|
CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
QUỐC GIA
2001 - 2010
MỞ ÐẦU
Tình hình kinh tế xã hội nước
ta trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi thực hiện chính sách đổi mới, đã có
những bước phát triển đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm
là 7%, cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chúng ta cũng đã thu được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực sức khoẻ, giáo
dục, văn hoá và tinh thần của toàn xã hội và đã thực hiện tương đối thành công
chiến lược Bảo vệ môi trường 1991 - 2000. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác
nhau, quá trình phát triển cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm
trọng. Môi trường đất, nước, không khí ở một số thành phố lớn, khu công nghiệp
tập trung và các khu đông dân cư đang bị suy thoái, ô nhiễm, tài nguyên thiên
nhiên, đa dạng sinh học đang bị cạn kiệt, sự cố môi trường có chiều hướng gia
tăng.
Cùng với việc xây dựng chiến
lược phát triển kinh tế- xã hội cho thời kỳ mới, chiến lược bảo vệ môi trường
Quốc gia giai đoạn 20012010 cũng đã được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
chuẩn bị.
Chiến lược bảo vệ môi trường
Quốc gia giai đoạn 2001-2010 đã được nghiên cứu trong nhiều năm, được sự tham
gia đóng góp ý kiến của nhiều nhà quản lý, nghiên cứu, của hầu hết Bộ/ngành ở
trung ương và nhiều ban ngành ở các địa phương.
Dự thảo Chiến lược cũng đã
được hàng nghìn cán bộ, nhân dân thuộc đủ mọi lứa tuổi, thành phần, trình độ,
nghề nghiệp tham gia lựa chọn mục tiêu, xác định các giải pháp thực hiện và
các chương trình hành động ưu tiên. Nhiều nhà tài trợ và chuyên gia nước ngoài
cũng đã tham gia tư vấn và hoàn thiện Chiến lược này.
Trong qúa trình chuẩn bị,
nhiều nội dung quan trọng của dự thảo Chiến lược đã được sử dụng để đưa vào
các văn kiện liên quan của Ðảng, Quốc hội, Chính phủ và vận dụng vào thực tế
hoạt động của các ngành và địa phương.
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ NHỮNG THÁCH THỨC
1. Ðánh giá tình hình thực
hiện kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai
đoạn 1991-2000
Tháng 6 năm 1991, Chính phủ
đã thông qua Kế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000.
Ðây là văn bản có tính chiến lược đầu tiên đề cập đến tất cả các lĩnh vực môi
trường và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Kế hoạch này đã được các Bộ/ngành,
các địa phương triển khai thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng.
Nhiều chính sách, văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành như
Luật Bảo vệ môi trường (1993), nghị định 175/CP về "hướng dẫn thi hành
luật bảo vệ môi trường", nghị định 26/CP về "xử phạt hành chính các vi phạm về
bảo vệ môi trường". Ðặc biệt năm 1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương
Ðảng đã ban hành Chỉ thị 36/CT-TW về "Tăng cường bảo vệ môi trường trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Hệ thống quản lý nhà nước về bảo
vệ môi trường từ trung ương đến địa phương và ở các Bộ/ngành đã được hình
thành, ngày càng được tăng CƯỜNG VÀ ÐI VÀO HOẠT ÐỘNG NỀ NẾP. Ý thức trách
nhiệm về bảo vệ môi trường của các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể, tư
nhân, doanh nghiệp và cộng đồng ngày càng được nâng cao. Nước ta đã có vai trò
quan trọng trong hội nhập quốc tế về bảo vệ môi trường, tham gia hầu hết các
công ước và hiệp định quốc tế về bảo vệ môi trường. Việc thực hiện tốt kế
hoạch quốc gia đó đã góp phần ngăn chặn ô nhiễm, giảm bớt tình trạng suy thoái
môi trường và sự cố môi trường.
Tuy đã đạt được nhiều kết quả
nhưng một số nội dung của kế hoạch 1991-2000 vẫn chưa được làm hoặc làm chưa
tốt, như vấn đề quy hoạch môi trường lồng ghép với phát triển tài nguyên; vấn
đề chiến lược phát triển bền vững cấp ngành; vấn đề giáo dục và đào tạo, nâng
cao nhận thức môi trường; vấn đề quy hoạch phát triển đô thị; vấn đề quản lý
tổng hợp lưu vực; vấn đề quy hoạch quản lý tổng thể vùng ven biển; vấn đề bảo
tồn đa dạng sinh học; v.v... Hệ thống tổ chức quản lý môi trường còn nhỏ bé,
không tương xứng với nhiệm vụ, đầu tư cho bảo vệ môi trường còn quá hạn chế,
và giàn trải, v.v...Những yếu kém này là những nguyên nhân góp phần làm cho
môi trường nước ta tiếp tục xuống cấp, đặt ra những thách thức nghiêm trọng
cho giai đoạn tới.
2. Môi trường tiếp tục xuống cấp
Mặc dù trong những năm gần
đây, tỷ lệ che phủ rừng ở nước ta đã đạt mức khoảng 30% diện tích tự nhiên,
chiều hướng diễn biến rừng vẫn ở tình trạng suy thoái so với hơn nửa thế kỷ
trước, chất lượng rừng giảm sút.
Rừng ngập mặn, đầm phá đã bị
khai thác quá mức, việc sử dụng rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản trên quy
mô lớn làm diện tích rừng này ngày càng bị thu hẹp.
Ðịa bàn cư trú của các loài
động thực vật hoang dã bị thu hẹp và chia cắt. Nhiều loại động vật quý hiếm bị
săn bắt. Nhiều loài đã có nguy cơ bị tuyệt chủng. Nguồn gen quý hiếm bị suy
giảm.
Nước thải sinh hoạt thành phố,
đô thị, các khu công nghiệp xả trực tiếp vào kênh, mương, sông, hồ dẫn đến
tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước ở một số nơi như Hà nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Việt Trì, Biên Hoà. Chất lượng nước một số khu vực
các sông Sài Gòn, Cửu Long, Thị Vải, Ðồng Nai, Cầu đã bị suy giảm, nhiều chỉ
tiêu như chất hữu cơ, BOD5,COD, NH4,N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép, nguy cơ
thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất ở nhiều vùng ngày càng trầm trọng. Nguy
cơ thiếu nước vào những thập kỷ tới có khả năng xảy ra.
Nước biển ven bờ đã bắt đầu
có dấu hiệu ô nhiễm. Hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng,
vi sinh, hoá chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt tiêu chuẩn cho phép 2-5
lần. Hàm lượng dầu ở một số vùng biển vượt quá tiêu chuẩn và đang có xu hướng
tăng dần.
Nước ngầm đang bị cạn kiệt
dần về lượng, bị ô nhiễm và suy giảm về chất. Mấy năm gần đây đã xảy ra suy
giảm mức nước ngầm vào mùa hè ở Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.
Hiện nay nước ta có 623 thành phố, thị xã, thị trấn, trong đó có 4 thành
phố trực thuộc Trung ương, 82 thành phố, thị xã thuộc tỉnh. Tỷ lệ dân đô thị
trên tổng dân số năm 1986 là 19%; năm 1990 là 20%; năm 1999 là 23%; dự báo đến
năm 2010 là 33% và năm 2020 là 45%.
Môi trường ở nhiều đô thị ở
nước ta bị ô nhiễm do chất thải rắn và chất thải lỏng chưa được thu gom và xử
lý theo đúng quy định. Trong khi đó, khí thải, tiếng ồn, bụi... của nguồn giao
thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạ tầng
yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự
lâm vào tình trạng đáng báo động. Ðặc biệt hệ thống cấp thoát nước lạc hậu,
xuống cấp không đáp ứng được yêu cầu. Mức ô nhiễm không khí về bụi và các khí
thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, đặc biệt tại một số
thành phố lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép 2-5
lần.
