan đến công tác hàng ngày của cán bộ Mặt trận, các vị chức sắc tôn giáo làm công tác dân số có được những kiến thức nhất định về công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ công tác DS-KHHGĐ hiện nay.

Tùng Lâm

Về đầu trang


Hoàng Su Phì (Hà Giang) xây dựng nông thôn mới   

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Vượt qua khó khăn của một trong 62 huyên nghèo của cả nước, Hoàng Su Phì đã áp dụng sáng tạo vào điều kiên thực tế địa phương, khơi dậy sức dân, cộng đồng doanh nghiêp, các nhà tài trợ để lồng ghép xây dựng NMT hiêu quả. 

Sức dân, do dân: 

Năm 2011, Hoàng Su Phì chỉ đạo xây dựng mô hình NTM ở 5 xã, mỗi xã một thôn để làm điểm chỉ đạo rút kinh nghiệm nhân rộng mô hình cho các năm tiếp theo. Trong 5 địa phương là Thông Nguyên, Nậm Ty, Nậm Dịch, thị trấn Vinh Quang và Pố Lồ, mục tiêu đề ra của năm cho các thôn là hoàn thiện cơ bản hệ thống hạ tầng cơ sở, chủ yếu là đường giao thông nông thôn, đường liên thôn bản, đường nhánh vào các hộ gia đình. Hoàn thiện hệ thống chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, xây dựng bể nước ăn, nhà tắm, các công trình vệ sinh phục vụ cuộc sống trong từng hộ gia đình. Hiện đã làm đường liên thôn bản ở 5 thôn của 5 xã có chiều dài trên 8 km; đường nhánh vào hộ gia đình của 5 thôn có chiều dài trên 11 km; làm nhà tắm cho các hộ là 177 nhà, làm 177 công trình vệ sinh, 94 bể nước ăn, di dời 51 chuồng trại ra xa nhà. Tất cả các công trình đều thực hiện bê - tông hoákiên cố 100%. Trong quá trình triển khai thực hiện, nhân dân đã nhiệt tình hưởng ứng bỏ toàn bộ công sức, đóng góp đất đai, tự giải phóng mặt bằng, tự tay xây dựng mô hình NTM theo đúng tinh thần chỉ đạo đề ra. Tại mỗi điểm mô hình, Nhà nước chỉ hỗ trợ duy nhất xi - măng và 50% tiền cước vận chuyển nguyên vật liệu ở những điểm xa vượt quá sức dân; phần còn lại do dân chịu trách nhiệm hoàn tất mọi công việc xây dựng. Tính đến thời điểm hiện tại, ở 5 thôn điểm chỉ đạo, đồng bào các dân tộc đã căn bản làm xong 6 tiêu điểm của mục tiêu đề ra trong Bộ tiêu chí xây dựng NTM. Tại các thôn, Làng Giang (Thông Nguyên), Tấn Xà Phìn (Nậm Ty), Thắng Lợi (Nậm Dịch), đông đảo bà con nông dân tranh thủ thời điểm nông nhàn đua nhau xây dựng các công trình theo kế hoạch. Tại đây, cát, sỏi được lấy từ suối lên, đồng bào đổi công nhau làm đường, xây bể nước, di dời chuồng trại ra xa nhà. Nhà nọ làm giúp nhà kia theo kiểu làm cuốn chiếu, làm được đến đâu xong đến đó. Mới đây, Hoàng Su Phì đánh giá sơ bộ chương trình triển khai thực hiện và rút ra bài học từ sức dân trong phong trào vừa qua để triển khai rộng mô hình. Qua đánh giá cho thấy: Trong mọi việc từ phát triển kinh tế đến xây dựng quê hương, nông dân có vị trí cực kỳ quan trọng, đó là sức mạnh vô địch, thiếu vắng nông dân không dễ gì làm được. Thực tế trong phong trào xây dựngNTMnơiđâylàmđiểm ở 5 thôn, của 5 xã thì mọi công việc đều do nhân dân lo làm, nhà nước chỉ đóng vai trò tựa như chất “Xúc tác” trong cả dãy công việc. Cụ thể hơn trong một loạt các hạng mục làm nên bộ mặt NTM ở các thôn bản, vai trò của nhà nước chỉ hỗ trợ xi măng. Việc mở đường, lấy cát sỏi, công xây lắp, công vận chuyển… do dân lo. Thời điểm hiện tại ở 24/ 25 xã, thị trấn huyện Hoàng Su Phì đều đăng ký xây dựng NTM với trên 45 thôn bản đăng ký làm. Công việc vô cùng to lớn là mở và làm đường bê tông nông thôn có chiều dài gần 54 km, mặt đường rộng 2,5 m, làm đường vào nhánh hộ gia đình loại 1,2 m có chiều dài trên 110 km. Làm mới 2.050 nhà tắm, 2.358 công trình nhà vệ sinh, 1.889 bể nước ăn, cổng vào…tất tật do dân lo làm. Bên cạnh đó là công việc quy hoạch, thiết kế nhà văn hoá, sân chơi, nhà câu lạc bộ thôn bản v.v. đều được đem ra bàn bạc trước dân, giao quyền cho nhân dân tự lo, tự định đoạt theo nhu cầu thực tiễn địa phương, phù hợp với thuần phong, mỹ tục, địa hình, địa mạo vùng miền và những đều do dân, vì dân. Qua đó còn giúp tiết kiệm chi phí tối đa mang lại lợi ích cho nhân dân cả trước mắt cũng như lâu dài. Lấythực tiễn sinh động để áp dụng việc làm có lợi cho dân, không máy móc cứng nhắc đã giúp Hoàng Su Phì đẩy nhanh quá trình chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay. Trưởng ban chỉ đạo chương trình, Chủ tịch UBND huyện Hoàng Su Phì Hoàng Hải Lý cho rằng, huyện đã và đang đi đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân là; “Mọi việc do dân, cũng nhờ vào sức dân” để xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp, khang trang mà ở đó người dân làm chủ. 

Và những trăn trở. 

Hoàng Su Phì là huyện nghèo, đời sống đồng bào còn nhiều khó khăn bởi xuất phát điểm thấp. Bên cạnh đó địa hình, địa mạo dốc, rễ trôi trượttrong mùa mưa, hệ thống giao thông hạn chế đang làm giảm tiến độ thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn. Ngoài nỗ lực từ chính quyền các cấp, nỗ lực sức dân, nỗ lực cộng đồng ra thì nhà nước cũng nên có cơ chế, chính sách ưu tiên hơn nữa để đầu tư thích hợp cho mục tiêu xây dựng nông thôn“Miền Núi “ phát triển: Đường giao thông, kênh mương thuỷ lợi nội đồng, điện, trường học và trang bị nghề, KHKT để nhà nông tự vươn lên. Muốn vậy phải đầu tư tài chính thoả đáng “Đủ” mới thực hiện đồng bộ được. Tránh tình trạng nhỏ giọt, manh múm, dàn trải sẽ khó đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kết quả không cao, không đồng bộ sẽ lãng phí .Những gì Hoàng Su Phì đã và đang làm rất cần nghiên cứu, đánh giá để được hiệu quả cao nhất. 

Theo Báo Hà Giang

Về đầu trang


Lai Châu: Triển khai điểm chương trình mục tiêu quốc gia gắn với cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” 

Ngày 24/6, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lai Châu đã phối hợp với UBND xã Hoang Thèn, huyện Phong Thổ tổ chức Hội nghị triển khai điểm chương trình mục tiêu quốc gia gắn với Cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. 

Trong năm qua, cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” ở xã Hoang Thèn đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ. Khơi dậy truyền thống đoàn kết, từng bước nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân, nhất là vận động nhân dân tham gia thực hiện lồng ghép các chương chình mục tiêu quốc gia như: phòng chống ma túy, phòng chống tội phạm, mại dâm, HIV/AIDS, dân số kế hoạch hóa gia đình, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường.  

Đến nay, xã Hoang Thèn đã có 9 bản ký cam kết không có tội phạm ma túy, không có số người mại dâm và số điểm mại dâm đồng thời không có người nghiện ma túy. Giảm thiếu thấp nhất số người tai nạn giao thông, số vụ vi phạm tai nạn giao thông trong toàn xã. Nâng cao chất lượng dân số kế hoạch hóa gia đình, ký cam kết không có hộ gia đình sinh con thứ ba. 

Cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đã thúc đẩy nhân dân trong xã tự giác đấu tranh phê phán và tố giác tội phạm, xây dựng các điểm văn hóa lành mạnh và bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp. 4/9 khu dân cư đạt danh hiệu “khu dân cư tiên tiến”; 9/9 khu dân cư đã xây dựng quy ước, hương ước, 7 khu dân cư không có tệ nạn xã hội; 9 câu lạc bộ phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy; 9/9 bản được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 9/9 bản có nhà văn hóa. Tổng số hộ nghèo của xã còn 296/652 hộ.  

Dự và phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Lê Xuân Phùng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, phó chủ tịch UBND tỉnh đã biểu dương những kết quả MTTQ các cấp và xã Hoang Thèn đạt được trong năm qua. Đồng chí đề nghị thời gian tới, MTTQ các cấp tiếp tục phối hợp với các tổ chức thành viên tăng cường lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, xây dựng chương trình hành động nhằm thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; trong đó tập trung vào các nội dung đó là: Không sinh con thứ 3, không vi phạm pháp luật và mắc TNXH, không bạo lực gia đình, Không còn tình trạng đói nghèo, không có trẻ suy dinh dưỡng và thất học. Tổ chức ký cam kết thực hiện các quy chế, quy ước của bản, làng cùng với việc đăng ký xây dựng gia đình văn hóa. Tăng cường tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân gương mẫu thực hiện văn hóa giao thông; đồng thời tích cực tham gia các hoạt động giữ gìn trật tự an toàn giao thông. Tổ chức tốt các hoạt động truyền thông, tuyên truyền chương trình mục tiêu quốc gia về vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư về công tác giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và cải thiện môi trường. 

Tại Hội nghị, các trưởng bản của xã Hoang Thèn đã ký cam kết thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ gắn với cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. 

Tường Lam

Về đầu trang


Hỗ trợ các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi về SKSS tại cộng đồng

Trong những năm qua, nhằm thay đổi hành vi về chăm sóc SKSS cho người dân vùng cao, Dự án Nâng cao chất lượng và sử dụng dịch vụ SKSS Hà Giang (VNM7PG0001) đã tập trung vào công tác tuyên truyền ở 3 huyện triển khai dự án là Yên Minh, Xín Mần, Đồng Văn, Hà Giang.  

Công tác tuyên truyền được thực hiện sâu rộng bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp nên đạt được kết quả cao, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của người dân đối với vấn đề chăm sóc SKSS cho bản thân và cộng đồng xã hội. 