Môi trường các khu công
nghiệp, đặc biệt ở các khu công nghiệp cũ, các ngành hoá chất, luyện kim, xi
măng, chế biến đang bị ô nhiễm do các chất thải rắn, nước thải, khí thải và
các chất thải độc hại chưa được xử lý theo đúng quy định. Các cơ sở công
nghiệp do trong nước đầu tư chủ yếu có quy mô nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu
(chỉ có 20% xí nghiệp cũ đã đổi mới công nghệ). Khoảng 90% cơ sở sản xuất cũ
chưa có thiết bị xử lý nước thải.
Hiện nay đã hình thành gần
100 khu công nghiệp, khu chế xuất, công nghệ cao, nhưng chỉ khoảng 1/3 trong
số đó đã xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và rất ít khu có hệ thống xử lý nước
thải tập trung.
Môi trường nông thôn đang bị
ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém. Việc sử dụng không
hợp lý các loại hoá chất nông nghiệp cũng gây ô nhiễm môi trường nông thôn.
Việc phát triển tiểu thủ công,
làng nghề và công nghiệp chế biến ở một số vùng do công nghệ sản xuất lạc hậu,
qui mô sản xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong dân và hầu như không có thiết bị
thu gom, xử lý chất thải, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Nước sinh hoạt và vệ sinh là
vấn đề cấp bách, điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải
thiện đáng kể, tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28%-30% và 30% đến 40%
số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh.
Tại nhiều khu vực sản xuất
không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp. Tình trạng
ô nhiễm về bụi, hoá chất độc hại, tiếng ồn, nhiệt độ đã làm gia tăng tỷ lệ
công nhân mắc bệnh nghề nghiệp, nhất là trong các ngành hoá chất, luyện kim,
vật liệu xây dựng, khai thác mỏ v.v...
Tai biến thiên nhiên gần đây
có xu hướng gia tăng, hiện tượng lũ quét trên các lưu vực sông nhỏ, lũ trên
các sông lớn, bão, lốc, mưa đá, mưa axit, hạn hán kếo dài, nứt đất, xói lở bờ
sông ven biển trong thập niên vừa qua đã gây thiệt hại to lớn về người, nhà
cửa, tài sản, mùa màng ở nhiều nơi.
Trong những năm qua sự cố
tràn dầu vẫn xảy ra nhiều và gây thiệt hại lớn. Từ năm 1994 -1998 đã xác định
được đối tượng gây ra 34 vụ với số lượng dầu tràn trên 4000 tấn.
Hậu quả của chất độc hoá học
do chiến tranh để lại còn nặng nề, hàng vạn trẻ em bị dị tật bẩm sinh, hàng
triệu héc ta rừng bị suy thoái.
Ngộ độc thực phẩm có chiều
hướng ngày càng gia tăng và gây hậu quả nghiêm trọng cho hàng vạn người.
3. Tác động của môi trường toàn cầu
Môi trường là vấn đề có tính
liên ngành, liên vùng và toàn cầu. Vì vậy, môi trường nước ta cũng chịu tác
động bởi môi trường toàn cầu và môi trường xuyên biên giới với các quốc gia
láng giềng. Những tác động chính dưới đây cũng là những thách thức cần được
quan tâm giải quyết.
a) Vấn đề môi trường của các
lưu vực sông Cửu long và sông Hồng
Châu thổ sông Cửu Long là hạ
lưu của 5 nước khác. Châu thổ Cửu Long tạo ra 40% yêu cầu lương thực của nước
ta, cho nên bất kỳ một hoạt động nào trên thượng lưu, đều tác động trực tiếp
đến môi trường và tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Sông Hồng là con
sông chung với Trung Quốc và những hoạt động thượng nguồn của sông Hồng đều có
các mối liên can với vùng đông dân nhất của nước ta.
b) Vấn đề bảo vệ môi trường
của các vùng rừng xuyên biên giới
Các cánh rừng cũng là những
hệ thống cùng chia sẻ chung và các tài nguyên đa dạng sinh học quan trọng cần
được bảo vệ vì quyền lợi chung. Khai thác gỗ bất hợp pháp, buôn bán săn bắt
động vật hoang dã trong các vùng có chung biên giới Trung Quốc, Lào và
Campuchia, đang gây ra huỷ hoại môi trường có ý nghĩa quan trọng toàn cầu.
c) Vấn đề mưa a-xít
Mưa a-xít là là do SO2
và NOx do các ngành công nghiệp thải ra không khí, sau đó kết hợp với nước,
tạo thành các a-xít sulfuric và nitric. A-xít theo nước mưa, tuyết, sương, rơi
trở lại mặt đất. Mưa a-xít có thể tạo ra ô nhiễm xuyên biên giới, khi di
chuyển cùng gió và mây từ vùng này sang vùng khác. Những báo cáo của mạng lưới
quan trắc quốc gia cho thấy, mưa a-xít từ nước ngoài vào Việt
Nam
đang tăng lên. Các hậu quả tiềm tàng của mưa a-xít bao gồm phá huỷ cây trồng,
rừng và làm giảm sản lượng nông nghiệp, ô nhiễm các dòng sông, các hồ ảnh
hưởng đến nuôi trồng thuỷ sản và các sinh vật khác, phá huỷ các công trình
kiến trúc.
d) Ô nhiễm tầng khí quyển và
hiệu ứng nhà kính
Khí thải công nghiệp, khí
thải của các phương tiện giao thông có động cơ, khí thoát ra từ các qúa trình
sinh học đã là các nguồn chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không khí. Hàm lượng
ngày càng tăng của các loại khí CO2, CH4, ... là loại
khí thải do các ngành công nghiệp có sử dụng nhiên liệu hoá thạch thải ra đã
gây hiệu ứng nhà kính với hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả đó được thể hiện ở hai
dạng:
- Sự thay đổi
khí hậu của quả đất dẫn đến sự mất cân bằng của hệ sinh thái đã có ở
đây.
- Mực nước biển dâng cao. Theo dự báo, đến giữa thế kỉ 21 nhiệt độ không khí bình
quân trên trái đất sẽ tăng thêm từ 1,5 - 4,5oC và mực nước biển
trên toàn cầu sẽ dâng cao thêm từ 0,25 - 1,4m.
Ðồng thời, Hiện tượng El-nino,
La- nina làm gia tăng mưa bão và hạn hán nghiêm trọng cho một số vùng
trên thế giới.
e) Ô nhiễm biển và đại dương
Ước tính đến năm 2000, tổng
lượng chất phóng xạ có trong đại dương sẽ tăng nhiều lần so với năm 1970,
trong đó các chất thoát biến và chất phóng xạ sẽ tăng lên 100 lần, chất triti
(hidro siêu nặng) sẽ tăng 1000 lần.
Lượng dầu do đắm tàu, rò rỉ
trong vận chuyển và phun ra từ giếng khai thác vào các đại dương từ 5 - 10
triệu tấn/năm, số dầu do các xí nghiệp công nghiệp thải từ 3 - 5 triệu tấn.
Các hợp chất hữu cơ, kim loại
nặng, các nguồn chất thải từ đất liền đã gây ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
Biển Ðông cũng đang nằm trong
tình trạng chung như các đại dương và biển khác.
g)
Thủng tầng ôzôn
Sự phá hoại tầng ôzon là nguy
hại rất lớn đối với con người và thiên nhiên.