Trong công tác truyền thông do Dự án triển khai thì hiệu quả nhất vẫn là các hoạt động do các tổ chức hội, đoàn thể phối hợp tổ chức thực hiện, bao gồm Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc. Nguyên nhân các tổ chức hội, đoàn thể thực hiện đạt hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền là do các đơn vị này có đông hội viên và đều thuộc mục tiêu tuyên truyền của dự án. Mặt khác, các tổ chức hội đều có cấp hội cơ sở nên hoạt động truyền thông được tổ chức thường xuyên, liên tục. Về hình thức tuyên truyền, các tổ chức hội thực hiện lồng ghép vào các buổi sinh hoạt tổ, hội hoặc lồng ghép vào hoạt động của các Nhóm SKSS/TDTK. Để công tác tuyên truyền được thực hiện đạt hiệu quả cao, các tổ chức hội đều lựa chọn người tuyên truyền là nhóm trưởng, cán bộ hội ở cơ sở. Khi được lựa chọn, đội ngũ này sẽ được tham gia các lớp tập huấn kiến thức chăm sóc SKSS cũng như kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân. Nhờ được tập huấn, lại biết tuyên truyền bằng tiếng địa phương nên công tác tuyên truyền thông qua đội ngũ này phát huy được hiệu quả. Chính vì vậy, từ khi triển khai cho đến nay, năm nào dự án cũng xây dựng kế hoạch và cấp kinh phí cho các tổ chức hội, đoàn thể thực hiện công tác truyền thông, đồng thời cung cấp cả phương tiện truyền thông như tài liệu, sách, băng đĩa và loa đài. Chỉ tính riêng trong năm 2010, Ủy ban MTTQ tỉnh tổ chức được 160 buổi truyền thông tại 15 xã cho gần 5.000 người tham gia; Hội Phụ nữ tỉnh tổ chức được 237 buổi truyền thông nhóm nhỏ; Hội Nông dân tổ chức được 370 buổi. Ngoài 3 tổ chức hội, đoàn thể thực hiện công tác truyền thông thường xuyên, dự án cũng đã triển khai hoạt động này thông qua hoạt động phối hợp với các đơn vị khác, Báo Hà Giang; Đài PT- TH tỉnh; Chi cục DS/KHHGĐ; Sở Giáo dục- Đào tạo. Trong đó Báo Hà Giang và Đài PT- TH tỉnh đã thực hiện nhiều chuyên mục, chương trình PT- TH đề cập đến những vấn đề về công tác chăm sóc SKSS ở cơ sở. Hàng năm, Báo Hà Giang đã cắt cử phóng viên về cơ sở thu thập tài liệu, đăng tải gần 20 chuyên mục về hiệu quả hoạt động của dự án, những mô hình do dự án đầu từ phát huy hiệu quả ở cơ sở. Với Đài PT- TH, ngoài việc xây dựng và thực hiện các chuyên mục phát sóng về đề tài này thường xuyên còn liên tục cho pháttập kịch (Khát vọng sống) có nội dung về cung cấp kiến thức trong chăm sóc SKSS/DS và phát triển cho lứa tuổi vị thành niên. Chi cục DS/KHHGĐ, Sở Giáo dục- Đào tạo cũng đã tổ chức hàng trăm buổi truyền thông do đội ngũ cộng tác viên dân số và giáo viên cắm bản thực hiện. Cùng với đó, hoạt động truyền thông do Trung tâm Văn hoá Thông tin- Thể thao các huyện Yên Minh, Xín Mần, Đồng Văn thực hiện cũng đạt được kết quả to lớn. Công tác truyền thống được thực hiện thông qua 3 đội thông tin lưu động và được tổ chức tại các phiên chợ. Việc truyền thống tại các phiên chợ được tổ chức theo hình thức vừa tổ chức biểu diễn văn nghệ, vừa tuyên truyền nên thu hút được rất đông người đến xem. Nội dung tuyên truyền được thể hiện bằng tiếng Kinh và tiếng dân tộc nên người đến xem dù không biết tiếng phổ thông vẫn có thể tiếp thu. Tuyên truyền ở chợ nên đối tượng được nghe rất phong phú, có người già, trẻ nhỏ, có nam, có nữ. Trong năm 2010, các Đội thông tin lưu động của 3 huyện đã tổ chức được 131 buổi truyền thông chăm sóc SKSS và có trên 120.000 lượt người đến nghe. 

Có thể khẳng định, việc hỗ trợ cho các hoạt đông truyền thông của Dự án trong những năm qua đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi nhận thức, hành vi của người dân về chăm sóc SKSS.  

TUYÊN BÌNH

Về đầu trang


MTTQ tỉnh Thái Bình với công tác tuyên truyền, thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ  

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đặc biệt là việc triển khai thực hiện các chế độ chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo, đời sống của người dân trong tỉnh ngày càng được cải thiện và nâng cao. Số hộ khá, giàu tăng, không có hộ đói, hộ nghèo ngày càng giảm. 

Cùng với thành tựu về kinh tế, nhận thức của nhân dân về quy mô gia đình ít con đã thực sự có chuyển biến, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt dưới 1%. Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ đã được chú trọng. Tỷ lệ chết mẹ, chết trẻ sơ sinh vào loại thấp nhất so với cả nước. Tỷ lệ học sinh đến trường cao, chỉ số phát triển con người (HDI) 0,714, xếp thứ 8 trong cả nước. Tuy nhiên, trong lĩnh vực DS - KHHGĐ tỉnh ta cũng đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn. Tình trạng di dân tự do tăng, với trên 100.000 lượt người đi lao động xa nhà theo thời vụ gây khó khăn cho việc kiểm soát dân cư, ngoài ra còn kèm theo nhiều hậu quả khác, nhất là các tệ nạn xã hội. Hiện Thái Bình là tỉnh nằm trong nhóm 10 tỉnh thành phố trong cả nước có nhiều người nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS. Tỷ lệ mất cân bằng giới tính những năm gần đây cũng thuộc loại cao, trong đó 6 tháng đầu năm 2008 là 117 nam/100 nữ. Vấn đề giới, bình đẳng giới, bạo hành gia đình gây nhiều bức xúc. Trước thực trang trên, MTTQ các cấp đã tích cực phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ, tuyên truyền vận động toàn dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chủ trương chính sách về lĩnh vực Dân số - KHHGĐ. 

Cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" do TƯ MTTQ phát động được các tầng lớp nhân dân tích cực ưởng ứng, trong đó một trong sáu tiêu chí là khu dân cư không có người sinh con thứ ba và làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Để đạt tiêu chí trên, hàng năm MTTQ phối hợp với các ngành chức năng tổ chức các hội nghị truyền thông trong các khu dân cư với nội dung về dân số, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS; đồng thời tổ chức hội thi Ban công tác mặt trận với vấn đề dân số và CSSK cộng đồng... nhằm làm thay đổi nhận thức của nhân dân. Ngoài ra, MTTQ còn phối hợp với ngành Dân số, Văn hóa, Tư pháp xây dựng hướng dẫn liên ngành về việc đưa chính sách dân số, gia đình, trẻ em vào hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố; vào tiêu chí thôn làng, cơ quan đơn vị đạt danh hiệu "đơn vị văn hóa". Đến nay toàn tỉnh có 1688 thôn làng (chiếm 88,2%) xây dựng được hương ước, quy ước của địa phương, trong đó có những quy định cụ thể về chính sách DS-GĐ và TE, được nhân dân đồng tình và tích cực hưởng ứng. Hai phong trào lớn được triển khai sâu rộng trong đồng bào tôn giáo là phong trào thi đua "xây dựng chùa cảnh bốn gương mẫu", "xứ họ đạo bốn gương mẫu" có bốn nội dung và các tiêu chí cụ thể, phù hợp trong đồng bào có đạo, trong đó tiêu chí về công tác dân số và CSSK nhân dân cũng được đông đảo các vị chức sắc, đồng bào có đạo hưởng ứng, thi đua thực hiện. Hàng năm toàn tỉnh có 100% các xứ họ và nhà chùa đăng ký hưởng ứng phong trào, 40 - 45% các xứ họ và nhà chùa đạt danh hiệu “bốn gương mẫu”. Mỗi dịp sơ kết phong trào tại cơ sở, MTTQ các xã phối hợp với các chức sắc tôn giáo tổ chức khen thưởng kịp thời, qua đó  động viên, nhân rộng các điển hình cá nhân, đơn vị thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ. Ngoài ra MTTQ còn tổ chức các hội nghị biểu dương các xứ họ đạo tiêu biểu thực hiện tốt công tác DS, CSSK cộng đồng và tổ chức 19 cuộc hội thảo cho đối tượng là các vị chức sắc, chức việc, nam nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đồng bào giáo dân với gần 2000 lượt người tham dự nhằm mục đích tuyên truyền, vận động trực tiếp, cung cấp những kiến thức về lĩnh vực DS - CSSKSS cho nhân dân. Gần đây, tháng 9-2008, MTTQ tỉnh  đăng cai tổ chức hội thảo “chức sắc tôn giáo các tỉnh phía Bắc với thực hiện chính sách dân số KHHGĐ” đã thu hút hàng trăm đại biểu đến từ các tôn giáo trong khu vực với nhiều kinh nghiệm quý, cách làm hay trong tuyên truyền, thực hiện chính sách DS-KHHGĐ….  

Để bảo đảm thực hiện tiêu chí về dân số trong các phong trào thi đua do MTTQ phát động trong tình hình xã hội hiện nay không hề đơn giản. Song với nỗ lực của những người làm công tác mặt trận các cấp, sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, công tác dân số KHHGĐ những năm qua vẫn đạt nhiều kết quả. Toàn tỉnh có 420 khu dân cư từ 3 đến 5 năm liền không có người sinh con thứ ba trở lên; hàng năm có từ 30 - 35% các khu dân cư đạt danh hiệu “khu dân cư tiên tiến”. Qua các kênh thông tin do MTTQ và các Hội thành viên tổ chức truyền thông, số người nắm rõ và thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ ngày càng tăng đã góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội toàn tỉnh ngày càng phát triển.

Dung

Về đầu trang


Tiền Giang xây dựng nông thôn mới

Tiền Giang đang tập trung triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM), với quyết tâm đến năm 2015 có 20% số xã, đến năm 2020 có 50% số xã đạt các tiêu chí về NTM. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu đề ra, còn nhiều việc phải làm.

Với diện tích tự nhiên  hơn 248 nghìn ha, trong đó, đất nông nghiệp hơn 182,7 nghìn ha, dân số hơn 1,7 triệu người, lao động trong nông nghiệp chiếm hơn 70%, Tiền Giang có thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp.  Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP, Viet GAP cho hiệu quả cao, đời sống vật chất, tinh thần người dân nông thôn từng bước được cải thiện, diện mạo nông thôn ngày càng đổi mới. Tuy nhiên, qua kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng nông thôn của các địa phương trên địa bàn tỉnh cho thấy,  để xây dựng NTM theo bộ tiêu chí quốc gia còn rất nhiều khó khăn cần tháo gỡ.

Theo đánh giá  của UBND tỉnh, nguyên nhân chủ yếu do công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch ở xã còn nhiều bất cập chưa bắt kịp yêu cầu phát triển. Cơ sở hạ tầng nông thôn so quy chuẩn của các bộ, ngành T.Ư chưa đạt tỷ lệ cao. Thời gian qua, đời sống nhân dân tuy được nâng lên, nhưng một bộ phận vẫn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, số nhà tạm vẫn còn nhiều; công tác đào tạo, dạy nghề  hạn chế, người lao động thiếu việc làm còn nhiều. Vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn do các hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa được các ngành, các cấp quan tâm xử lý đúng mức; công tác kiểm tra, giám sát, xử phạt các hành vi gây ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn nhiều bất cập do trình độ cán bộ, công chức cấp xã hạn chế về kỹ năng lãnh đạo, quản lý,  chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở địa phương...

Hiện nay, các xã thực hiện chỉ đạo xây dựng NTM đang tiến hành đánh giá, rà soát so sánh hiện trạng với các tiêu chuẩn NTM để xây dựng đề án. 

Tại Gò Công Tây, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nguyễn Văn Hùng cho biết: Bình Nhì là xã đầu tiên của huyện được tỉnh chọn và cấp vốn 2,7 tỷ đồng xây dựng  NTM, đến nay, các danh mục công trình đã được xác định. Riêng các xã điểm mới chọn bổ sung như: Thạnh Trị, Vĩnh Hựu đang trong quá trình xây dựng đề án. Phó Chủ tịch UBND thành phố Mỹ Tho Nguyễn Hoàng Ðảm cho biết, thời gian qua, thành phố tổ chức đoàn đi tham quan mô hình xây dựng NTM ở các địa phương bạn để học hỏi kinh nghiệm. Riêng xã điểm Tân Mỹ Chánh, đến nay đã lập xong đề án đưa ra dân lấy ý kiến...

Thực tế trên cho thấy, mặc dù các địa phương rất khẩn trương, tích cực trong việc triển khai thực hiện xây dựng NTM, nhưng theo đánh giá, tiến độ triển khai rất chậm.  Phó Chủ tịch UBND huyện Cai Lậy Phan Minh Hiền nói, đây là chương trình mới, nên địa phương không khỏi lung túng trong chỉ đạo thực hiện. Hơn nữa, hiện nay các xã đang chờ giao vốn cũng là một khó khăn làm chậm tiến độ triển khai thực hiện. 

Trong các tiêu chí, vấn đề được xác định khó khăn nhất là khâu quy hoạch. Theo Sở Xây dựng, trong tiêu chí quy hoạch có ba nội dung quy hoạch thuộc ba lĩnh vực. Nhưng nếu gom ba lĩnh vực này vào chung để giảm chi phí thì rất khó thực hiện, vì mỗi quy hoạch có yêu cầu, mục đích riêng. Còn nếu tách riêng từng lĩnh vực thành những quy hoạch riêng đòi hỏi vốn rất cao. Mặt khác, để cho cấp xã làm chủ đầu tư khâu này là cần thiết để bảo đảm cho quy hoạch có tính khả thi cao vì đây là đơn vị trực tiếp thực hiện, sát với cơ sở, nhân dân. Nhưng năng lực cán bộ, lãnh đạo xã có đủ đảm đương các công việc trên hay không đang là thách thức lớn. 

Bên cạnh các khó khăn trên, vấn đề xây dựng NTM còn khá mới mẻ, việc hiểu rõ để có hướng đi thích hợp cũng như tạo sự đồng thuận trong nhân dân rất quan trọng. Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Thanh Cẩn cho biết, trước mắt, tỉnh sẽ triển khai tập huấn cho các xã đã chọn điểm chỉ đạo xây dựng NTM, sau đó tiến hành tập huấn cho các xã còn lại. Ðể đạt mục tiêu 40 xã chọn chỉ đạo xây dựng NTM hoàn thành đề án, đồ án quy hoạch NTM cấp xã vào năm 2011 và thực hiện thành công chương trình xây dựng NTM những năm tiếp theo cần tăng cường công tác tuyên truyền để chuyển biến nhận thức trong hệ thống chính trị và nâng cao nhận thức của mỗi người dân. Phó Chủ tịch UBND tỉnh  Nguyễn Văn Phòng chia sẻ cùng với việc kiện toàn, kiểm tra BCÐ các cấp, tổ chức tập huấn cho các xã về xây dựng NTM, cần sớm hoàn thành đề án xây dựng NTM, đồ án quy hoạch NTM cấp xã ở các xã được chọn chỉ đạo để làm cơ sở chỉ đạo thực hiện. BCÐ tỉnh sẽ tổ chức  học tập, trao đổi kinh nghiệm xây dựng mô hình NTM giữa các xã điểm để rút kinh nghiệm. Ðể tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành khẩn trương triển khai thực hiện công tác quy hoạch, phấn đấu trong năm 2011 thực hiện hoàn chỉnh 40 xã (bao gồm 10 xã điểm), năm 2012 thực hiện 60 xã, năm 2013 thực hiện 45 xã. Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung chỉ đạo xây dựng NTM ở các địa phương, trong năm 2011, ngoài nguồn vốn T.Ư hơn 20 tỷ đồng hỗ trợ cho Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Tiền Giang cũng đã phân bổ cho 10 xã điểm của tỉnh chọn để tập trung chỉ đạo xây dựng NTM  27 tỷ đồng (mỗi xã 2,7 tỷ). Trong đó, hỗ trợ 100% từ ngân sách cho công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm xã, xây dựng trụ sở xã; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế; nhà văn hóa; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng NTM cho cán bộ xã, ấp... Ðồng thời, hỗ trợ một phần từ ngân sách cho xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; đường giao thông ấp, giao thông và kênh mương nội đồng; phát triển sản xuất và dịch vụ; nhà văn hóa ấp; công trình thể thao ấp; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản...

Nhìn rõ những bất cập, hạn chế và khó khăn từ đó tìm ra các giải pháp và phương án hỗ trợ tích cực, kịp thời sẽ giúp cho Tiền Giang nhanh chóng xây dựng khu vực nông thôn của tỉnh có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và từng bước hiện đại,  tổ chức sản xuất hợp lý,  gắn xây dựng nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn  ngày càng ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, sớm đạt được các tiêu chí về xây dựng NTM. 

Theo Báo Nhân Dân

Về đầu trang


Về Tân Sơn, Phú Thọ nghe chuyện “làm” dân số

“Làm cán bộ, CTV dân số, nhất là ở miền núi thì điều cần nhất là sự nhiệt tình. Vì địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, có nhiều dân tộc sống trên một địa bàn, bên cạnh đó cơ sở vật chất, phương tiện truyền thông thiếu thốn khiến cho công tác tuyên truyền cũng như triển khai các chiến dịch gặp nhiều khó khăn. Nhiều khi phải đến trực tiếp từng hộ nên phải mất công, mất nhiều thời gian hơn”. Anh Tạ Diên Hồng-Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Tân Sơn mở đầu câu chuyện bằng những lời tâm sự như trên. 

Qua thực tế tại nhiều địa bàn xã trong huyện, những lần trò chuyện với cán bộ y tế cũng như CTV dân số, tôi đã hình dung và có những cảm nhận ban đầu về công việc thầm lặng của các anh,các chị. Để triển khai tốt các chương trình, hoạt động, Trung tâm DS-KHHGĐ đã phối hợp với các tổ chức xã hội, các ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền, giáo dục về chính sách dân số, SKSS-KHHGĐ. Phối hợp với Ủy ban MTTQ huyện, các tổ chức đoàn thể tổ chức chiến dịch lồng ghép cung cấp dịch vụ. Qua đó đã từng bước thay đổi nhận thức, những quan niệm của người dân về dân số cũng như việc chăm sóc SKSS-KHHGĐ. Dân số toàn huyện Tân Sơn tính đến hết 6 tháng đầu năm là gần 80.000 người, trong đó số trẻ em sinh ra là 623 trẻ, (giảm so với cùng kỳ năm 2010 là 13 trẻ); tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,2%. Qua hệ thống cán bộ và CTV DS-KHHGĐ đã cung cấp và duy trì, quản lý việc sử dụng các biện pháp tránh thai(BPTT). Trung tâm đã phối hợp với Trung tâm y tế huyện tổ chức cung cấp dịch vụ trong chiến dịch tại 7 xã; tổ chức dịch vụ KHHGĐ trong dự án thúc đẩy KHHGĐ biện pháp tránh thai lâm sàng của Mailstopser 5 buổi đợt 1 và 17 buổi đợt 2. Kết quả trong 6 tháng đầu năm, tổng số cặp vợ chồng mới sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 5.029 ca, (đạt 98% kế hoạch năm); tỷ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng BPTT hiện đại đạt trên 70%. Các xã thực hiện dịch vụ có kết quả cao là Tân Sơn, Kim Thượng, Văn Luông, Minh Đài, Tam Thanh. 

Mặc dù đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và qua nhiều năm, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã có chuyển biến tốt, nhưng từ năm 2010 đến nay tư tưởng này lại có chiều hướng quay trở lại. Trong 6 tháng đầu năm 2011, chỉ số giới tính là 144 bé trai/100 bé gái, tăng so với cùng kỳ năm 2010 là 12. Tỷ lệ chênh lệch này đã trở thành vấn đề đáng lo ngại đối với việc lựa chọn giới tính khi sinh của các cặp vợ chồng. Lý giải điều này, anh Hồng cho biết: “Hiện nay, với sự phát triển về công nghệ, việc lựa chọn giới tính trở nên dễ dàng hơn khiến cho việc các cặp vợ chồng muốn có con trai trở nên phổ biến. Điều này  kéo theo tỷ  lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3  tăng so với cùng kỳ là 6 trẻ”. Trong 6 tháng đầu năm 2011, có 6/17 xã không có người sinh con thứ 3 trở lên là: Tân Sơn, Lai Đồng, Kiệt Sơn, Đồng Sơn, Tam Thanh, Văn Luông. Trong đó xã Tân Sơn đã duy trì 11 năm không có người sinh con thứ ba. Trao đổi với chúng tôi, chị Hà Thị Hồi, cán bộ dân số xã Tân Sơn cho biết: “Có được kết quả đó là nhờ sự tuyên truyền quyết liệt đến từng hộ gia đình. Mặc dù trình độ dân trí chưa cao, nhưng qua việc triển khai các chiến dịch truyền thông, người dân   hiểu việc sinh ít con sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo và có điều kiện tham gia lao động sản xuất hơn. Chính vì thế nên trong nhiều năm xã đã duy trì không có người sinh con thứ ba”. Một khó khăn nữa đó là việc triển khai các biện pháp tránh thai hiện đại. Do địa bàn đông, người dân dù đã được tuyên truyền, hướng dẫn nhưng do tâm lý e ngại khiến cho việc áp dụng gặp nhiều trở ngại. Đây cũng là trăn trở của các cán bộ, CTV dân số trong nhiều năm trở lại đây khi thấy rõ thay đổi nhận thức phải đi liền với việc thay đổi trong hành động. 

Là huyện mới thành lập, hiện nay Trung tâm DS-KHHGĐ có 4 biên chế, 17 cán bộ DS-KHHGĐ cấp xã và 202 CTV. Địa bàn rộng, dân cư thưa, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế khiến cho mỗi cán bộ, CTV dân số càng phải cố gắng nhiều hơn, vì có làm tốt công tác dân số mới góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề môi trường, giáo dục. Với quyết tâm như vậy, nhân dịp kỷ niệm ngày dân số thế giới 11/7 năm nay, Trung tâm DS-KHHGĐ sẽ triển khai chương trình truyền thông gắn với các hoạt động mít tinh hưởng ứng, tư vấn hướng dẫn thực hiện các dịch vụ. Mục tiêu phấn đấu duy trì mức sinh thay thế, giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, góp phần cải thiện sức khỏe sinh sản và thực hiện được các nội dung trong chiến lược DS-KHHGĐ.  

Thu Hà

Về đầu trang


Cần những giải pháp đồng bộ Nâng cao chất lượng công tác dân số - KHHGĐ ở Nam Định

Những năm qua, công tác dân số - KHHGĐ tỉnh Nam Định được các cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo và đầu tư nguồn lực, triển khai các biện pháp thực hiện. Đến nay, tỉnh ta đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu về chiến lược dân số. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt gần 80%, tỷ suất sinh từ 18,6 phần nghìn năm 2000 giảm xuống còn 15,69 phần nghìn năm 2010, dân số tự nhiên tăng khoảng 1%, cặp vợ chồng sinh con thứ ba trở lên giảm từ 18,7% năm 2000 xuống còn 13,72% năm 2010. Tuy nhiên, công tác dân số - KHHGĐ vẫn còn nhiều bất cập. Kết quả giảm sinh chưa thực sự vững chắc, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên còn cao, tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh. Sáu tháng đầu năm 2011, số người sinh con thứ ba trở lên trong toàn tỉnh là 1.687 người, tỷ số giới tính khi sinh là 115 bé trai/100 bé gái. Riêng huyện Trực Ninh tỷ số giới tính khi sinh 134 bé trai/100 bé gái. Đây là thách thức không nhỏ đối với công tác dân số - KHHGĐ, làm biến đổi cơ cấu dân số, nảy sinh các vấn đề về an sinh xã hội, vấn đề về hôn nhân, làm mất cân bằng tâm, sinh lý giới tính và gia tăng nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em, tệ nạn mại dâm...

Để nâng cao chất lượng công tác dân số - KHHGĐ, thời gian qua, các hoạt động truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi, bình đẳng giới với nội dung, hình thức phong phú và chọn cách tiếp cận phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng được tăng cường. Hằng năm, nhân Ngày Dân số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12) các địa phương trong tỉnh đều tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan, nói chuyện chuyên đề, tư vấn trực tiếp cho các đối tượng về công tác dân số - KHHGĐ, lồng ghép với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ ở tất cả các xã, phường, thị trấn, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi người dân trong việc thực hiện KHHGĐ. Công tác dân số - KHHGĐ được các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội xác định là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi tập thể, đơn vị, cá nhân. Công tác dân số - KHHGĐ ở khu vực biên giới biển cũng được Bộ đội Biên phòng tỉnh tích cực tham gia tuyên truyền thông qua các đợt sinh hoạt của tổ tự quản an ninh đầm bãi, tổ tự quản trên biển và 18 CLB “Phụ nữ vì sự phát triển và bình yên tuyến biển” do các đồn Biên phòng và Hội Phụ nữ các xã, thị trấn ven biển thành lập. Hội Nông dân tỉnh thực hiện truyền thông lồng ghép dịch vụ KHHGĐ với chuyển giao tiến bộ KHKT, hỗ trợ vốn, giống, vật tư, kinh nghiệm làm ăn đến các hội viên. Hội LHPN tỉnh duy trì thường xuyên hoạt động của các CLB: Phụ nữ không sinh con thứ 3, gia đình hạnh phúc, bà mẹ có con tuổi vị thành niên, đối tượng tuổi vị thành niên. Tỉnh Đoàn thành lập đội kịch tuyên truyền các vấn đề về giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, biểu diễn hàng trăm buổi, kết hợp cấp phát tài liệu, sách báo về phòng chống HIV/AIDS, các tệ nạn xã hội tại 62 xã, thị trấn, thôn xóm, trường học ở 2 huyện Mỹ Lộc và Nam Trực.