Nguyên nhân của sự phá hoại
tầng ôdôn là do sự sử dụng và thải chất CFC, ngoài ra còn do các hợp chất oxy
nitơ được tạo ra trong khí thải của máy bay phản lực cỡ lớn và của các loại
máy bay khi bay vào tầng cao làm phân giải khí ôzon. Theo dự báo đến năm 2000
các máy bay cỡ lớn bay ở tầng bình lưu sẽ tiêu hao hàng chục vạn tấn xăng dầu
chúng sẽ thải ra một lượng lớn oxit nitơ, có thể phá hoại 10% khí ôzon.
h) Chuyển dịch ô nhiễm
Theo tài liệu về qui hoạch
môi trường của LHQ, mỗi năm toàn cầu có 500 triệu tấn rác thải nguy hại, trong
đó có 98% là của các nước phát triển. Việc một số nước phát triển chuyển dịch
công nghệ lạc hậu và các chất thải dưới nhiều hình thức khác nhau sang các
nước đang phát triển là một thực tế cần được chú trọng.
4. Những thách thức đối với môi trường Việt Nam
Hiện trạng môi trường tiếp
tục xuống cấp và các vấn đề môi trường toàn cầu vừa nêu là những thách thức
nghiêm trọng đối với môi trường Việt Nam trong thời gian tới, đồng thời cũng
có những thách thức khác nữa.
- Phát triển kinh tế - xã hội:
Theo dự kiến, tốc độ tăng trưởng GDP phải đạt xấp xỉ
7%/năm và được duy trì liên tục đến 2010. Theo tính toán của các chuyên gia
nước ngoài, nếu GDP tăng gấp đôi thì nguy cơ ô nhiễm tăng gấp 3 đến 5 lần.
Từ các mục tiêu của kịch bản
tăng trưởng kinh tế nêu trên có thể thấy nếu như trình độ công nghệ sản xuất,
cơ cấu sản xuất và trình độ quản lý sản xuất, quản lý môi trường không được
cải tiến thì sự tăng trưởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài nguyên,
năng lượng, dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sự gia
tăng các loại chất thải gây sức ép lên môi trường. Tình trạng tài nguyên thiên
bị cạn kiệt, chất lượng môi trường bị xuống cấp cũng chính là những thách thức
đặt ra đối với phát triển kinh tế- xã hôi.
- Sự tăng dân số và di dân tự do: Những thách thức về nhân khẩu của nước ta là rất
nghiêm trọng đối với tất cả các vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Tăng dân số vẫn ở mức cao và di dân nội bộ từ các khu vực nghèo tài nguyên
thiên nhiên và kinh tế kém phát triển vẫn đang tăng lên, không kiểm soát được.
Trung bình trong 10 năm qua (1989 - 1999) tỷ lệ tăng trưởng dân số là 1,7%.
Với mức tăng trưởng như vậy thì theo các dự báo đến năm 2020 số dân nước ta sẽ
xấp xỉ 100 triệu người, tức là phải bảo đảm cuộc sống cho thêm gần 25 triệu
người, tương ứng với một số dân nước ta trước năm 1945, trong khi tài nguyên
đất, tài nguyên nước và các dạng tài nguyên khác có xu thế suy giảm, vấn đề
nghèo đói ở các vùng sâu vùng xa chưa được giải quyết triệt để (hiện có 1750
xã ở diện đói nghèo). Tất cả những vấn đề trên là những thách thức nghiêm
trọng, gây ra sức ép to lớn đối với cả tài nguyên và môi trường trên phạm vi
toàn quốc.
- Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá: Quá trình này đòi hỏi các nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu
ngày càng to lớn, kéo theo chất lượng môi trường sống ngày càng xấu đi, nếu
không có biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu. Mặt khác quá trình phát triển công
nghiệp và đô thị hoá ở nhiều khu vực, vùng lãnh thổ chưa quán triệt đầy đủ
hoặc quán triệt chưa đúng quan điểm phát triển bền vững, tức là chưa tính toán
đầy đủ hoặc tính đúng các yếu tố môi trường trong phát triển kinh tế - xã hội
của nhiều ngành, địa phương.
- Nhận thức về môi trường và phát triển bền vững còn thấp:
Kiến thức và nhận thức về môi trường và phát triển bền
vững chưa được nâng cao cho các nhà ra quyết định, các nhà quản lý, các doanh
nghiệp và cộng đồng.Còn tồn tại nhiều quan điểm cực đoan về môi trường.
- Du lịch, thương mại và môi trường:
Trong nền kinh tế thị trường có tính đến các yếu tố môi trường và hòa nhập với
du lịch, thương mại khu vực và toàn cầu, nhất thiết phải xem xét việc thay đổi
mẫu hình tiêu thụ, phát triển các sản phẩm thân thiện môi trường, chuẩn bị cơ
sở hạ tầng về giao thông vận tải, năng lượng đồng thời với việc xem xét đồng
bộ vấn đề môi trường xã hội, văn hoá, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Việc phát triển kinh tế phải đi liền bảo vệ môi trường, điều chỉnh dân số, xóa
đói giảm nghèo trong tất cả các vũng lãnh thổ, các vùng sinh thái của đất nước.
Ðâylà một thách thức nghiêm trọng đối với nước ta.
- Năng lực quản lý môi
trường bị hạn chế: Hiện trạng về công tác quản lý môi trường đang có
nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường, hệ thống tổ chức quản lý hiện nay còn nhiều bất cập về nhân lực, nguồn
lực và trang bị kỹ thuật và các cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các bộ/ ngành
và địa phương; đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường còn quá ít và thiếu tập
trung, hệ thống các chính sách, luật pháp còn chưa đồng bộ, thiếu tính hệ
thống, các chính sách công cụ kinh tế trong quản lý môi trường còn ít được áp
dụng.
Các chương trình giáo dục,
nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường chưa được tiến hành rộng khắp, chưa phát
huy được vai trò của các đoàn thể, các tổ chức chính trị và xã hội, cũng như
các phong trào quần chúng tham gia công tác bảo vệ môi trường.
Các kiến thức phổ cập về môi
trường chưa được đưa vào hệ thống giáo dục ở các cấp học, bậc học.
Các thông tin về môi trường,
về chính sách, pháp luật chưa được cung cấp và phổ biến thường xuyên đến cộng
đồng.
- Mẫu hình tiêu thụ:
Phát triển kinh tế đang đem lại mức tăng thu nhập, mức tăng
này sẽ làm tăng mức tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ xa xỉ, đồng thời cũng làm
tăng thêm lượng chất thải lên môi trường. Mẫu hình tiêu thụ này là không phù
hợp, thói quen này sẽ tác động nghiêm trọng lên môi trường, đòi hỏi phải có sự
thay đổi từ nhận thức đến hành động thực tế.
Nhằm giải quyết các thách
thức nêu trên, cần khai thác triệt để các thuận lợi sau:
Ðứng trước những diễn biến
xấu của môi trường toàn cầu, cộng đồng quốc tế và khu vực đều cam kết phối hợp
nỗ lực nhằm cải thiện môi trường vì mục tiêu phát triển bên vững cho cả thế hệ
hiện nay và các thế hệ sau này; cam kết hỗ trợ các nước chậm phát triển giải
quyết các vấn đề môi trường sinh thái. Ðặc biệt, các tổ chức tài chính thế
giới cũng khuyến khích các dự án đầu tư theo hướng thân môi trường. Nếu có
định hướng đúng và sớm tăng cường năng lực tiếp thu thì nước ta có thể tranh
thủ được các nguồn tài trợ quốc tế để giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc
và bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia.