Bên cạnh việc phát huy vai trò của các ban, ngành, đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện KHHGĐ, nhiều đề án, dự án nhằm từng bước cải thiện chất lượng dân số được tích cực triển khai như: “Truyền thông nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về quyền trẻ em”, “Kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân”, “Lồng ghép dân số với phát triển gia đình bền vững”, “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận động, phát hiện, can thiệp sớm tật, bệnh thai nhi, trẻ sơ sinh”… Đặc biệt, đề án “Kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020” đã và đang triển khai hiệu quả, góp phần tăng cường kiểm soát dân số, tập trung hỗ trợ các hoạt động nhằm nâng cao cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ của nhân dân các xã, thị trấn ven biển. Đề án “Can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh” năm 2010 được triển khai tại 5 huyện, thành phố, gồm: Nam Trực, Mỹ Lộc, Trực Ninh, Ý Yên và Thành phố Nam Định nhằm hạn chế tình trạng chênh lệch giới tính, phá vỡ sự phát triển bền vững của xã hội. Cùng với việc tiếp tục thực hiện và mở rộng triển khai các mô hình, đề án, công tác kiểm tra, thanh tra các cơ sở siêu âm, sử dụng kỹ thuật cao, hướng dẫn sinh con theo ý muốn, nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính thai nhi được tăng cường, góp phần khống chế sự chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh. 

Để nâng cao hiệu quả công tác dân số - KHHGĐ, Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh tiếp tục thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số để đưa thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ đến người dân. Ngoài ra, cùng với việc động viên, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, vận động và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ, các địa phương cần xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân, cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách dân số. Có như vậy, công tác dân số - KHHGĐ mới thực hiện tốt mục tiêu giảm sinh vững chắc, tiến tới ổn định quy mô dân số./. 

Lâm Hồng

Về đầu trang


Điện Biên nâng cao chất lượng dân số để phát triển bền vững

Thực hiện tốt công tác DS - KHHGĐ là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và xã hội. Những năm qua, UBND tỉnh Điện Biên luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống DS - KHHGĐ triển khai có hiệu quả các mục tiêu của chương trình. Trên cơ sở hướng dẫn của các bộ, ngành TW, UBND tỉnh đã chỉ đạo và ổn định tổ chức hệ thống DS - KHHGĐ thống nhất từ tỉnh đến cơ sở, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp, ngành; kiện toàn ban chỉ đạo về công tác dân số các cấp. Qua việc tổ chức triển khai, quán triệt chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác DS - KHHGĐ đã tạo được nhận thức đúng đắn về chính sách DS - KHHGĐ của cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ và các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Từ nhận thức này, quan niệm về hôn nhân và sinh đẻ của nhân dân đã có chuyển biến tích cực theo hướng ngày càng nhiều người kết hôn muộn, sinh thưa, sinh ít để nuôi con khỏe, dạy con ngoan, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội.

Từ sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành, đoàn thể, nỗ lực của đội ngũ cán bộ làm công tác DS - KHHGĐ, những năm qua, công tác DS - KHHGĐ đã đạt những kết quả quan trọng. Đặc biệt là trong giai đoạn 2005 - 2010. Cụ thể như: Tỷ lệ sinh giảm từ 25,9%o năm 2005 xuống 22,88%o năm 2010 (bình quân mỗi năm giảm 0,61%o); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm trung bình mỗi năm 0,64%; tổng tỷ suất sinh năm 2005 là 3,45 con/bà mẹ, đến năm 2010 giảm xuống còn 2,5 con/mẹ...

Tuy vậy, công tác DS - KHHGĐ vẫn còn những hạn chế. Hạn chế lớn nhất là chất lượng dân số trên địa bàn tỉnh thấp. Cụ thể là tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn còn cao. Đáng chú ý là tình hình lây nhiễm HIV/AIDS đang có chiều hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở lứa tuổi lao động chính là từ 20 - 39 - lứa tuổi có sức lao động và sáng tạo dồi dào nhất (chiếm 85,7% số người lây nhiễm HIV). Cơ cấu dân số cũng có biểu hiện mất cân đối: Tỷ lệ dân số trẻ tăng, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 tuổi cũng tăng nhanh, tiềm ẩn nguy cơ tăng tỷ lệ sinh. Đặc biệt, tỷ số giới tính khi sinh đang ở mức báo động. Thống kê của Chi cục DS - KHHGĐ, tỷ số giới tính khi sinh năm 2010 là 115 nam/100 nữ, quý I/2011 tăng lên 129 nam/100 nữ. Mới đây, UBND tỉnh và quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (Unicef) công bố báo cáo phân tích tình hình trẻ em Điện Biên đến năm 2010. Theo đó, Điện Biên là một trong những tỉnh có tỷ lệ trẻ sơ sinh và thấp còi cao nhất nước. Ước tính 1.000 trẻ sinh ra thì có 33 trẻ tử vong trong năm đầu tiên. Trong 100 trẻ, có 35 trẻ bị thấp còi. Điện Biên cũng là tỉnh có có tỷ lệ trẻ nhập học cấp trung học thấp nhất trong cả nước, với số học sinh theo học bậc trung học đạt 70 - 84%...

Chất lượng dân số thấp do nhiều nguyên nhân. Như đánh giá của Chi cục DS - KHHGĐ, do những năm qua, đặc biệt qua 10 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về DS - KHHGĐ, các cấp, ngành tập trung chủ yếu vào mục tiêu giảm sinh mà chưa đầu tư nhiều cho việc nâng cao chất lượng dân số. Về khách quan, do xuất phát điểm KT   XH của tỉnh thấp, trình độ dân trí hạn chế, thu nhập của người dân chưa cao, dịch vụ xã hội phát triển chậm, tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn cao cùng với tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi, trẻ suy dinh dưỡng cao nên người dân chưa có niềm tin để chấp nhận mô hình gia đình có từ 1 - 2 con. Cùng với đó, quan niệm muốn đông con và sinh con trai để nối dõi tông đường còn nặng nề. Cơ cấu dân số trẻ và số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ hàng năm lớn cũng là nguyên nhân phức tạp và lâu dài trong việc thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con, bảo đảm cân bằng giới tính và nâng cao chất lượng dân số. Về chủ quan, do đội ngũ cán bộ làm dịch vụ KHHGĐ ở tuyến cơ sở còn mỏng. Những năm qua, lực lượng này đã được bổ sung về số lượng song chất lượng còn hạn chế. Hiện nay, toàn tỉnh mới có 44/112 xã thực hiện được dịch vụ KHHGĐ thường xuyên. Thiếu bác sỹ sản khoa ở các huyện vùng sâu, vùng xa nên việc phẫu thuật triệt sản tại huyện và giải quyết các vấn đề cấp cứu sản khoa găp nhiều khó khăn. Trong việc xây dựng và thực hiện chính sách về DS - KHHGĐ, chưa hình thành được cái nhìn toàn diện về dân số và phát triển; trong quá trình triển khai thực hiện chính sách về DS - KHHGĐ, tỉnh chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp, nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động công tác DS - KHHGĐ hạn chế.

Để phát triển bền vững, nâng cao chất lượng dân số là đòi hỏi bức thiết. Giai đoạn từ nay đến 2015, tỉnh Điện Biên được hỗ trợ từ chương trình đề án Nâng cao chất lượng dân số giai đoạn 2007 - 2020. Các giải pháp nâng cao chất lượng dân số được UBND tỉnh xây dựng. Trong đó, nhóm giải pháp hoạt động truyền thông giáo dục, chuyển đổi hành vi để tạo sự cam kết ủng hộ của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội về chương trình nâng cao chất lượng dân số được đặc biệt quan tâm. Cùng với đó là tăng cường tuyên truyền tư vấn, hỗ trợ nâng cao sức khoẻ, thể chất, trí tuệ và tinh thần cho các nhóm đối tượng đặc biệt; triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ và vận động để tăng sự chấp nhận sàng lọc sơ sinh tại cộng đồng... Việc xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần, tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng dân số cũng là các giải pháp được quan tâm. Mục tiêu là vậy song nguồn lực thực hiện trong điều kiện của tỉnh còn hạn chế. Do vậy, rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đồng lòng nâng cao chất lượng dân số để phát triển bền vững.

Đạt Thương

Về đầu trang


Đắk Nông đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ: Mặt trận và các thành viên cùng vào cuộc

Ổn định quy mô dân số, thực hiện kế hoạch hóa gia đình để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương phát triển. Vì vậy, thời gian qua, Mặt trận và các tổ chức thành viên trong tỉnh cũng đã tích cực đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân về dân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) với những việc làm thiết thực và hiệu quả.

Theo ông Nông Văn Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Đắc Nông thì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn hóa ở khu dân cư” với một số tiêu chí thi đua cụ thể liên quan đến DS-KHHGĐ đã đòi hỏi các gia đình, khu dân cư phải chú trọng vào vấn đề này. Mỗi gia đình, mỗi khu dân cư để được công nhận văn hóa thì trước hết cần phải đảm bảo được hai yếu tố là xóa đói giảm nghèo và thực hiện KHHGĐ.

Trong số các tổ chức thành viên của Mặt trận thì Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên hiện là lực lượng chủ công trong công tác này. Với Hội Phụ nữ, hàng năm, các cấp Hội phụ nữ đều phối hợp với các trung tâm, trạm y tế phổ biến các kiến thức cần thiết về chăm sóc sức khỏe sinh sản, DS-KHHGĐ, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em và thực hành dinh dưỡng cho đông đảo hội viên. Nhân kỷ niệm Ngày Dân số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12), Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh cũng chỉ đạo các cơ sở Hội tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức về chuẩn mực người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, kiến thức về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi con theo khoa học... Việc vận động chị em khám và điều trị bệnh, nhất là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, KHHGĐ, đưa trẻ đi tiêm phòng… nhằm thực hiện quy mô gia đình ít con, khỏe mạnh, hạnh phúc cũng được quan tâm hàng đầu. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, các cấp Hội đã vận động được 20.076 chị tham gia khám phụ khoa phòng tránh các bệnh lây nhiễm, khám thai theo định kỳ và đưa con đi tiêm phòng đầy đủ. Thông qua công tác truyền thông, giáo dục nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã giúp cho hội viên, phụ nữ thay đổi nhận thức, hành vi trong chăm bản thân, chủ động hơn trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai, KHHGĐ. Tương tự, thời gian qua, các cấp Đoàn trong tỉnh cũng đã tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh niên về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Cùng với việc truyền thông qua các buổi sinh hoạt định kỳ, lồng ghép trong những đợt về nguồn làm công tác xã hội, các cấp Đoàn đã tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của giới trẻ về DS-KHHGĐ. Đặc biệt, hiện nay, tình trạng nạo phá thai trong giới trẻ ngày càng nhiều, thì việc phát huy vai trò của Đoàn trong truyền thông, nâng cao nhận thức cho giới trẻ về tác hại, cách phòng tránh những hậu quả đáng tiếc càng quan trọng. Bên cạnh đó, các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tìm hiểu về giới, kiến thức sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới… luôn thu hút được nhiều bạn trẻ tham gia. Cùng với việc duy trì hoạt động hiệu quả hơn 300 câu lạc bộ “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” với 12.386 thành viên ở 20 xã, phường trọng điểm thì các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và đạo đức lối sống, nhằm xây dựng người thanh niên có bản lĩnh, lý tưởng, sống an toàn, lành mạnh.

Hoàng Bảo 

Về đầu trang


Xã Tát Ngà tăng cường công tác DS-KHHGĐ   

Xã Tát Ngà, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang nằm cách trung tâm huyện lỵ Mèo Vạc 20km với 3.231 nhân khẩu, 90% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở 13 thôn bản. Với đặc thù là xã miền núi cao, dân cư phân bố không đồng đều, nhiều thôn, bản còn nằm cách xa trung tâm xã, đường sá đi lại khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều nên việc tiếp cận các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những trở ngại lớn trong công tác dân số KHHGĐ. 

Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ sở, sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Dân số gia đình huyện cùng với sự nhiệt tình của các cộng tác viên và sự phối hợp chặt chẽ của Trạm y tế, xã đã tập trung vào việc tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ đến vùng đông dân, vùng có mức sinh cao và vùng sâu, vùng xa. Ngay từ đầu năm, Ban dân số xã đã phối hợp với các ban ngành thường xuyên tổ chức công tác giáo dục, tuyên truyền Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, chương trình hành động vì trẻ em chiến lược quốc gia về dân số, chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS. Bên cạnh đó, Ban dân số xã còn duy trì và kiện toàn đội ngũ công tác viên thôn bản để nắm bắt kịp thời những diễn biến về công tác dân số, cung cấp biểu mẫu báo cáo, thống kê cho 100% cộng tác viên dân số. Cộng tác viên dân số phối hợp với Trưởng thôn xuống các thôn bản xa trung tâm giúp đồng bào nâng cao nhận thức về KHHGĐ và các phương pháp phòng, chống các căn bệnh xã hội, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về các biện pháp tránh thai hiện đại, phụ nữ từ 15-49 tuổi khám phụ khoa và phụ nữ mang thai đi khám thai định kỳ. Nhờ vào ý thức của người dân, sự nỗ lực của cấp uy, chính quyền, nhân dân trong xã, trong 6 tháng đầu năm 2011 đã vận động được 441 cặp vợ chồng tham gia khám và áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, trong đó: đặt thuốc tử cung là 63 người, uống thuốc tránh thai 21 người, sử dụng bao cao su 6 người, tỷ lệ phụ nữ từ 15-49 tuổi khám phụ khoa cao hơn so với năm trước. Bên cạnh đó, xã còn tích cực giám sát, chỉ đạo đội ngũ công tác viên dân số ở các thôn, bản thường xuyên đi xuống hộ dân nắm bắt tình hình gia tăng dân số, có báo cáo tình hình cụ thểđể có biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ gia tăng dân số.  

Để đạt được các mục tiêu năm 2011, trong đó giảm tỷ lệ sinh con thứ 3, tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, Tát Ngà đã, đang tập trung thực hiện các nhóm giải pháp về công tác tổ chức tuyên truyền để làm thay đổi hành vi; công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản KHHGĐ; để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và chiến lược giảm sinh trên địa bàn toàn tỉnh. 

TRẦN THỊ HIỀN

Về đầu trang


Công tác truyền thông dân số TP.Tam Kỳ - Quảng Nam: Cần sự chia sẻ từ nam giới  

Trong tổng số 210 cộng tác viên dân số ở TP.Tam Kỳ hiện nay chỉ có 20 nam giới là trưởng thôn khối phố kiêm nhiệm. Điều này phần nào cho thấy nam giới vẫn chưa vào cuộc cũng như chưa chia sẻ với phụ nữ trong các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình (SKSS-KHHGĐ). Thực tế này còn thể hiện ở kết quả đối tượng tham gia các chiến dịch truyền thông chăm sóc SKSS và thực hiện các biện pháp KHHGĐ 100% là nữ. 

Chị Phan Thị Nguyệt Nga - chuyên trách dân số xã Tam Thanh cho biết: “Cả xã chỉ có một cộng tác viên dân số là nam giới, ở đây mọi người đều nghĩ công việc này là của phụ nữ nên đàn ông không tham gia”. Cũng theo chị Nga, nam giới né tránh làm cộng tác viên dân số vì họ cho rằng đó là việc phụ nữ tự nói với nhau, phần khác là do mức phụ cấp quá thấp (50 nghìn đồng/tháng - NV).  

Thiếu nam giới làm cộng tác viên dân số đồng nghĩa với việc thiếu người tuyên truyền tác động đến nhận thức của nam giới về vấn đề dân số. Thế là bao năm qua chỉ có những phụ nữ vẫn âm thầm tự nói cho nhau nghe về SKSS-KHHGĐ. Chị Nguyễn Thị Hưởng - cộng tác viên dân số lâu năm ở xã Tam Thanh chia sẻ: “Đàn ông ở đây đi biển cả ngày nên không tuyên truyền gì được, mỗi lần có chiến dịch truyền thông thì chỉ có chị em phụ nữ quan tâm”. Không chỉ vùng nông thôn, ngay cả ở những phường nội thị vấn đề dân số - KHHGĐ cũng gần như khoán trắng cho phụ nữ. Những gia đình lao động nghèo, thu nhập bấp bênh, người chồng lo bươn chải kiếm sống còn vợ phải lo việc nội trợ, con cái nên không có người đàn ông nào quan tâm đến việc chăm sóc SKSS cho vợ hay thực hiện KHHGĐ. Ngay cả gia đình công chức cũng có quan niệm lệch lạc như thế. Chị Nguyễn Thị Lài - cán bộ chuyên trách dân số phường An Mỹ kể: “Nhiều khi đi xuống từng gia đình để tuyên truyền gặp lúc không có người vợ ở nhà thì các ông chồng cũng từ chối không trò chuyện. Họ nói đó là việc của vợ”. 

Một khi tình trạng bất bình đẳng vẫn còn tồn tại thì chất lượng dân số vẫn chưa thể đảm bảo, hạnh phúc gia đình vẫn mong manh. Đã có nhiều chị em chia sẻ rằng do không muốn sinh nhiều con nên họ phải tự thực hiện các biện pháp tránh thai. Vừa phải lao động kiếm sống vừa phải chăm sóc các con và tự lo kế hoạch hóa gia đình đã trở thành gánh nặng quá lớn cho những người vợ. Chị Bùi Thị Lệ Thủy - Phó Giám đốc Trung tâm Dân số-KHHGĐ TP.Tam Kỳ cho biết: “Vận động nam giới thực hiện kế hoạch hóa gia đình rất khó, suốt 10 năm nay Tam Kỳ không có ca đình sản nam giới nào; 100% đối tượng được tư vấn chăm sóc SKSS-KHHGĐ là phụ nữ”. 

“Một mái ấm hạnh phúc cần có sự bình đẳng chia sẻ giữa các thành viên trong gia đình. Một điều tưởng chừng rất đơn giản trong cuộc sống hiện đại nhưng chúng ta vẫn chưa đạt được bởi nhận thức còn lệch lạc của nam giới” - các chị cộng tác viên dân số nói. 

THANH XUÂN

Về đầu trang


Đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ: Mặt trận và các thành viên cùng vào cuộc

Ổn định quy mô dân số, thực hiện kế hoạch hóa gia đình để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương phát triển. Vì vậy, thời gian qua, Mặt trận và các tổ chức thành viên trong tỉnh cũng đã tích cực đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân về dân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) với những việc làm thiết thực và hiệu quả.

Theo ông Nông Văn Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Đắk Nông thì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn hóa ở khu dân cư” với một số tiêu chí thi đua cụ thể liên quan đến DS-KHHGĐ đã đòi hỏi các gia đình, khu dân cư phải chú trọng vào vấn đề này. Mỗi gia đình, mỗi khu dân cư để được công nhận văn hóa thì trước hết cần phải đảm bảo được hai yếu tố là xóa đói giảm nghèo và thực hiện KHHGĐ.

Trong số các tổ chức thành viên của Mặt trận thì Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên hiện là lực lượng chủ công trong công tác này. Với Hội Phụ nữ, hàng năm, các cấp Hội phụ nữ đều phối hợp với các trung tâm, trạm y tế phổ biến các kiến thức cần thiết về chăm sóc sức khỏe sinh sản, DS-KHHGĐ, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em và thực hành dinh dưỡng cho đông đảo hội viên. Nhân kỷ niệm Ngày Dân số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12), Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh cũng chỉ đạo các cơ sở Hội tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức về chuẩn mực người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, kiến thức về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi con theo khoa học... Việc vận động chị em khám và điều trị bệnh, nhất là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, KHHGĐ, đưa trẻ đi tiêm phòng… nhằm thực hiện quy mô gia đình ít con, khỏe mạnh, hạnh phúc cũng được quan tâm hàng đầu. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, các cấp Hội đã vận động được 20.076 chị tham gia khám phụ khoa phòng tránh các bệnh lây nhiễm, khám thai theo định kỳ và đưa con đi tiêm phòng đầy đủ. Thông qua công tác truyền thông, giáo dục nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã giúp cho hội viên, phụ nữ thay đổi nhận thức, hành vi trong chăm

bản thân, chủ động hơn trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai, KHHGĐ. Tương tự, thời gian qua, các cấp Đoàn trong tỉnh cũng đã tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh niên về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Cùng với việc truyền thông qua các buổi sinh hoạt định kỳ, lồng ghép trong những đợt về nguồn làm công tác xã hội, các cấp Đoàn đã tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của giới trẻ về DS-KHHGĐ. Đặc biệt, hiện nay, tình trạng nạo phá thai trong giới trẻ ngày càng nhiều, thì việc phát huy vai trò của Đoàn trong truyền thông, nâng cao nhận thức cho giới trẻ về tác hại, cách phòng tránh những hậu quả đáng tiếc càng quan trọng. Bên cạnh đó, các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tìm hiểu về giới, kiến thức sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới… luôn thu hút được nhiều bạn trẻ tham gia. Cùng với việc duy trì hoạt động hiệu quả hơn 300 câu lạc bộ “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” với 12.386 thành viên ở 20 xã, phường trọng điểm thì các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và đạo đức lối sống, nhằm xây dựng người thanh niên có bản lĩnh, lý tưởng, sống an toàn, lành mạnh.

Hoàng Bảo

Về đầu trang


“Điểm sáng” về dân số ở bon Sê Rê A, xã Đắk Som,  huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông  

Bằng những cách làm hay, phù hợp với điều kiện thực tế, trên địa bàn tỉnh hiện nay, không chỉ có các thôn người Kinh mà đã có nhiều buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số trở thành những “điểm sáng” trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ). 

Tuyên truyền gắn với hướng dẫn làm kinh tế 

Là một bon nằm ở vùng sâu, vùng xa, với 100% là đồng bào dân tộc thiểu số, những năm gần đây, bon Sê Rê A, xã Đắk Som (Đắk Glong) luôn đạt và vượt mức các chỉ tiêu đề ra và được công nhận 3 năm liền không có trường hợp sinh con thứ 3. Anh K’Loan, chuyên trách công tác dân số của xã cho biết: “Để đạt được những kết quả như ngày hôm nay là nhờ sự quan tâm sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền. Việc tuyên truyền, vận động thực hiện KHHGĐ luôn được tiến hành cùng với việc hướng dẫn những cách thức làm kinh tế như chọn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để dần cải thiện đời sống cho bà con. Chất lượng đời sống được nâng cao đã làm thay đổi nhận thức của bà con trong việc thực hiện KHHGĐ cũng như duy trì bền vững những kết quả đạt được trong công tác dân số”. Anh K’Sạt, người dân trong bon tâm sự: “Nghe theo cán bộ, vợ chồng mình cũng học cách chọn các giống cây trồng cho năng suất cao để đưa vào sản xuất nên thu nhập của gia đình ngày càng tăng, không còn phải lo thiếu ăn, thiếu mặc như trước nữa. Vợ chồng mình lại có thêm điều kiện chăm lo cho con cái được học hành đầy đủ”. Tương tự, nhiều gia đình khác như K’Tem, K’Danh, K’Ba… cũng nhờ sinh ít con nên có điều kiện làm kinh tế, thoát khỏi cảnh nghèo đói. 

“Đi từng ngõ, gõ từng nhà” 

Bon Bu Sốp ở xã Đắk Nia (Gia Nghĩa) hôm nay đã thay đổi trong mọi lĩnh vực đời sống. Điều dễ nhận thấy nhất là các cặp vợ chồng trẻ đều sinh ít con, không còn cảnh gia đình nào cũng “con đàn, cháu đống” như trước đây nữa. Nhiều nhà cũng nhờ đó có điều kiện làm kinh tế nên có của ăn của để, con cái được học hành đến nơi, đến chốn. Người phụ nữ có điều kiện để chăm sóc bản thân và tham gia các hoạt động xã hội ngày càng nhiều. Theo chị H’Sen, cộng tác viên dân số của bon thì chỉ cách đây ít năm, việc sinh nhiều con trong bon còn là chuyện bình thường. Nhà đông thì có từ 5 đến 9 con, nhà nào ít nhất thì cũng phải 4 con. Vì đông con nên nhiều gia đình không lo nổi cho con đi học, làm cho tình trạng kết hôn sớm càng phổ biến hơn. Để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó, địa phương đã đề ra phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” để tuyên truyền, làm cho bà con hiểu rõ ý nghĩa của việc thực hiện KHHGĐ và những lợi ích khi sinh ít con. Bên cạnh đó, địa phương còn chú trọng đưa các dịch vụ KHHGĐ đến tận nơi để tất cả các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận. Chính vì vậy, số lượng người dân thực hiện các biện pháp tránh thai ngày càng tăng. Đặc biệt, hàng năm đều có từ 3 đến 4 trường hợp tự nguyện đi đình sản; 100% phụ nữ mang thai được quản lý tại trạm và các cơ sở y tế khác. Tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh hầu như không còn. Chị H Ngen, một người dân trong bon tâm sự: “Sau khi sinh đứa con thứ hai thì cán bộ dân số đến vận động nên vợ chồng mình đã quyết định không sinh thêm nữa. Cũng nhờ nghe theo cán bộ dân số nên vợ chồng mình có thêm điều kiện về thời gian cũng như sức khỏe để mở rộng việc làm ăn, buôn bán”. 