Chúng ta có thể rút ra những
bài học quý giá, cả thành công lẫn không thành công, của các nước khác để có
thể lựa chọn lộ trình thích hợp nhất cho quá trình phát triển của mình, để sao
cho vừa đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà không phải trả giá cao về môi
trường. So với nhiều nước, nước ta vẫn còn có những lợi thế nhất định về môi
trường và tài nguyên thiên nhiên. Nếu các nguồn tài nguyên đó được sử dụng
chuẩn mực và được bảo vệ đúng quy cách, thì các nguồn tài nguyên này sẽ trở
thành một lợi thế trong cạnh tranh quốc tế, kể cả trước mắt lẫn lâu dài. Cho
dù các kỹ năng quản lý môi trường của nước ta còn bị hạn chế, nhưng những kinh
nghiệm tích luỹ trong những năm gần đây sẽ giúp chúng ta có khả năng xác định
các định hướng và lựa chọn đúng đắn hướng phát triển của mình trong thập kỷ
tới đây.
CHƯƠNG II
Quan điểm, mục tiêu và các nội dung cơ bản
của chiến lược
-
Các
quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo.
Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính
trị đã đưa ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản, thể hiện đường lối, chủ
trương về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta: "Coi công tác bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Ðảng, toàn dân và
toàn quân; là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương
và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành; là cơ
sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".
Chính phủ cũng đã cam kết vận
dụng các nguyên tắc và nội dung cơ bản của Chương trình Nghị sự 21 vào điều
kiện cụ thể của nước ta: "Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc
chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên;
kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi
trường và phát triển bền vững".
Quán triệt quan điểm chỉ đạo
của Ðảng và cam kết của Chính phủ, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001
- 2010 phải được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
-
Mục
tiêu và nội dung của chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia không tách rời
mục tiêu và nội dung của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, mà nó phải
là một bộ phận cấu thành của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, được
xây dựng theo hướng phát triển bền vững.
-
Chiến
lược bảo vệ môi trường quốc gia phải dựa trên việc phân tích hiện trạng và
dự báo xu thế biến động môi trường của đất nước, trong bối cảnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Ðồng thời chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia phải phù
hợp với nguồn lực của quốc gia, được xây dựng trên cơ sở tiếp thu các bài
học kinh nghiệm của các nước, thu hút được đầu tư của nước ngoài và là cơ sở
pháp lý cho việc xây dựng các kế hoạch môi trường quốc gia trung hạn và ngắn
hạn.
2. Các Mục tiêu chiến
lược
Mục tiêu chiến lược:
Tiếp tục phòng ngừa ô nhiễm, tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học, chú
trọng sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường.
Các mục tiêu cụ thể :
- Phòng ngừa ô nhiễm:
Tăng cường khả năng về quản
lý, đầu tư, pháp luật cưỡng chế và các giải pháp hỗ trợ phòng ngừa ô nhiễm môi
trường nước, không khí, tiếng ồn, và chất thải rắn độc hại; nâng cao nhận thức
và kiến thức, cung cấp đầy đủ thông tin về phòng ngừa ô nhiễm cho toàn cộng
đồng.
Xây dựng quy hoạch phát triển
bền vững cho các đô thị, khu công nghiệp, nông thôn, các vùng sinh thái.áp
dụng các công nghệ sạch, công nghệ thích hợp trong sản xuất và xử lý ô nhiễm
môi trường .
Ðảm bảo thực hiện được tiêu
chuẩn về môi trường tiệm cận với tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trong khu
vực.
- Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh
học:
Tăng cường khả năng về quản
lý, đầu tư, pháp luật cưỡng chế và các giải pháp hỗ trợ để thực hiện bảo tồn,
phát triển và sử dụng bền vững đa dạng sinh học của các hệ sinh thái: rừng,
biển, trên cạn, dưới nước.
Bảo vệ, khôi phục và sử dụng
có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có như tài nguyên đất, rừng,
nước, khoáng sản, năng lượng và tài nguyên đa dạng sinh học, v.v... phục vụ sự
nghiệp phát triển bền vững của đất nước.
Bảo tồn các vùng có hệ sinh
thái đặc thù để duy trì cân bằng sinh thái, nâng tổng diện tích các khu bảo vệ
đa dạng sinh học (công viên, vườn và khu bảo tồn quốc gia) lên khoảng 2% diện
tích tự nhiên của cả nước.
- Cải thiện môi trường:
Tăng cường khả năng về quản
lý, đầu tư, pháp luật cưỡng chế và các giải pháp hỗ trợ để tiến tới xử lý
triệt để các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Tiến tới thu gom, xử lý về cơ
bản chất thải rắn, chất thải công nghiệp, chất thải bệnh viện và chất thải
sinh hoạt ở các thành phố và khu dân cư đông đúc.
Tăng cường phục hồi và trồng
mới rừng tiến tới đạt mức độ che phủ trên 40% diện tích cả nước vào năm 2010.
Hạn chế sử dụng các hoá chất
độc hại như: phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, các chất bảo quản nông sản, thực
phẩm, v.v....
Phấn đấu đến năm 2010 đảm bảo
90% dân số được dùng nước hợp vệ sinh và các hệ thống vệ sinh đạt tiêu chuẩn
môi trường, xử lý về cơ bản các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái môi trường
nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh để lại và do hoạt động sản xuất gây ra.
3. Các nội dung chủ yếu của chiến lược
a) Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên vô
cùng quan trọng đối với đời sống sản xuất và sinh hoạt của con người, để bảo
vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này, trong chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia giai đoạn 2001-2010 cần ban hành bổ sung các tiêu chuẩn và các quy
định bảo vệ đối với các nguồn nước ngầm, nước mặt, các lưu vực, các đập chắn
nước, đưa chất lượng nước ở các thuỷ vực lớn đạt tiêu chuẩn chất lượng nước đã
ban hành, đảm bảo chất lượng nước biển tại khu vực ven biển cửa sông đạt tiêu
chuẩn cho phép.
Phấn đấu đến năm 2005 cải tạo
được khoảng 40% các dòng sông, hệ thống tiêu thoát nước, đặc biệt là các dòng
sông đi qua các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp và đô thị. Cả nước
cần tập trung xử lý triệt để 90% các nguồn gây ô nhiễm nước nghiêm trọng tại
các khu công nghiệp, giải quyết được các vấn đề về nước đối với các khu vực
hoang mạc hoá.
Tổ chức đánh giá và kiểm soát
được chất lượng, trữ lượng nước ngầm, có kế hoạch khai thác và ban hành những
quy định cụ thể về khai thác nguồn này.
b) Bảo vệ môi trường đất và sử dụng bền vững tài nguyên đất
Hoàn thiện chiến lược, quy
hoạch và các văn bản pháp quy quản lý tài nguyên đất, bảo đảm việc quản lý và
sử dụng đất trống có hiệu quả. Việc sử dụng các hệ sinh thái, và địa lý đặc
thù phải dựa trên cơ sở cân bằng sinh thái và qui hoạch các khu bảo tồn.
Tăng cường các biện pháp quản
lý, luật pháp và các biện pháp hỗ trợ để giải quyết hài hoà các mâu thuẫn
trong sử dụng đất với bảo vệ môi trường, giữa khai thác khoáng sản với tài
nguyên đất và các dạng tài nguyên khác.
c) Bảo tồn đa dạng sinh học
Các bộ, ngành và địa phương
cần phối hợp tổ chức thực hiện tốt các nội dung kế hoạch hành động quốc gia về
đa dạng sinh học, đồng thời tiến hành các chương trình bảo vệ, tăng cường tài
trợ, quản lý các vườn quốc gia, công viên biển, mở rộng các khu bảo vệ, phân
cấp cho địa phương, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng quản lý những khu hệ bảo
tồn đa dạng sinh học phù hợp với năng lực của từng đơn vị.
Ðể bảo tồn đa dạng sinh học
có hiệu quả cần nâng độ che phủ rừng lên 40% diện tích, trong đó khoảng 20-30%
rừng đặc dụng(bảo vệ) và khoảng10- 20% rừng sản xuất. Phải coi tăng diện tích
rừng như là một biện pháp hữu hiệu cân bằng sinh thái tự nhiên giữa các hệ
sinh thái và chất lượng môi trường.