Huy động cả cộng đồng vào cuộc 

Bon Đắk Blao, thị trấn Kiến Đức (Đắk R’lấp) hiện có trên 70% là đồng bào dân tộc tại chỗ. Trước đây, việc sinh đẻ được bà con xem là tạo hóa ban cho nên tỷ lệ dân số của bon cũng theo đó ngày càng tăng nhanh. Vì vậy, chính quyền địa phương đã đặt ra mục tiêu phải giảm tỷ lệ sinh để góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Để làm được điều đó, địa phương đã xác định, công tác DS-KHHGĐ không chỉ là việc của riêng cán bộ dân số mà là trách nhiệm của tất cả mọi người. Ban dân số xã đã huy động những người có uy tín, nhất là già làng và những người cao tuổi trong bon cùng “làm dân số”, đồng thời thu hút thành viên của các đoàn thể trở thành những cộng tác viên dân số thường xuyên. Nhờ đó, thông qua bất kỳ cuộc họp bon hay sinh hoạt văn hóa nào cũng có thể lồng ghép để tuyên truyền các chính sách về DS-KHHGĐ cho bà con. Đối với lứa tuổi thanh, thiếu niên, cán bộ dân số chú trọng vận động tham gia vào các câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên do thị trấn thành lập. Việc tham gia vào các câu lạc bộ này không chỉ cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản để có thể tự chăm sóc mình mà còn truyền đạt lại những kiến thức đó cho các thành viên khác trong gia đình. Đặc biệt, những cặp vợ chồng sinh từ 1 đến 2 con luôn được nêu gương điển hình trong các cuộc họp bon, bình xét gia đình văn hóa… Đồng thời, cán bộ dân số cũng thu hút các cặp vợ chồng này trở thành những “cộng tác viên” dân số nhiệt tình của bon để thuyết phục những cặp vợ chồng khác thực hiện KHHGĐ.  

Có thể nói, với những nỗ lực của ngành Y tế trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền nên nhận thức của xã hội, cộng đồng về công tác DS-KHHGĐ ngày càng được nâng cao. Nhờ đó, mức giảm sinh trên địa bàn tỉnh cũng đã giảm đáng kể từ 28,1%o năm 2004 xuống chỉ còn 22,9%o. Đặc biệt, nhận thức của bà con đồng bào dân tộc thiểu số về chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng như thực hiện KHHGĐ đã có những bước chuyển biến tích cực. Chỉ cách đây vài năm, hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số không mấy quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ, nhưng đến nay đã có trên 58% cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai; trên 60% phụ nữ đến các cơ sở y tế để sinh đẻ, khám và điều trị phụ khoa. Nam giới tham gia thực hiện KHHGĐ ngày càng tăng, thể hiện qua số lượng các ca đình sản nam và tỷ lệ sử dụng bao cao su hàng năm… Những kết quả trên là tín hiệu vui để ngành Y tế dần thực hiện thành công mục tiêu nâng cao chất lượng dân số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.    

Bài, ảnh: Nguyễn Hiền 

Về đầu trang


Đắk Lắk phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới

Hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động; Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Đắk Lắk là nhằm thúc đẩy mạnh, nhanh và bền vững cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phấn đấu đến tháng 6 năm 2012, hoàn thành cơ bản công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã và đề án nông thôn mới các cấp: Xã, huyện, tỉnh.

Phấn đấu đến năm 2015, toàn tỉnh có 20% số xã cơ bản đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; 100% xã có đường nhựa đến trung tâm, 50% đường cấp xã và liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá; trên 75% diện tích cây trồng có nhu cầu nước tưới, trên 40% hệ thống kênh mương được kiên cố hoá; 100% thôn, buôn có điện, 99% số hộ được dùng điện; 100% thôn, buôn có điểm trường hoặc lớp mẫu giáo, 75% số phòng học được kiên cố hoá; tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia lần lượt là 25% trường mầm non, 55% trường tiểu học, 25% trường trung học cơ sở; 100% thôn, buôn được quy hoạch đất để xây dựng điểm văn hoá thể thao; 100% số xã có hệ thống thông tin, trong đó có 50% số thôn, buôn có dịch vụ internet; không có nhà tạm dột nát, 50% hộ có nhà đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng.Đối với chỉ tiêu phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất, phấn đấu đưa thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng 1,5 lần so với mức thu nhập bình quân/người (ở nông thôn) năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo giảm theo chuẩn mới bình quân 3%/năm; giảm tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn xuống 5%; giảm tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn 62%.

Về chỉ tiêu văn hoá – xã hội và bảo vệ môi trường, phấn đấu có 80% học sinh học xong trung học cơ sở được tiếp tục học trung học phổ thông; nâng tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo lên 70%, học sinh tiểu học đi học đúng độ tuổi trên 90%; lao động trong độ tuổi ở nông thôn qua đào tạo đạt 42%; 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 65% thôn, buôn đạt tiêu chuẩn làng văn hoá; 85% dân cư nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia.

Về hệ thống chính trị và an ninh, trật tự xã hội, phấn đấu 100% xã có đầy đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, 70% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh, 80% số xã và đoàn thể chính trị cơ sở đạt vững mạnh toàn diện. An ninh trật tự xã hội luôn được giữ vững.

Việc tỉnh Đắk Lắk phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới sẽ góp phần cùng với cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn./.

Tấn Vinh

Về đầu trang


Ghi nhận công tác dân số KHHGĐ ở Hồng Sơn

Ngay từ đầu năm 2011, xã Hồng Sơn, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận đã chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền DS – KHHGĐ mạnh mẽ bằng nhiều hình thức nhằm tác động sâu sắc trong nhân dân. Công tác truyền thanh được thực hiện thường xuyên trên 9 cụm loa FM trong các bản tin thường ngày, nhất là tuyên truyền lưu động, băng rôn, khẩu hiệu trong các đợt chiến dịch được thực hiện trên địa bàn xã. Chi, tổ hội ở các khu dân cư tổ chức sinh hoạt lồng ghép trong các buổi sinh hoạt nhóm, tổ phụ nữ, đồng thời tổ chức tư vấn chị em trong độ tuổi sinh đẻ tại nhà về các kiến thức DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Nhờ đó người dân hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa tích cực của mô hình gia đình ít con, có ý thức tốt hơn trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, có điều kiện chăm lo phát triển kinh tế gia đình.

Ngoài đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ngay từ đầu năm xã tiến hành củng cố kiện toàn đội ngũ CTV dân số ở các thôn. Qua vận động tìm hiểu, thuyết phục, đến nay đã củng cố được 21 CTV, đảm bảo hoạt động ở các địa bàn 5 thôn trên toàn xã. Cán bộ chuyên trách xã và các CTV hầu hết làm việc rất nhiệt tình, trách nhiệm vì cộng đồng nên công tác này được duy trì tương đối đều và thường xuyên. Các đơn vị liên quan như trạm y tế, mặt trận và các đoàn thể, Ban điều hành thôn luôn tạo mọi điều kiện và có sự phối hợp tích cực trong công tác DS- KHHGĐ. Nhất là trong 2 đợt chiến dịch tổ chức tại xã đã phối hợp vận động đạt và vượt chỉ tiêu, được huyện đánh giá là xã có kết quả chiến dịch khá nhất trong toàn huyện. Các chế độ thù lao cho CTV, bồi dưỡng cho đối tượng thực hiện đình sản, đặt vòng đều được chi trả kịp thời. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng UBND xã quan tâm bồi dưỡng thêm 150.000 đồng cho mỗi ca đình sản, góp phần động viên khuyến khích đối tượng tham gia thực hiện.

Nhờ đó từ đầu năm đến nay, toàn xã vận động được 152/190 ca đặt vòng, đạt 80% kế hoạch, đình sản 5/8 ca đạt 63% kế hoạch. Tỷ lệ giảm sinh hiện nay đạt 0,1% đảm bảo đạt chỉ tiêu đề ra.

Kết quả trên thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của các ngành, các cấp trong việc lãnh, chỉ đạo, vận động đối tượng và nhân dân thực hiện. Theo kế hoạch huyện giao từ nay đến cuối năm, Hồng Sơn phải tiếp tục vận động 38 ca đặt vòng và 3 ca đình sản. Đây là chỉ tiêu phấn đấu không phải khó nếu so với những năm trước đây, nhưng trong tình hình hiện nay chỉ tiêu này là không dễ. Chị Phạm Thị Kiệm - cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ xã cho biết, hiện nay phần lớn chị em trong độ tuổi sinh đẻ đều nhận thức đúng đắn lợi ích của việc KHHGĐ nên cũng chỉ muốn sinh từ 1 đến 2 con để lo làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Thế nhưng khi lựa chọn biện pháp tránh thai, hầu hết đều sử dụng thuốc viên, tiêm cấy dưới da hoặc sử dụng bao cao su là chính. Những đối tượng này rất ngại thực hiện đặt vòng và đình sản nên việc vận động thực hiện biện pháp này là rất khó khăn. Thực tế từ đầu năm đến nay toàn xã đã có 227/210 đối tượng sử dụng thuốc tránh thai đạt 108%, 85/85 đối tượng sử dụng thuốc tiêm đạt 100%.

Nhật Hiền

Về đầu trang


Cánh chim đầu đàn trong công tác DS - KHHGĐ

Với những thành tích và sự nỗ lực của cán bộ làm công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ), nhiều năm qua Trung tâm DS – KHHGĐ huyện Than Uyên , Lao Cai được Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh đánh giá là cánh chim đầu đàn trong công tác DS - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh.

Những năm trở lại đây quy mô dân số trên địa bàn huyện Than Uyên tương đối ổn định, tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên hàng năm giảm từ 1,5 - 2%, số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) hàng năm tăng 2 - 3%.

Hiện nay, huyện Than Uyên có 12 trạm y tế xã, thị trấn. Trong đó có 7 trạm đạt chuẩn quốc gia về y tế, 12 cán bộ dân số, kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) chuyên trách và 175/162 cộng tác viên DS-KHHGĐ ở 100% thôn, bản. Mặc dù tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên địa bàn giảm song vẫn còn cao, ở một số xã vẫn còn tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống...

Để thực hiện tốt kế hoạch đề ra, Trung tâm DS-KHHGĐ huyện chủ động phối hợp với các ban, ngành, địa phương đa dạng hóa công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: lưu động, trên hệ thống loa truyền thanh, cấp phát tờ rơi, truyền thông lồng ghép trong các kỳ sinh hoạt Đoàn, Đội, trong các buổi họp ở các khu dân cư, các ban, ngành, đoàn thể. Đặc biệt trung tâm đã tham mưu đưa tiêu chí thực hiện công tác DS - KHHGĐ vào quy ước, bình xét tiêu chuẩn khu phố, thôn bản văn hóa, chi bộ trong sạch vững mạnh, khen thưởng hàng năm; xử lý, kỷ luật cán bộ, đơn vị vi phạm chính sách DS - KHHGĐ...

Mặt khác, tăng cường tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng truyền thông cho đội ngũ cộng tác viên DS-KHHGĐ ở cơ sở nhằm giúp họ có khả năng tuyên truyền tốt nhất.

Với phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, trong đó chú trọng đến các cặp vợ chồng sinh con một bề, đội ngũ cộng tác viên luôn bám sát các khu dân cư, nắm bắt nguyện vọng, tìm hiểu thực tế, đến từng gia đình trong độ tuổi sinh đẻ, từ đó tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về chính sách DS-KHHGĐ với việc phát triển kinh tế gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản theo phương châm “DS-KHHGĐ vì sức khỏe, hạnh phúc của mỗi gia đình và sự phát triển bền vững của đất nước”. Tăng cường phối hợp với Đội sức khỏe sinh sản, các trạm y tế kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ dân số ở cơ sở, cập nhật thông tin, thống kê báo cáo, theo dõi biến động dân cư...

Cùng với thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện thường xuyên phối hợp với trung tâm y tế, trạm y tế các xã, thị trấn tổ chức tốt các đợt chiến dịch đưa dịch vụ KHHGĐ đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và tổ chức giám sát chiến dịch có hiệu quả.

Trao đổi với chúng tôi, bà Trần Thị Oanh - Quyền Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Than Uyên cho biết: "Để thực hiện được mục tiêu giảm sinh và nâng cao chất lượng dân số trong thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục xây dựng kế hoạch, tham mưu cho lãnh đạo huyện đề ra những biện pháp, chế tài xử phạt mạnh hơn nữa nhằm  hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 để bình ổn quy mô dân số, từ đó dần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân".

Với những kết quả và sự nỗ lực của cán bộ làm công tác DS - KHHGĐ, nhiều năm qua Trung tâm được UBND tỉnh, Sở Y tế tặng Bằng khen, Giấy khen…

Nguyễn Thúy

Về đầu trang


Thôn 22 năm không có người sinh con thứ 3

Xác định công tác dân số/kế hoạch hóa gia đình là một nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền thôn Bảo Thịnh, xã Minh Bảo, TP Yên Bái đã tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ.

Để công tác DS-KHHGĐ đạt kết quả cao, lãnh đạo thôn đã cùng với ban công tác Mặt trận và cán bộ y tế thôn, cộng tác viên dân số thường xuyên đến vận động các hộ gia đình, đặc biệt là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện mô hình gia đình ít con. Tập trung  tuyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn, họp đoàn thể. Hàng tháng, cán bộ dân số phối hợp cùng Hội Phụ nữ, Trạm Y tế xã tổ chức sinh hoạt, hướng dẫn chị em áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại để bảo vệ sức khỏe, giữ gìn hạnh phúc gia đình.

Cùng với đó, để giúp người dân hiểu hơn về lợi ích thiết thực của việc thực hiện KHHGĐ, cán bộ y tế, dân số của thôn căn cứ vào các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) từ thành phố triển khai đến xã đều vận động các chị em trong độ tuổi sinh đẻ đi khám, tư vấn, chữa trị các bệnh phụ khoa, hướng dẫn chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai và ý nghĩa của việc xây dựng mô hình gia đình ít con. Vì vậy, hàng năm gần 100% các chị em trong độ tuổi sinh đẻ ở thôn đều tham gia các chiến dịch CSSKSS, 100% các cháu trong độ tuổi đều được tiêm phòng đầy đủ các loại vac xin phòng bệnh. Năm 2010, cả thôn có 2 cháu bị suy dinh dưỡng thì đến năm 2011 không còn trường hợp  nào bị suy dinh dưỡng.

Chị Lương Thị Hương, thôn Bảo Thịnh tâm sự: “Mình sinh 2 con đều là con gái,hiện cháu lớn đã học xong lớp 12, cháu  thứ 2 đang học lớp 7. Được cán bộ dân số và Hội Phụ nữ thôn thường xuyên tuyên truyền về công tác CSSKSS, các chính sách dân số, đã giúp mình nâng cao nhận thức về chính sách dân số, không muốn sinh thêm con để tập trung phát triển kinh tế và chăm sóc con cái học hành tiến bộ. Để công tác DS-KHHGĐ đạt kết quả cao, chi bộ thôn Bảo Thịnh đã chú trọng xây dựng những nghị quyết chuyên đề, định hướng cho các đoàn thể và cộng tác viên dân số, y tế thôn, bản thực hiện. Đồng thời lấy đó làm tiêu chí đánh giá phân xếp loại đảng viên.

Nhờ thực hiện tốt khâu tuyên truyền, vận động, đến nay thôn có trên 90% hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa, thôn nhiều năm liên tục đạt danh hiệu thôn văn hóa, chi bộ, các ban, ngành, đoàn thể thôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hiện thôn có trên 60% người dân có mức sống khá và giàu, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7%.

Đường làng ngõ xóm khang trang sạch đẹp, nhân dân đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển kinh tế. Với những kết quả đạt được, thôn Bảo Thịnh đã và đang trở thành thôn có những đóng góp tích cực vào công tác DS-KHHGĐ  của xã Minh Bảo và xứng đáng là mô hình hay cần được nhân rộng.  

   Lê Hương

Về đầu trang


Các gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Ðể chung tay với ngành dân số giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh nan, từ năm 2009, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Ủy ban MTTQVN tỉnh Thái Bình đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải) và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau 3 năm triển khai, mô hình đã góp phần làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói riêng và cả tỉnh nói chung.

Thái Bình vốn là tỉnh đất chật, người đông, ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, toàn tỉnh đã đẩy mạnh quyết tâm hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số, do đó công tác dân số của tỉnh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh lại có chiều hướng gia tăng. Ðể chung tay với ngành dân số giải quyết bài toán nan giải này, từ năm 2009, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Ủy ban MTTQVN tỉnh đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải) và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau 3 năm triển khai, mô hình đã góp phần làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói riêng và cả tỉnh nói chung.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh là do tư tưởng trọng nam, khinh nữ đã ăn sâu, bám rễ trong suy nghĩ, hành động của nhiều người, để thay đổi không phải một sớm, một chiều là có thể làm được. Sự can thiệp của y học hiện đại ngày nay trong việc xác định giới tính thai nhi vô tình lại càng khiến cho tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trở nên đáng lo ngại hơn…

Khó khăn thì vô vàn, nhưng nhờ có sự chỉ đạo thường xuyên của Ủy ban Trung ương MTTQVN, hỗ trợ kinh phí của Quỹ dân số Liên hiệp quốc (Văn phòng UNFA); MTTQ các cấp có ít nhiều kinh nghiệm trong việc lồng gắn chương trình dân số vào nội dung hoạt động; cán bộ mặt trận vốn gần gũi, thân thiết với các vị chức sắc, chức việc, quan trọng hơn cả là nội dung, ý nghĩa của mô hình phù hợp với giáo lý, giáo luật tôn giáo, thiết thực phục vụ xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo" của gia đình giáo dân nên việc tuyên truyền, vận động diễn ra tương đối thuận lợi, nhanh chóng tạo được sự đồng thuận. Ðảng ủy 2 xã làm điểm đã đưa việc tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh vào nội dung Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ xã, kêu gọi cán bộ, đảng viên, các vị chức sắc, gia đình tín hữu công giáo, lương giáo tích cực hưởng ứng.

Ngay sau khi 2 xã điểm thành lập ban điều hành, 4 nhóm sinh hoạt (mỗi xã 2 nhóm, mỗi nhóm 100 thành viên là người công giáo tuổi từ 18 đến 60) cũng được ra mắt. Ðể tranh thủ tiếng nói của các vị linh mục, trùm trưởng xứ họ đạo, chủ nhiệm các nhóm ít nhất phải có một vị chức sắc tôn giáo tham gia. Theo yêu cầu của cơ sở, mỗi xã tiến hành thành lập thêm 4 nhóm, thành phần là người lương giáo, trước là để thu hút nhiều người tham gia, sau là tránh sự phân biệt giữa các tổ chức giáo hội. Tiếp theo đó, tiến hành tổ chức cho các thành viên ký cam kết thực hiện mô hình và tham gia sinh hoạt định kỳ. MTTQ tỉnh thường xuyên hỗ trợ 2 xã tổ chức sinh hoạt nhóm, cử người xuống đôn đốc, kiểm tra, trực tiếp đứng lên mời các vị linh mục, báo cáo viên cấp tỉnh về truyền giảng tại các nhà thờ và hội trường UBND xã.

Trong 3 năm qua, mỗi nhóm tổ chức sinh hoạt được 9 kỳ. Nội dung sinh hoạt xoay quanh những chủ đề chính là: Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, kèm theo là những lời tham vấn, lời khuyên của Giáo hội, của những người làm công tác dân số, mặt trận với đồng bào giáo dân và lương dân hãy tham gia tích cực ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh để nâng cao chất lượng dân số. Các nội dung: Luật Bình đẳng giới, quy định của giáo luật về bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình, chính sách dân số, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, phương pháp xây dựng gia đình hạnh phúc, trách nhiệm của mỗi người trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư… cũng được truyền tải tới học viên.

Không chỉ có hình ảnh minh họa hấp dẫn, tại lớp truyền thông các học viên còn được trao đổi thẳng thắn, thân mật về nội dung bài giảng với linh mục và báo cáo viên, nên nhiều người không phải thành viên của nhóm cũng đến tham dự, có buổi lên tới 600 người. Các lớp về giáo lý hôn nhân được tiến hành thường xuyên, MTTQ in ấn, phát hàng nghìn tờ tài liệu giúp các học viên hiểu thêm về hậu quả của việc mất cân bằng giới tinh khi sinh và tham gia khắc phục.

Không dừng lại ở các giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thực hiện mô hình, MTTQ các cấp còn gắn kết mô hình với các phong trào "Dân vận khéo", xây dựng chùa cảnh, xứ, họ đạo "4 gương mẫu", cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"… đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu quả làm thay đổi nhận thức và hành vi sinh đẻ có kế hoạch của nhân dân nói chung, đồng bào theo đạo nói riêng. Bình quân trong 5 năm (2004- 2008), tỷ lệ giới tính khi sinh ở xã Nam Hải là 108,8 nam/100 nữ, đến cuối năm 2011, giảm xuống còn 106 nam/100 nữ. Còn ở Ðông Cường, nếu như năm 2007, cấp ủy, chính quyền, MTTQ lo lắng vì tỷ lệ sinh nam nhiều hơn nữ (48 nam/45 nữ), thì sau 3 năm cố gắng, nỗ lực thực hiện mô hình tình thế đã đảo ngược (26 nam/34 nữ). Với toàn tỉnh, tỷ lệ nam/nữ khi sinh cũng có chiều hướng giảm: từ 115/100 (năm 2008) xuống còn 114/100 (năm 2011). Với kết quả đáng mừng này, Trung ương MTTQVN đã chỉ đạo MTTQ tỉnh nhân rộng mô hình này để góp phần cùng ngành dân số khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số hơn nữa.

Thu Hiền

Về đầu trang


Cao Bằng tăng cường đưa công tác Dân số vào hương ước, quy ước thôn, xóm

Việc đưa một số quy định của chính sách Dân số - KHHGĐ vào hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, xóm là việc làm cần thiết để mọi người dân trong cộng đồng cùng tham gia thực hiện tốt chính sách Dân số - KHHGĐ. Những năm gần đây, cùng với việc đổi mới hệ thống pháp luật phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, các hương ước, quy ước của thôn, xóm, bản, làng đã hỗ trợ không nhỏ trong việc thực hiện pháp luật của Nhà nước, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính tự quản trong cộng đồng xã hội.

Tại Cao Bằng, từ năm 1993 đến nay, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định về công tác Dân số - KHHGĐ, được các phương tiện truyền thông đại chúng, các hoạt động truyền thông cộng đồng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong các cấp, ngành, đoàn thể và toàn thể cộng đồng. Trong đó, có sự lồng ghép trong nội dung các Quy định về nếp sống văn hoá trong cộng đồng dân cư; Quy ước nếp sống văn hoá người Mông ở tỉnh; Quy ước nếp sống văn hoá người Dao... Chính sự lồng ghép này đã phát huy thuần phong, mỹ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lý và đạo đức truyền thống của dân tộc, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho cuộc vận động thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ, thực hiện tốt các mục tiêu giảm sinh, giảm sinh con thứ ba trở lên; giảm tình trạng kết hôn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; tư vấn và khám sức khoẻ tiền hôn nhân..., góp phần xoá đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế, như: việc xây dựng hương ước, quy ước ở một số nơi chưa được tiến hành một cách khoa học, nội dung soạn thảo cùng với các quy định mới chỉ là công việc của một tổ chức hay một nhóm người, chưa có sự bàn thảo, thông tin hai chiều về nội dung các quy định cần có sự sửa đổi hoặc bổ sung cho sát với tình hình thực tế của địa phương. Nội dung hương ước, quy ước còn một số hạn chế, chưa phản ánh đúng tình hình, đặc điểm KT - XH, truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán của từng địa phương. Nhất là việc quy định thực hiện chính sách Dân số -KHHGĐ còn chung chung, chưa cụ thể hoá các tiêu chí cần có trong triển khai thực hiện. Những năm qua, việc triển khai xây dựng hương ước, quy ước ở các làng, bản, thôn, xóm đã được tiến hành với sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, có sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể. Ban chỉ đạo UBND các cấp đã tiến hành rà soát chính sửa, bổ sung cho phù hợp với phong tục, tập quán và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Chính sách Dân số - KHHGĐ được đa số bản làng đưa vào hương ước nhưng tiêu chí còn chung chung, chưa thể hiện đầy đủ và cụ thể các yêu cầu cơ bản, như: Dân số là gì? Gia đình là gì? Tại sao phải thực hiện KHHGĐ và thực hiện như thế nào theo đúng quy định của chính sách Dân số-KHHGĐ trong giai đoạn mới.