Bảo vệ và sử dụng bền vững
tài nguyên đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng phải đồng bộ với việc bảo vệ
các hệ sinh thái biển và xem đó là một nội dung quan trọng của chiến lược này.
d) Bảo vệ môi trường không
khí
Với chức năng và nhiệm vụ của
mình, từng đơn vị sản xuất, kinh doanh và các cơ quan quản lý phải kiểm soát
chặt chẽ việc phát thải khí CO2, SO2,CO, ô nhiễm bụi do
các hoạt động sản xuất công nghiệp, năng lượng, xây dựng, nông nghiệp, giao
thông vận tải nhanh chóng tạo điều kiện thực hiện chính sách không sử dụng
xăng pha chì để giảm bớt ô nhiễm không khí. Từng bước phấn đấu để bảo đảm môi
trường không khí ở nước ta được trong lành theo các tiêu chuẩn tiếp cận mức
trung bình của các nước ASEAN.
e) Bảo vệ môi trường đô thị và khu công nghiệp
Ðể duy trì chất lượng và cải
thiện môi trường ở các đô thị và khu công nghiệp lâu dài, cần xây dựng và ban
hành chiến lược, quy hoạch và thể chế hoá bằng các văn bản pháp quy: luật,
nghị định, tiêu chuẩn, quy chế về quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại.
Phấn đấu đến năm 2010 tất cả các thành phố loại I, loại II, các đô thị đông
dân, khu công nghiệp phải có các bãi chôn lấp và xử lý chất thải rắn, chất
thải nguy hại theo đúng tiêu chuẩn. Thu gom và xử lý 90% chất thải rắn tại các
đô thị và khu công nghiệp, thu gom và xử lý100% chất thải công nghiệp, chất
thải bệnh viện và quản lý 100% chất thải độc hại. Ðảm bảo ít nhất 60% thành
phố đạt tiêu chuẩn về quy hoạch không gian, cảnh quan sinh thái.
Cần có cơ chế chính sách và
biện pháp đồng bộ để xử lý triệt để đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
....đang gây ô nhiễm nghiêm trọng về nước, không khí, và tiếng ồn.
Bằng nhiều biện pháp để xây
dựng hoàn thành cơ bản cải tạo, cải thiện các hệ thống cấp nước, tiêu thoát
nước, các cơ sở vệ sinh môi trường ở các thành phố trực thuộc Trung ương,
thành phố loại 2.
g) Bảo vệ môi trường nông thôn
Bảo vệ môi trường nông thôn
không có nghĩa chỉ gìn giữ môi trường trong sạch trong vùng mà còn cần có
nhiều biện pháp để ngăn chặn ô nhiễm có tính chất phòng ngừa đó là việc xây
dựng và ban hành các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường gắn với an toàn thực
phẩm, tiến tới hạn chế về cơ bản và thay thế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật độc hại.
Thực hiện chính sách kế hoạch
hoá gia đình để tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đảm bảo
không còn hộ đói nghèo ở nông thôn. Phấn đấu đến năm 2010 đảm bảo 90% số hộ ở
nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh, thu gom và xử lý được 90% chất thải
sinh hoạt và xử lý về cơ bản chất thải nguy hại, chất thải bệnh viện, các vùng
nông thôn đều có cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn môi trường.
h) Bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo
Cũng như chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, vấn đề bảo vệ môi trường biển, ven biển
và hải đảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia. Bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo bao gồm các nội dung và
liên quan đến các lĩnh vực sau:
Chiến lược phát triển kinh tế
biển phải được xây dựng theo quan điểm sử dụng tổng hợp, hợp lý đi đôi với bảo
vệ tài nguyên và môi trường biển và ven bờ. Lĩnh vực này cần được các ngành
khai thác dầu khí, giao thông vận tải, thuỷ sản, lâm nghiệp, du lịch, ....
thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo vệ môi trường trong ngành và phối hợp với
nhau cùng bảo vệ môi trường liên quan đến biển, ven biển và hải đảo.
Chiến lược thực hiện các công
ước và hiệp định quốc tế và khu vực liên quan đến biển và đại dương và liên
quan đến môi trường biển.
Chiến lược quản lý môi trường
biển và ven biển với mục tiêu cơ bản là tiến hành thành công xoá đói giảm
nghèo và phát triển kinh tế một cách bền vững tại vùng duyên hải thông qua các
hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường trong vùng.
Chiến lược quản lý môi trường
biển và ven biển bao gồm phân vùng chức năng biển và ven biển, quản lý tổng
hợp các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven biển, thành lập hệ
thống các khu bảo tồn biển và ven biển, phát triển và cải thiện sinh kế cho
những cộng đồng duyên hải, phòng ngừa và giảm thiểu tác hại của thiên tai ven
biển, trước hết là bão, lụt, xói lở và nước dâng đặc biệt là ở các tỉnh miền
Trung và tăng cường năng lực quản lý môi trường biển và ven biển.
Thực hiện nội dung bảo vệ môi
trường biển, ven biển và hải đảo là một nhiệm vụ cấp bách trong thực hiện
chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia.
i) Bảo vệ các vùng đất ngập nước
Ðất ngập nước là một hợp phần
đặc biệt quan trọng của môi trường. Bảo vệ các vùng đất ngập nước về lâu dài
là nhằm quản lý việc sử dụng có hiệu quả các vùng đất ngập nước, bảo vệ đa
dạng sinh học trong vùng, đồng thời duy trì các chức năng sinh thái, chức năng
kinh tế - xã hội của những vùng đất này.
Các hoạt động trước mắt nhằm
bảo vệ môi trường trong vùng gồm:
-
Chấm
dứt việc sử dụng đất ngập nước một cách không bền vững, chỉ chú trọng giá
trị kinh tế, chuyển đổi mục đích sử dụng không hợp lý.
-
Bảo
tồn các giá trị đa dạng sinh học hiện còn của các vùng đất ngập nước.
-
Khôi
phục các hệ sinh thái đất ngập nước ở các vùng nhạy cảm về môi trường.
-
áp
dụng các hệ canh tác nông-lâm-ngư nghiệp bền vững, bảo đảm sự cân bằng giữa
các chức năng sinh thái - kinh tế - xã hội của đất ngập nước.
j) Bảo vệ môi trường thiên nhiên và di sản văn hóa
Các di sản văn hoá, thiên
nhiên của đất nước có vai trò đặc biệt đối với công tác bảo vệ môi trường do
tính độc đáo, đặc thù, quí hiếm, có một không hai về các khía cạnh văn hoá và
môi trường.
Nước ta có nhiều di sản văn
hoá, thiên nhiên có tầm cỡ quốc tế và quốc gia trong đó có những di sản đã
được thế giới công nhận (Huế, Hạ Long, Hội An, Mỹ Sơn) hoặc chuẩn bị công nhận
(Phong Nha-Kẻ Bàng, ....).
Cần phải coi việc gìn giữ,
bảo vệ và tôn tạo môi trường văn hoá, tự nhiên cho di sản văn hoá, thiên nhiên
của đất nước như một bộ phận quan trọng của Chiến lược bảo vệ môi trường quốc
gia.
Bộ phận này của Chiến lược
phải tính toán đầy đủ đến việc bảo vệ đồng bộ các loại môi trường văn hoá,
nhân văn, lịch sử, sinh thái,... của từng di sản.
k) Sản xuất sạch hơn
Sản xuất sạch hơn là sự áp
dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường đối với qui
trình công nghệ, các sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm
thiểu các rủi ro có thể xảy ra, bảo đảm sức khoẻ, an toàn và chất lượng môi
trường.Ðể thực hiện sản xuất sạch hơn cần xây dựng một chương trình có tính
chất quốc gia, ban hành các chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ sạch
và tổ chức tiếp xúc trao đổi, thông tin về sản xuất sạch hơn giữa các nhà
doanh nghiệp, các chuyên gia trong nước và Quốc tế về sản xuất sạch hơn và
những người quản lý.
n) Bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế - xã hội vùng
Chiến lược bảo vệ môi trường
tại các vùng và các lưu vực sông cần được lồng ghép với các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh
tế- xã hội có tính đặc thù của mỗi vùng. Nội dung lồng ghép chủ yếu là căn cứ
vào hiện trạng môi trường vùng và những thách thức về môi trường trong tương
lai chịu sự tác động của các hoạt động kinh tế trong vùng và các mục tiêu kinh
tế - xã hội được đặt ra. Ðặc biệt chú trọng đến mối quan hệ tương tác về mặt
môi trường với các vùng xung quanh (kể cả của nước ngoài nếu có); Năng lực
giải quyết các vấn đề môi trường của vùng. Nhận thức của nhân dân trong vùng
và các tập tục văn hoá-môi trường liên quan và nêu rõ các phương án tổ chức
thực hiện chiến lược vùng.
m) Bảo vệ môi trường gắn với phát triển các ngành kinh tế
Chiến lược Bảo vệ môi trường
quốc gia 2001-2010 gắn với các ngành kinh tế được lựa chọn phù hợp với cơ cấu
kinh tế trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bao gồm các lĩnh vực:
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn; công nghiệp, kết cấu
hạ tầng và dịch vụ và được lồng ghép hài hoà theo hướng "cùng phát triển".
Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp và kinh tế nông thôn được xác định là một trọng điểm ưu tiên trong giai
đoạn 2001-2010. Sự phát triển của lĩnh vực này sẽ làm thay đổi cơ cấu của nền
kinh tế và sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến môi trường theo hướng tích cực. Chiến
lược bảo vệ môi trường phải được lồng ghép trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội của các ngành này theo những nội dung chủ yếu sau:
-
Qui
hoạch môi trường gắn với qui hoạch ổn định các vùng sản xuất lương thực, bảo
đảm an ninh lương thực đồng thời bảo đảm gìn giữ môi trường. Ðổi mới cơ cấu
cây trồng trong nông nghiệp, bảo vệ, khôi phục và phát triển tài nguyên rừng
theo hướng là những tác nhân tích cực đối với hệ sinh thái. Xây dựng nông
thôn mới gắn liền với chiến lược vệ sinh môi trường nông thôn nhằm nâng cao
chất lượng sống và đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp theo hưóng tiên tiến hiện đại ít gây ô nhiễm môi trường.
-
Công
nghiệp được phát triển theo hướng đa dạng hoá sản phẩm với kỹ thuật sản xuất
tiên tiến hiện đại sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của ngành này, nhưng sẽ
có 2 hướng tác động tích cực và tiêu cực đến môi trường. Ðể giảm thiểu tác
động tiêu cực và đẩy mạnh lợi thế tác động tích cực, chiến lược bảo vệ môi
trường cần gắn một số nội dung sau:
-
áp
dụng công nghệ sản xuất sạch, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và qui hoạch ngành công nghiệp đồng bộ với qui hoạch môi
trường, đặc biệt chú trọng các khâu khai thác, sử dụng nguyên nhiên liệu, xử
lý chất thải công nghiệp.
Kết cấu hạ tầng là một lĩnh
vực có nhiều tác động tích cực đến môi trường, mạng lưới giao thông đường bộ,
đường thủy không hợp lý sẽ là tác nhân phá hủy hệ sinh thái hai bên đường, gây
ô nhiễm môi trường nước mặt trên sông, biển và ô nhiễm tiếng ồn trong các khu
đô thị, dân cư, .... Chiến lược môi trường cần được lồng ghép trong chiến lược
kết cấu hạ tầng một số nội dung chủ yếu sau:
-
Qui
hoạch mạng lưới giao thông đồng bộ với qui hoạch các vùng sinh thái, khu bảo
tồn thiên nhiên (trên đất liền và dưới biển), xây dựng chính sách cung cấp
nước sạch và xử lý nước thải và qui hoạch kết cấu hạ tầng ở các khu công
nghiệp, dân cư, .... gắn với qui hoạch xử lý chất thải (rắn và lỏng).
Dịch vụ là loại hình phù hợp
với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, nhanh mang lại
lợi nhuận cho nền kinh tế. Nhưng cũng chính vì lợi nhuận và sự "nhanh nhậy"
của cơ chế thị trường là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nhanh nhất. Cần
khai thác lợi thế trong ngành dịch vụ như: du lịch sinh thái, đổi mới phong
tục tập quán văn hóa, lễ hội, .... theo hướng thân môi trường với những nội
dung chủ yếu là:
-
Tôn
tạo cảnh quan sinh thái gắn với lợi ích của ngành du lịch, xây dựng chính
sách và qui chế dịch vụ, thương mại liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường
và duy trì và khôi phục nếp sống văn hoá lành mạnh có lợi cho môi trường.
o) Nghiên cứu khoa học, công nghệ về môi trường
Cần tăng cường năng lực và
đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu khoa học công nghệ về môi trường nhằm đặt nền móng
vững chắc để phát triển ngành môi trường, phục vụ một cách có hiệu quả các vấn
đề về môi trường, đảm bảo cho việc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
được bền vững.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
còn nhằm tạo cơ sở để đánh giá chính xác hiện trạng môi trường, đề xuất các
giải pháp tối ưu để bảo vệ môi trường cũng như phục vụ việc hoạch định các
chính sách quản lý môi trường, đồng thời áp dụng các công nghệ môi trường tiên
tiến trong việc giải quyết các vấn đề ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường.
Ðể công tác nghiên cứu khoa
học công nghệ về môi trường thực sự có hiệu quả cần xây dựng cơ sở nghiên cứu
môi trường đủ khả năng đảm đương nhiệm vụ nghiên cứu môi trường tầm quốc gia,
tiến hành các chương trình nghiên cứu các vấn đề bức xúc, trọng tâm, khuyến
khích các nghiên cứu bảo vệ môi trường.
CHƯƠNG III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
Ðể đạt được các mục tiêu và nội dung của Chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia 2001-2010, các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương và toàn
cộng đồng tổ chức thực hiện tốt các giải pháp chính dưới đây:
1. Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường
Bảo vệ môi trường là trách
nhiệm của toàn xã hội, một trong những biện pháp thực hiện tốt chiến lược là
tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường cho mọi người dân, cộng
đồng, các doanh nghiệp, các nhà ra quyết định, và các cán bộ của các cơ quan
quản lý nhà nước các cấp. Chú trọng đào tạo cán bộ cho cơ sở ở tỉnh, thành phố,
quận, huyện và ở phường, xã có các kiến thức, nhận thức môi trường ở địa
phương, đào tạo và phát triển đội ngũ chuyên gia môi trường phục vụ cho công
tác quản lý nghiên cứu.
Tổ chức nâng cao nhận thức
môi trường cho cộng đồng, tư nhân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội
thông qua các biện pháp phổ biến kiến thức pháp luật, tuyên truyền, phổ cập
hoá nhận thức môi trường theo các chương trình và thông tin môi trường như
tivi, đài, báo hoặc mở lớp tập huấn vv...và các phương tiện khác; Xây dựng
mạng lưới phổ biến, nâng cao, đổi mới nhận thức môi trường với sự tham gia của
các đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ, các tuyên truyền viên môi trường, thí
điểm chương trình cung cấp thông tin về môi trường cho cộng đồng; Thực hiện xã
hội hóa công tác bảo vệ môi trường, như tổ chức quần chúng tham gia các phong
trào Xanh-Sạch-Ðẹp, VAC, VACR, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, gia
đình văn hóa mới,.....dưới các hình thức phù hợp đối với mọi lứa tuổi, giới
tính, dân tộc. Thông qua các phong trào để giáo dục các ý thức và đạo đức bảo
vệ môi trường.
Tổ chức thực hiện nghiêm
chỉnh đề án đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân
(Tất cả các cấp học, kể cả đại học và sau đại học).
2.Tăng cường vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp, tư nhân trong bảo vệ môi
trường
Bảo vệ môi trường là sự
nghiệp của toàn dân. Việc thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường đương nhiên
đòi hỏi sự tham gia của cộng đồng, của các doanh nghiệp và tư nhân.
Các tổ chức cộng đồng ở cơ sở,
các tổ chức chính trị - xã hội tham gia thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường
Quốc gia 2001-2010 trong các kế hoạch, các chương trình và các phong trào quần
chúng tham gia bảo vệ môi trường.
Nhà nước thực hiện chính sách
xã hội hoá bảo vệ môi trường bằng luật pháp, các văn bản pháp lý, để huy động
cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường các cấp, vào việc ra
các quyết định liên quan của các cơ quan nhà nước; tổ chức quản lý môi trường
địa phương lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào các phong trào hiện có, tổ
chức truyền thống, giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng.
Các tư nhân, các doanh nghiệp
thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường theo các qui định của pháp luật, các
chính sách và kế hoạch của nhà nước như đầu tư cải thiện môi trường, tổ chức
sản xuất sạch hơn để thực hiện hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp theo
tiêu chuẩn 780/4001 hoà nhập vào thị trường thương mại trong khu vực và quốc
tế. Nhà nước có chính sách tư nhân hoá dịch vụ môi trường.
3. Tăng
cường và đa dạng hoá đầu tư bảo vệ môi trường
Ðầu tư là một trong những
biện pháp quan trọng để thực hiện thành công chiến lược bảo vệ môi trường. Ðầu
tư bảo vệ môi trường phải được thực hiện xã hội hoá, huy động mọi nguồn lực
trong và ngoài nước và theo nguyên tắc:"người gây ô nhiễm phải đầu tư". Hình
thức xã hội hoá và nguyên tắc đầu tư này phải được quán triệt sâu rộng trong
tất cả các cấp lãnh đạo của Ðảng, chính quyền và các nhà quản lý đến từng
người dân sống trong cộng đồng.
Ðầu tư bảo vệ môi trường phải
được đa dạng hoá về hình thức và nguồn vốn nhằm huy động được mọi nguồn lực
trong xã hội. Hình thức đầu tư bao gồm đầu tư bằng trí lực, vật lực, ngày công
lao động hữu ích và bằng tiền,..... Trong đó toàn xã hội tham gia đầu tư bảo
vệ môi trường dưới mọi hình thức và chủ yếu đầu tư cho những chương trình, dự
án,.... mang tính cộng đồng; các đơn vị sản xuất kinh doanh đầu tư cho việc
phòng ngừa ô nhiễm, xử lý sự cố, cải tạo, bảo vệ môi trường trong phạm vi quản
lý của đơn vị mình. Ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc đầu tư
để bảo vệ môi trường có tính liên vùng, liên ngành và thực hiện các dự án quốc
gia, quốc tế.
Nguồn vốn đầu tư bảo vệ môi
trường được huy động từ ngân sách nhà nước, từ các doanh nghiệp, các đơn vị
sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, từ nguồn viện trợ ODA, GEF
và các tổ chức trong, ngoài nước và trong cộng đồng dân cư.
Mức đầu tư bảo vệ môi trường
phải được tăng cường theo nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, trước mắt trong
giai đoạn 2001-2005 hàng năm toàn xã hội cần đầu tư để bảo vệ môi trường không
dưới 1% GDP, trong đó huy động khoảng 2% tổng chi ngân sách của nhà nước. Các
doanh nghiệp được tính vốn đầu tư bảo vệ môi trường trong giá thành chi phí
sản xuất để huy động từ 1-2% tổng chi phí của doanh nghiệp, ngoài ra cần huy
động trong cộng đồng dân cư và từ các nguồn viện trợ khác để đầu tư bảo vệ môi
trường dưới mọi hình thức khác nhau.
Nhà nước qui định mức kinh
phí mà các doanh nghiệp phải đầu tư cho bảo vệ môi trường, xử lý chất thải và
có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ thân thiện môi
trường. Tranh thủ kinh phí từ các dự án Quốc tế song phương, đa phương cho bảo
vệ môi trường.
Ban hành Nghị định về tăng cường và đa dạng các nguồn
vốn bảo vệ môi trường, trong đó dự kiến hàng năm tăng dần tổng chi ngân sách
cho hoạt động bảo vệ
môi trường 10%, thành lập cơ chế tài chính như Quỹ Môi trường Quốc gia, địa
phương, ngành và ngân hàng môi trường.
Thành lập Quỹ Môi trường Quốc
gia để huy động các nguồn lực của Nhà nước, cộng đồng, của các tổ chức trong
và ngoài nước và sự ủng hộ, tài trợ của các tổ chức quốc tế để tập trung giải
quyết các vấn đề môi trường bức xúc ưu tiên. Quỹ môi trường là cơ chế tài
chính để giải quyết những vấn đề bất cập hiện nay về đầu tư cho công tác bảo
vệ môi trường. Quỹ hỗ trợ đầu tư cho việc phòng, chống, khắc phục suy thoái, ô
nhiễm và sự cố môi trường; hỗ trợ các dự án bảo vệ môi trường; hỗ trợ các dự
án xử chất thải và đầu tư thay thế công nghệ sạch. Quỹ Môi trường là tổ chức
tài chính Nhà nước hoạt động trên phạm cả nước, hoạt động theo điều lệ được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Quỹ môi trường được khai thác các nguồn kinh
phí thu được từ việc áp dụng các công cụ kinh tế như thuế, phí, quota chất
thải, đặt cọc ký cược môi trường, các công kinh tế này cần được nghiên cứu và
triển khai một cách đồng bộ với các giải pháp: hỗ trợ, khuyến khích, tăng
cường năng lực cưỡng chế, tăng cường trang thiết bị kỹ thuật kiểm tra giám sát,
quan trắc môi trường, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn môi trường.
4. Tăng cường năng lực
quản lý nhà nước về môi trường
Phát triển bền vững trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thực hiện chương trình hành
động của thế kỷ 21, thế kỷ của chuẩn mực về sinh thái nhân văn, của hội nhập
khu vực và toàn cầu hoá trong thương mại với môi trường. ...đòi hỏi phải kiện
toàn tổ chức, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
Kiện toàn bộ máy tổ chức của
hệ thống quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến địa phương, nâng cấp
hệ thống cơ quan quản lý môi trường trung ương thành lập Tổng cục Môi trường,
hoặc Bộ Môi trường và kiện toàn tổ chức quản lý môi trường ở các Bộ/ngành;
kiện toàn tổ chức quản lý môi trường ở cấp tỉnh, thành phố, quận huyện và các
vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung, .v.v..
Tăng cưòng năng lực quản lý
nhà nước về môi trường phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tổ chức
như tăng cường nguồn lực về nhân lực về đầu tư cho các hoạt động quản lý môi
trường; chú trọng đầu tư cho nghiên cứu chính sách và pháp luật, kiểm soát ô
nhiễm và chất thải, thanh tra, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường,
giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường, cũng như tăng cường các cơ sở vật
chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý Nhà nước về môi trường từ Trung ương đến
địa phương.
Nghiên cứu thành lập một cơ
chế quản lý liên ngành, có thể là một hội đồng quốc gia về phát triển bền vững
để điều phối thực hiện các mục tiêu, nội dung các chương trình trong chiến
lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010 cũng như thực hiện chương trình hành
động của thế kỷ 21 mà Việt Nam đã ký kết
5. Mở
rộng hợp tác quốc tế và thu hút sự tài trợ của quốc tế
Môi trường quốc gia liên quan
đến môi trường xuyên biên giới khu vực và toàn cầu, vì vậy sự nghiệp bảo vệ
môi trường của Việt nam cũng gắn với sự nghiệp bảo vệ môi trường trong khu vực
và trên toàn thế giới thông qua việc thực hiện các Công ước quốc tế về môi
trường, tham gia các chương trình, dự án đa phương hoặc song phương về bảo vệ
môi trường.
Phải tổ chức kiểm soát chặt
chẽ bằng các biện pháp luật pháp, hành chính nghiêm ngặt đi đôi với đối thoại,
thương lượng trong việc vận dụng các thoả thuận, các công ước, luật pháp quốc
tế và thu hút tài trợ quốc tế như thu hút sự trợ giúp của các nhà tài trợ, của
nguồn ODA, của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), của các hợp tác quốc tế đa
phương, song phương.Phải tăng cường cơ chế phối hợp thông qua việc thành lập
Hội đồng các nhà tài trợ môi trường có thành viên là đại diện của các tổ chức
Quốc tế như chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hành Thế
giới (WB), Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN),...
Hàng năm cần tổ chức diễn đàn
các nhà tài trợ, tiến hành các hoạt động trao đổi thông tin, thảo luận về các
chủ đề có liên quan, các cơ chế hợp tác giữa các bên liên quan, giữa các nhà
tài trợ và giữa chính phủ với các nhà tài trợ để phối hợp các nguồn viện trợ
cho các chương trình, dự án hợp tác về môi trường.
Trên cơ sở chiến lược bảo vệ
môi trường, cần xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn, xác định các mục tiêu và
danh mục các chương trình, dự án ODA và dự án GEF để cân đối nguồn ngân sách
quốc gia với hỗ trợ tài chính quốc tế. Ðể sử dụng các nguồn tài chính quốc tế
đó có hiệu quả, cần thiết phải tăng cường năng lực các cơ quan đầu mối quốc
gia, quốc tế về các chương trình, dự án thu hút từ nguồn tài trợ quốc tế, nhất
là các dự án được tài trợ từ nguồn vốn ODA, GEF.
Ðối với nguồn vốn ODA cần
nâng tỷ trọng viện trợ ODA cho môi trường lên 2 lần so với tổng vốn viện trợ,
đồng thời điều chỉnh cơ cấu ODA cho môi trường, tập trung viện trợ nhiều hơn
cho các dự án ưu tiên của chiến lược, tăng cường năng lực cho các cơ quan quản
lý môi trường ở TW, bộ/ ngành và địa phương; Chú trọng khai thác nguồn ODA
theo cơ chế của Nghị Ðịnh thư KYOTO trong lĩnh vực biến đổi khí hậu.
Cần nhiều biện pháp có hiệu
quả nhằm tranh thủ tối đa các dự án GEF để hoà nhập các mục tiêu môi trường
quốc gia với mục tiêu môi trường toàn cầu trong các lĩnh vực ưu tiên đã được
lựa chọn. Ðể thu hút được nhiều dự án từ nguồn GEF, nhà nước đầu tư phát triển
năng lực cho tổ chức GEF- Việt Nam, cơ quan điều phối quốc gia trong lĩnh vực
huy động nguồn GEF ở nước ta.
6. Kết hợp chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia với chiến lược phát triển
kinh tế xã hội
Chiến lược bảo vệ môi trường
quốc gia 2001-2010 là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
và là cơ sở để xây dựng chiến lươc bảo vệ môi trường của các ngành, vùng và
địa phương. Các chiến lược đó được thực hiện trong 2 giai đoạn 5 năm:
2001-2005 và 2006-2010.
Giai đoạn 2001-2005 tập trung
vào việc kết hợp giữa chiến lược kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tất cả
các ngành, lĩnh vực nhằm xác định khuôn khổ thích hợp để giám sát, báo cáo và
có tính trách nhiệm. Các hoạt động và kế hoạch về bảo vệ môi trường sẽ được
chuẩn bị để đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn chính
trong quá trình này là xây dựng và thực hiện kế hoạch môi trường cho các vùng
kinh tế và vùng đa dạng sinh học được ưu tiên. Các chương trình kiểm soát sự ô
nhiễm môi trường, xây dựng năng lực và nâng cao kỹ năng quản lý môi trường.
Giai đoạn 2006-2010 tập trung
thực hiện các dự án ngăn ngừa ô nhiễm môi trường. Trong giai đoạn này phải xử
lý triệt để, đóng cửa hoặc di chuyển địa điểm các cở sở sản xuất đang gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng, những cơ sở lạc hậu và không có khả năng đáp
ứng được các tiêu chuẩn môi trường; Thực hiện các dự án cải thiện môi trường
dự án nhằm khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường.
Các mục tiêu và nội dung của
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010 được kế hoạch hoá trong kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, các kế hoạch Ngành, địa phương và
theo vùng kinh tế.
Bộ Kế hoạch và Ðầu tư và Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường có trách nhiệm thiết lập nhóm công tác liên
bộ để hoà nhập các kế hoạch hành động của Chiến lược bảo vệ môi trường quốc
gia trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm và 10 năm chiến
lược phát triển kinh tế xã hội. Nhóm công tác này cần thực hiện ít nhất trong
2 năm, có nguồn ngân sách riêng cho hoạt động của nhóm, thành phần nhóm gồm
các nhà kinh tế môi trường để giúp phân tích lợi ích chi phí của các chính
sách phát triển chọn lọc.
7. Lựa chọn hành động
ưu tiên
Việc lựa chọn ưu tiên hành
động trong tổ chức thực hiện luôn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự
thành công của chiến lược. Thông thường các ưu tiên hành động được lựa chọn
theo nội dung, theo địa bàn và theo các mối quan hệ giữa chúng với thời gian.
Các chương trình hành động ưu tiên: được lựa chọn theo nội dung sau khi đã xác định các
mục tiêu ưu tiên được trình bày trong phụ lục I. Mức độ ưu tiên cao nhất được
giành cho 7 chương trình sau đây:
-
Xây
dựng và thực hiện kế hoạch chủ đạo, toàn diện phát triển công nghiệp bền
vững, bao gồm tất cả các giai đoạn sẻ dụng tài nguyên, sản xuất và quản lý
chất thải.
-
Tiếp
tục ban hành các tiêu chuẩn và quy định về bảo vệ môi trường và sử dụng bền
vững các nguồn nước mặt, các lưu vực, các đập chứa nước và nước ngầm.
-
Phát
huy các phong trào bảo vệ môi trường tại các tổ chức xã hội như thanh niên,
phụ nữ, cựu chiến binh, nông dân và các tổ chức tình nguyện khác.
-
Củng
cố hệ thống quản lý và sử dụng bền vững Tài nguyên rừng thông qua các hình
thức tham gia của cộng đồng.
Mức độ ưu tiên "trung bình"
gồm 20 chương trình.
Và mức độ ưu tiên "thấp" gồm
82 chương trình còn lại.
Các địa bàn ưu tiên: Là các khu bảo tồn, các vườn quốc gia cả trên đất liền và trên biển đã
đư công nhận hoặc đang được đề nghị Chính phủ công nhận, các cơ sở gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng, các khu vực hoặc vùng đã bị nhiễm độc hoặc đang bị ô
nhiễm trầm trọng. Các địa bàn ưu tiên này được trình bày trong phụ lục II
Ưu tiên theo thời gian:
Các chương trình hành động ưu tiên loại "cao" và "trung bình",
các hoạt động bảo tồn, phục hồi và c |