Công tác dân số - KHHGĐ về bản chất là một cuộc vận động xã hội có liên quan trực tiếp đến các nhóm: Hộ gia đình; Cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ; Nam giới làm chủ hộ gia đình; Vị thành niên, thanh niên, cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và người có uy tín trong cộng đồng. Do vậy trong thời gian tới những quy định về công tác Dân số-KHHGĐ, đặc biệt là các quy định về chế đô, chính sách trong thực hiện Dân số - KHHGĐ khi lồng ghép đưa vào hương ước, quy ước của làng, bản cần cụ thể hơn để các ban, ngành, đoàn thể và mọi người dân dễ hiểu và dễ triển khai thực hiện.

                                       Khánh Duy

Về đầu trang


Nỗ lực nâng cao chất lượng dân số ở Vĩnh Linh, Quảng Trị

Sinh ra những đứa con khỏe mạnh, từ đó nâng cao chất lượng dân số- chất lượng cuộc sống, là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Đề án “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận động phát hiện can thiệp sớm tật, bệnh ở thai nhi và sơ sinh” (gọi tắt là đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh) được triển khai thực hiện từ năm 2009 ở 5 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong và Hải Lăng (Quảng Trị) có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát hiện thai nhi bị dị tật sớm để có các biện pháp can thiệp, điều trị kịp thời, giảm bớt nỗi đau cho gia đình và giảm gánh nặng cho xã hội.

Qua 2 năm triển khai thực hiện, huyện Vĩnh Linh trở thành điểm sáng trong tuyên truyền, vận động phát hiện sớm tật, bệnh ở thai nhi và sơ sinh, tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng “đầu vào” của quá trình dân số, từ đó nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống cho mọi người.

Nhằm nâng cao nhận thức về sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn 19 xã, thị trấn (năm 2010 có 12 xã, thị trấn tham gia, đến năm 2011 có thêm 7 xã, thị trấn tham gia đề án) triển khai thực hiện đề án, Trung tâm Dân số- KHHGĐ huyện Vĩnh Linh phối hợp với Chi cục Dân số- KHHGĐ tỉnh mời giảng viên là các bác sĩ có kinh nghiệm ở trung ương về tham gia tập huấn kỹ năng tuyên truyền, vận động thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho 100% cán bộ dân số, cán bộ y tế xã, cộng tác viên, tuyên truyền viên dân số.

Các hoạt động chiến dịch tuyên truyền thực hiện chính sách dân số- KHHGĐ, các buổi tọa đàm, hội nghị, tư vấn cộng đồng, nói chuyện chuyên đề, lồng ghép tuyên truyền về ý nghĩa, lợi ích của việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh đã thu hút hàng ngàn đối tượng tham gia. Cùng với việc nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về lợi ích của việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh, Trung tâm Dân số- KHHGĐ, Tiểu BQL đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh huyện Vĩnh Linh đã chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng thực hiện siêu âm phát hiện tật, bệnh bẩm sinh cho thai nhi, kỹ thuật lấy máu gót chân để sàng lọc…

Đến nay, các tuyến y tế từ huyện đến xã đều có thể thực hiện các kỹ thuật cơ bản trong sàng lọc trước sinh và sơ sinh, có 80-90% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và 100% phụ nữ đang mang thai ở 19 xã, thị trấn hưởng lợi trên địa bàn huyện đã được tư vấn, tuyên truyền vận động và sẵn sàng tham gia thực hiện đề án. Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh là đơn vị duy nhất đã tiến hành thực hiện kỹ thuật lấy máu gót chân để sàng lọc sơ sinh, được Trung tâm Sàng lọc trước sinh và sơ sinh khu vực miền Trung đánh giá đạt kết quả tốt.

Bác sĩ Lê Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh, người trực tiếp phụ trách chương trình sàng lọc sơ sinh ở Vĩnh Linh, cho biết: Việc sàng lọc tật, bệnh bẩm sinh ở thai nhi và trẻ sơ sinh là công việc khá mới mẻ và lạ lẫm đối với người dân. Thời gian gần đây, rất nhiều thai phụ đã đến Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh để được kiểm tra sức khỏe của người mẹ lẫn thai nhi, siêu âm phát hiện sớm các bệnh như: não úng thủy, thoát vị cơ hoành, thoát vị rốn, dị dạng ở tay, chân, thai vô sọ, khuyết tật ống thần kinh, khuyết tật về tim... từ đó có hướng điều trị và can thiệp kịp thời cho thai nhi.

Tuy nhiên, việc siêu âm phát hiện sớm tật, bệnh cho thai nhi ở Vĩnh Linh vẫn chưa làm được vì thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại đảm bảo yêu cầu. Còn việc triển khai kỹ thuật lấy máu gót chân (sàng lọc sơ sinh) để xét nghiệm sàng lọc các bệnh thiếu men G6PD (gây biến chứng vàng da, dẫn đến biến chứng về não có thể tử vong hay biến chứng thần kinh, chậm phát triển tâm thần, vận động), suy tuyến giáp trạng bẩm sinh (gây chậm phát triển trí tuệ- bệnh down) và tăng sản lượng thận bẩm sinh (khiến bộ phận sinh dục nửa nam, nửa nữ) được Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh thực hiện từ tháng 9/2011.

Chỉ trong vòng 7 ngày triển khai thực hiện kỹ thuật lấy máu gót chân, bệnh viện đã lấy đủ hết số mẫu đề án chuyển về (30 mẫu) để gửi đến Trường Đại học Y dược Huế (Trung tâm Sàng lọc trước sinh và sơ sinh khu vực miền Trung) xét nghiệm, trong đó có 29 mẫu đạt yêu cầu kỹ thuật, được trung tâm đánh giá rất cao. Khó khăn nhất hiện nay trong thực hiện đề án là thiếu máy siêu âm hiện đại để sàng lọc trước sinh và thiếu mẫu lấy máu gót chân để sàng lọc sơ sinh, nên nhu cầu của người dân thì nhiều bệnh viện đành “lực bất tòng tâm”.  

Để đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh mang lại hiệu quả như mong muốn, huyện Vĩnh Linh cần được trang bị đầy đủ phương tiện máy móc, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ nhu cầu khám, siêu âm, xét nghiệm, phát hiện sớm bệnh, tật và có hướng điều trị, can thiệp kịp thời cho thai nhi và trẻ sơ sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Về lâu dài, để xây dựng và duy trì hoạt động mạng lưới sàng lọc trước sinh và sơ sinh, đảm bảo tất cả các xã, thị trấn trong huyện triển khai sàng lọc trước sinh bằng kỹ thuật siêu âm đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ và sự hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên từ trung ương cho đến tỉnh, huyện và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Có như vậy mới giảm thiểu được các tật, bệnh bẩm sinh đáng tiếc xảy ra, giảm bớt nỗi đau cho gia đình và gánh nặng cho xã hội, góp phần nâng cao chất lượng dân số, nâng cao sức khỏe cho mọi người.

                                                       THANH HẢI

Về đầu trang


Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” ở xã Hưng Thạnh.

Thực hiện Cuộc vân động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đới sống văn hóa ở khu dân cư” xã Hưng Thạnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Tiền Giang đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống kinh tế ổn định, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương. 

Để thực hiện có hiệu quả cuộc vận động, các chương trình phối hợp để tổ chức thực hiện Cuộc vận động đã được triển khai nghiêm túc. Cuộc vận động hướng đến các mặt của đời sống nhân dân như: Phong trào giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo; vận động đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; công tác giáo dục, y tế; giúp đỡ người nghèo; giữ gìn an ninh trật tự…Trong phong trào đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xã tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy có hiệu quả các nguồn lực để phát triển sản xuất. Các tổ chức thành viên như: Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ…đã triển khai nhiều biện pháp tuyên truyền, giúp đỡ về giống, vốn, khoa học kỹ thuật để đoàn viên, hội viên chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, phát triển dịch vụ, tăng thu nhập, cải thiện đời sống. 

Đến nay ở xã Hưng Thạnh đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế mới cho thu nhập cao như: Mô hình trồng Thanh Long ruột đỏ, mô hình trồng Mía cung cấp cho nhà máy đường, mô hình nuôi ba ba, nuôi thỏ…mỗi năm cho thu nhập từ 50 đến 100 triệu đồng. 

Tiêu biểu như vụ Đông xuân năm 2012, toàn xã đã gieo xạ được 190 ha diện tích lúa, cho thu hoạch năng suất bình quân 7,5 tấn/ha. Về cây khóm toàn xã hiện có: 2524 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch là: 1669 ha, năng suất bình quân 20 tấn/ha, tổng sản lượng: 33.800 tấn. Cùng với sản xuất nông nghiệp, xã cũng khuyến khích nhân dân phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ: Nghề mộc, may mặc…góp phần nâng tổng thu nhập bình quân đầu người  toàn xã đạt 12,5 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn hơn 13% theo tiêu chí mới. 

Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, xã Hưng Thạnh đã tuyên truyền sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ trương, mục đích của chương trình. Huy động mọi nguồn lực xây dựng đường giao thông nông thôn gắn liền với các tuyến đê bao phòng, chống lũ lụt,, làm thủy lợi nội đồng, khai thông dòng chảy, xây dựng, sữa chữa trường học và một số công trình phúc lợi khác. Điển hình như năm 2012 toàn xã đã có 82 hộ dân tự nguyện hiến đất để địa phương thực hiện các công trình đê bao chống lũ, các tuyến giao thông nông thôn liên ấp…với tổng diện tích gần 80 ha, trong đó hộ dân hiến đất ít nhất là 200 mét vuông và nhiều nhất là trên 2.000 mét vuông. Tiêu biểu là hộ chú Phạm Văn Thàng và anh Lê Văn Hùng ấp Hưng Quới, mỗi hộ đã hiến trên 2.000 mét vuông đất cho công trình đê bao chống lũ gắn liền với tuyến đường giao thông nông thôn. Ngoài ra nhân dân trong xã đã tự nguyện đóng góp kinh phí trên 30 triệu đồng, để xây mới cầu kinh ông chủ nối liền bờ đông, tây đoạn kinh 4 mét, nhằm tạo điều kiện cho nhân dân đi lại và lưu thông hàng hóa. 

Cuộc vân động, không chỉ tạo chuyển biến trên lĩnh vực kinh tế mà còn khơi dậy và phát huy tốt truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, uống nước nhớ nguồn trong cộng đồng dân cư, thể hiện qua việc các hộ tích cực hỗ trợ nhau về con giống, vốn, kinh nghiệm sản xuất. Các phong trào chăm sóc gia đình có công, gia đình thương binh, liệt sỹ, hỗ trợ người nghèo, ủng hộ các nguồn quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, quỹ “Vì người nghèo” được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Riêng năm 2012 đến thời điểm này xã Hưng Thạnh đã vận động được: 40 triệu đồng quỹ “Vì người nghèo”, trên 14 triệu đồng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” và hộ trợ sữa chữa được 2 căn nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách. Tổng trị giá 15 triệu đồng, xây dựng mới 01 căn nhà tình thương cho hộ dân nghèo trị giá 20 triệu đồng, dự kiến cuối năm 2012 xã sẽ xây mới 13 căn nhà Đại đoàn kết cho hộ dân nghèo khó khăn về nhà ở…Toàn xã hiện có trên 97% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. 

Một điểm nổi bật nữa trong thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” ở xã Hưng Thạnh, đó là đoàn kết xây dựng cảnh quan môi trường, sạch đẹp; chấp hành tốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. 

                                                                                   Minh Út  

Về đầu trang


 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 

 
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 
 
 
 
 
 
 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn