|
Ô nhiễm
môi trường nông thôn, những vấn đề cần bàn
Những năm
gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề gây bức xúc ở nhiều
nơi. Nếu như người dân đô thị chịu ô nhiễm với tình trạng tồn ứ rác thải sinh
hoạt, rác thải công nghiệp, ô nhiễm không khí do khói, bụi… thì người dân ở
vùng nông thôn, đặc biệt là những thôn bản vùng cao, dân tộc thiểu số phải đối
mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường do nhà vệ sinh, phân gia súc, gia cầm, ô
nhiễm nguồn nước…
Ô nhiễm từ
rác thải, nhà vệ sinh
Chúng ta biết rằng ô nhiễm môi trường sẽ dẫn tới nhiều bệnh tật, gây ra các
bệnh về đường hô hấp, tiêu chảy, phụ khoa... trên thực tế, nhiều năm qua các
cấp, các ngành từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã, thôn, bản đã chú trọng đến
việc triển khai công tác tuyên truyền, bảo vệ môi trường như: Vệ sinh đường
làng ngõ xóm, khơi thông cống, rãnh thoát nước, làm nhà tiêu hai ngăn hợp vệ
sinh, đầu tư xây dựng công trình nước sinh hoạt…, nhưng vấn đề này vẫn còn rất
khiêm tốn. Hầu hết những thôn vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, vấn đề ô nhiễm
môi trường hiện nay đã ở mức độ cảnh báo. Một phần do trình độ nhận thức của
người dân còn hạn chế, chưa nắm được tác hại của sự ô nhiễm môi trường, một
phần do thói quen của đồng bào. Việc sử dụng nhà tiêu một ngăn không những
luôn phải chịu đựng mùi nồng nặc, khó chịu bốc lên, trở thành những điểm "lý
tưởng" cho các loài ruồi, muỗi tụ tập, trời mưa nước chảy từ nhà trên xuống
nhà dưới gây ô nhiễm môi trường… Trao đổi về vấn đề này, đồng chí Mã Đình Lạ,
Bí thư Đảng uỷ xã Hà Hiệu (Ba Bể) cho biết: Cách đây 3-4 năm, đã có một số
chương trình, dự án đầu tư hỗ trợ tiền cho bà con xây nhà tiêu hai ngăn hợp vệ
sinh, nhưng phạm vi còn nhỏ hẹp. Những hộ có điều kiện tự đầu tư chỉ có ở vùng
thấp, còn các thôn vùng cao hầu hết là nhà tiêu một ngăn, thậm chí không có…
Đến nguồn
nước sinh hoạt
Bên cạnh đó, nhiều thôn bản chưa được Nhà nước đầu tư nguồn nước sinh hoạt,
thường chỉ sử dụng nguồn nước bắc trong khe, gánh ở sông, giếng đào… không qua
hệ thống xử lý nào. Thậm chí, một số thôn bản được Nhà nước đầu tư xây dựng
công trình nước sinh hoạt hợp vệ sinh, nhưng do ý thức trách nhiệm quản lý kém
nên hiệu quả không cao. Ví dụ như: Công trình nước sinh hoạt ở thôn Pác Nghè
II của xã Địa Linh (Ba Bể), khởi công xây dựng tại thời điểm năm 2003, vốn đầu
tư hơn 1 tỷ đồng nay đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều hộ ở đây cho biết: Mùa
khô còn đỡ, khi trời mưa xuống nước vừa đục vừa có mùi không thể sử dụng được,
nhiều hộ dù có nguồn nước này nhưng vẫn phải đi gánh nhờ nước giếng đào để sử
dụng…Một số xã như Bành Trạch, Phúc Lộc (Ba Bể), có nhiều thôn hiện nay vẫn
còn sử dụng nước sông, suối để sinh hoạt, nguồn nước thường bị ô nhiễm do chất
thải của các loài gia súc, thậm chí có khi gia súc chết trôi nổi dưới sông,
suối nhưng vẫn phải sử dụng.
Và trách
nhiệm của cấp uỷ chính quyền địa phương
Một thực trạng hiện nay, dường như cấp uỷ, chính quyền các cấp, các cơ quan
chức năng ở các địa phương nông thôn, miền núi thường chỉ tập trung vào các
vấn đề lớn như: Xoá đói giảm nghèo, hạn chế việc sinh đẻ, xây dựng cơ sở hạ
tầng đường, trường học, trạm y tế… chưa chú ý quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi
trường, vệ sinh, một việc làm rất cần thiết. Tránh ô nhiễm môi trường để chủ
động phòng bệnh, chứ không thể để phát bệnh, phát dịch rồi mới chữa chạy phòng
tránh. Mặc dù những năm gần đây, , các địa phương đưa việc bảo vệ môi trường
vào hương ước, quy ước làng bản, vệ sinh công cộng, khơi thông cống rãnh, xây
dựng chuồng trại chăn nuôi xa nhà… song vấn đề này chưa thực sự trở thành
phong trào thu hút toàn dân, tham gia. Đặc biệt, ở các thôn vùng cao, đồng bào
dân tộc Mông, Dao có vận động, tuyên truyền phát động xong chỉ bỏ đó, không
mang lại hiệu quả.
Trước tình hình bệnh tiêu chảy cấp đã và đang xảy ra trên địa bàn cả nước,
thậm chí đã xảy ra ở một số địa phương trong tỉnh như hiện nay, các địa phương,
các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng cần có sự quan tâm, đưa ra giải
pháp quyết liệt hơn nữa đến vấn đề vệ sinh, ô nhiễm môi trường ở các vùng nông
thôn, vùng núi; tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao hơn nữa nhận thức
cho đồng bào tham gia làm cho môi trường ngày càng trong sạch nhằm cải thiện,
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân./.
Tùng Vân - Báo Bắc Kạn
Về đầu trang
Xã hội hóa bảo
vệ môi trường và cung cấp nước sạch
Ngày 8-4, tại Hà
Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội nghị điển hình tiên tiến toàn
quốc về bảo vệ môi trường và cung cấp nước sạch.
Báo cáo của Bộ
Tài nguyên và Môi trường cho biết: Triển khai thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/T.Ư
(ngày 15-11-2004) của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HÐH đất nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp MTTQ Việt Nam, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nước sạch và môi trường Việt Nam phát động
phong trào xã hội hóa bảo vệ môi trường và cung cấp nước sạch cho cộng đồng.
Bước đầu tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của các tầng lớp nhân
dân. Công tác bảo vệ môi trường và cung cấp nước sạch đang từng bước xã hội
hóa. Tuy nhiên, sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của các tầng lớp
dân cư còn chậm, nhiều thói quen xấu gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng
nguồn nước sinh hoạt vẫn xảy ra ở địa bàn nông thôn và đô thị. Nhiều bộ,
ngành và địa phương trong chỉ đạo, điều hành còn nặng về mục tiêu kinh tế mà
xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường; nhất là nhiều vấn đề bức xúc về môi trường
chưa được giải quyết tại các khu công nghiệp tập trung, lưu vực sông, các làng
nghề, v.v.
Ðể công tác bảo
vệ môi trường và cung cấp nước sạch ngày một tốt hơn, từ nay đến năm 2010, cần
tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia tích cực của
cộng đồng đối với công tác bảo vệ môi trường và nước sạch, nâng cao vai trò,
trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong công tác bảo vệ môi trường và cung cấp
nước sạch; coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của
người dân trong việc bảo vệ môi trường và sử dụng nước sạch trên địa bàn...
Hội nghị trao
cúp vàng và các giải thưởng cho hơn 100 điển hình tiên tiến của cả nước về
hoạt động bảo vệ môi trường và cung cấp nước sạch thời gian qua.
(Theo Báo ND)
Về đầu trang
Toàn dân thị trấn
Sông Cầu tỉnh Phú Yên bảo vệ môi trường
Huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên vừa triển khai kế
hoạch phát động toàn dân tham gia bảo vệ môi trường đô thị thị trấn Sông Cầu (huyện
Sông Cầu).
Theo đó,toàn
dân thị trấn Sông Cầu sẽ tham gia tích cực vào công tác bảo vệ môi trường đô
thị, thực hiện nếp sống văn hóa "ăn sạch, ở sạch, uống sạch", mỗi gia đình có
đủ ba công trình vệ sinh, xây dựng hầm chứa nước thải tự thấm.
Mục tiêu đến
cuối năm nay, 100% gia đình cán bộ, công nhân viên chức, 80% hộ dân ở thị trấn
Sông Cầu đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường.
Riêng các khu
dân cư mới quy hoạch, 100% hộ gia đình, cá nhân thực hiện các quy định về bảo
vệ môi trường ngay từ khi xây dựng nhà ở...
(Theo Monre.net)
Về đầu trang
Triển khai mô hình bảo vệ môi
trường ở cộng đồng dân cư
Thực hiện chương trình toàn dân tham gia bảo vệ
môi trường của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát động, Uỷ ban MTTQ Việt Nam
thành phố Hải Phòng đã chọn khu dân cư số 2 phường Lãm Hà, quận Kiến An và khu
dân cư Đốc Hậu, xã Toàn Thắng (huyện Tiên Lãng) để xây dựng mô hình điểm tự
quản bảo vệ môi trường ở cộng đồng dân cư. Sáng 27/2, tại phường Lãm Hà,
UBMTTQ TP đã tổ chức Hội nghị triển khai xây dựng mô hình điểm này.
Triển khai mô hình tự quản bảo vệ môi trường ở
khu dân cư, UBMTTQ VN TP nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống trong cộng đồng
dân cư. Thông qua việc xây dựng mô hình điểm MTTQ VN TP sơ kết, tổng kết, đúc
rút kinh nghiệm nhằm tiếp tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng phong trào toàn dân
tham gia bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng khu dân cư văn hoá, làng văn hoá,
gia đình văn hoá. Để thực hiện thành công mô hình, MTTQ VN TP sẽ áp dụng các
biện pháp trong đó có giao cho Ban thường trực UBMTTQ cấp quận, huyện, xã,
phường xây dựng kế hoạch hướng dẫn cụ thể cho Ban công tác mặt trận ở khu dân
cư triển khai việc xây dựng mô hình điểm về việc tự quản bảo vệ môi trường,
thành lập Ban vận động ở khu dân cư có từ 5 -7 người, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền vận động các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi
trường, phát động phong trào thi đua, tiến hành triển khai thực hiện các nội
dung cam kết, định kỳ thời gian giao ban rút kinh nghiệm trong ban vận động,
kiểm tra sơ kết tổng kết đánh giá kết quả khắc phục những mặt tồn tại để việc
bảo vệ môi trường ở khu dân cư thực sự có hiệu quả./.
D.H-ĐPTHP
Về đầu trang
Hà Nội
tách các làng nghề khỏi khu dân cư
Huyện Đông Anh, Hà Nội
đang nỗ lực xây dựng cụm làng nghề sản xuất tập trung, tách khỏi khu dân cư để
phát triển sản xuất và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến
đời sống người dân.
Hiện nay ở Đông Anh đang
có nhiều làng nghề truyền thống hoạt động như: chạm khắc, đồ gỗ mỹ nghệ Vân Hà,
Liên Hà; đậu Chài, Võng La; bún Mạch Tràng, Cổ Loa; tương Việt Hùng; mây tre
đan Vân Nội, Đông Hội…, trong đó tập trung chủ yếu tại hai xã Vân Hà và Liên
Hà. Gần đây, một số nghề mới như đồ gỗ phun sơn, sản xuất thép và cơ khí, chạm
khắc đá cũng được du nhập và có chiều hướng phát triền mạnh. Tuy nhiên các hộ
gia đình chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ lẫn trong khu dân cư nên vừa gây ô nhiễm môi
trường (ô nhiễm tiếng ồn, nước, không khí…), nguy cơ cháy nổ cao, vừa không
thể phát triển được sản xuất do mặt bằng chật hẹp không thể đầu tư máy móc
hiện đại, mở rộng sản xuất; sản xuất vẫn mang tính tự phát, thiếu định hướng
phát triển lâu dài…
Ông Nguyễn Văn Hoằng, chủ
cơ sở sản xuất đồ gỗ Hoằng Lệ ở xã Vân Hà than thở về việc xưởng sản xuất của
ông nằm ngay tại nơi ở nên tiếng ồn ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của bố mẹ
già và việc học tập của con cái nhưng ông cũng không biết có thể di chuyển
xưởng sản xuất đi đâu.
Theo ông Nguyễn Văn Hiền,
Chủ tịch UBND xã Vân Hà thì Thành phố đã đồng ý cho địa phương đầu tư dự án
xây dựng hạ tầng Cụm sản xuất làng nghề tập trung trên 10 ha tại xã từ năm
2001. Việc đưa cơ sở sản xuất tách khỏi khu dân cư, tập trung vào cụm sản xuất
làng nghề sẽ tạo thuận lợi cho người dân trong việc phát triển sản xuất, đồng
thời tạo điều kiện phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch và đặc
biệt là có điều kiện xử lý môi trường. Tuy nhiên đã 7 năm trôi qua nhưng đến
nay dự án vẫn chưa được thực hiện.
Bí thư Thành ủy Hà Nội
Phạm Quang Nghị cho rằng sự chậm trễ này đã kìm hãm sự phát triển của các làng
nghề nói chung và làng nghề Vân Hà nói riêng. Một trong những nguyên nhân của
sự chậm trễ này là do thành phố chưa mạnh dạn phân cấp, cứ ngồi chờ quy hoạch.
Do đó ông Phạm Quang Nghị đã chỉ đạo UBND thành phố trong thời gian tới phải
nhanh chóng nghiên cứu, phân cấp làm quy hoạch cho các địa phương, đặc biệt là
quy hoạch các khu sản xuất tập trung tại các làng nghề để tạo tiền đề, điều
kiện phát triển các nghề truyền thống và phát triển một cách bền vững, đúng
định hướng.
Làng nghề Vân Hà có nghề
chạm khắc gỗ truyền thống từ hơn 200 năm nay. Đây là lợi thế, tiềm năng, thế
mạnh của người dân. Sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ của Vân Hà không những được tiêu
thụ mạnh trong nước mà còn xuất khẩu ra một số thị trường nước ngoài, tạo sự
chuyển dịch cơ cấu sản xuất mạnh mẽ tại địa phương, thúc đẩy kinh tế phát
triển. Trên địa bàn xã hiện có 31 doanh nghiệp, 1 HTX tiểu thủ công nghiệp và
trên 900 hộ (chiếm 80% số dân) làm nghề chế biến gỗ, sản xuất đồ gỗ dân dụng,
mỹ nghệ thủ công truyền thông. Thu nhập bình quân của lao động chính khoảng
1.500.000 đồng/tháng, lao động phụ khoảng 500.000 đến 700.000đồng/tháng, tỷ lệ
hộ nghèo của xã chỉ có khoảng 1%.
( Thanh Bình-Báo TNMT)
Về đầu trang
Thấy được lợi ích,
cộng đồng sẽ cùng bảo vệ môi trường
Bảo vệ rừng mà chỉ có kiểm lâm không thôi thì
không có hiệu quả. Chỉ khi huy động được cộng đồng, mà nhất là người dân cùng
thấy được lợi ích của mình thì mới có thể bảo vệ môi trường được...
Trên đây là ý
kiến của giới khoa học tại Hội thảo Kết nối các sáng kiến cộng đồng trong bảo
vệ môi trường (BVMT) tổ chức tại Hà Nội hồi gần đây.
Các ý kiến
tại Hội thảo đều thống nhất, BVMT không phải của riêng ai, không chỉ dừng ở
việc ban hành pháp luật của Nhà nước mà còn cần phải được thực hiện từ dưới
lên, từ chính những người dân.
Theo GS Hồ Uy
Liêm (Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam) phát biểu tại Hội thảo,
việc BVMT phải có lợi cho dân, phải gắn liền với sinh kế của dân thì dân mới
bảo vệ. Nhà nước tạo ra đầy đủ luật lệ nhưng nếu không có người dân tham gia
thì việc BVMT không... ăn thua!
Điều này cũng
ví như rừng chỉ có kiểm lâm bảo vệ không thôi thì chưa thật hiệu quả mà còn
cần phải có sự tham gia của cộng đồng.
Tuy nhiên,
cộng đồng ở đây không chỉ là người dân mà cả tầng lớp ’’quan’’ - những người
nghĩ ra cách sáng tạo ra của cải nhưng ít khi chú trọng đến việc sau đó là bảo
vệ môi trường. Thực tế cho thấy, nhiều quan chức chưa hiểu sâu sắc, thậm chí
còn hiểu lơ mơ về công tác BVMT.
Chuyên gia
hàng đầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Việt Nam, GS Võ Quý cho rằng, hiện
chưa có được những biện pháp hữu hiệu để giảm sức ép lên tài nguyên. Xung
quanh rừng có nhiều người sinh sống, phụ thuộc vào rừng, đa số nghèo đói,
thường xuyên xâm nhập vào rừng kể cả các khu bảo tồn để khai thác trộm tài
nguyên nhưng không kiểm soát được.
Nếu người dân
sinh sống trong rừng hay quanh rừng mà không được chia sẻ quyền lợi, không
được nâng cao cuộc sống, không hiểu biết về tầm quan trọng của rừng, không
chia sẻ trách nhiệm chăm sóc bảo vệ rừng thì sức ép của dân lên rừng càng gay
gắt, dẫn đến sự thất bại về bảo tồn.
Theo GS Quý,
kinh nghiệm thực hiện các dự án liên quan đến môi trường cho thấy mức độ tham
gia của cộng đồng tỷ lệ thuận với kết quả thu được. Nhân dân địa phương có
quyền xác định vấn đề của họ, tham gia trực tiếp vào công việc thực thi dự án
và được hưởng lợi từ dự án. Để đạt được kết quả mong muốn, các dự án phải được
thực hiện cùng với dân, chứ không phải ban phát cho dân.
Đại diện Tổ
chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), ông Bernard O’callaghan cũng đưa
ra ý kiến, Việt Nam với hơn 3.200km bờ biển, một nửa đất nước có đồng bằng
châu thổ cao nhất thế giới, trong khi đó, dự báo trong vòng 100 năm nước biển
sẽ dâng thêm 80cm và hải lưu sẽ làm thay đổi cuộc sống của hàng triệu người
dân Việt Nam đang sống dựa vào biển.
Vì vậy, theo
ông Bernard O’callaghan, việc nâng cao nhận thức cộng đồng giúp người dân hiểu
được tác động, thích nghi và ứng phó với tác động đó (biến đổi khí hậu), phải
được thực hiện ngay từ cấp địa phương.
(Theo VNN)
Về đầu trang
Sớm đưa bảo vệ môi
trường thành một ngành kinh tế
Ngày nay, quan điểm bảo vệ môi trường với vai trò
của một ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân bắt đầu được các quốc gia
nhìn nhận, đánh giá một cách đúng đắn hơn.
Bảo vệ môi
trường đã trở thành một công cụ kinh tế quan trọng để điều tiết nền kinh tế,
kích thích các hoạt động sản xuất, thương mại, đảm bảo sự công bằng xã hội
thông qua việc hài hòa lợi ích của không chỉ giữa các nhóm người trong xã hội
mà còn giữa thế hệ hiện tại với thế hệ mai sau.
Ở nước ta,
quan điểm coi bảo vệ môi trường như một ngành kinh tế được Đảng và Nhà nước
khẳng định tại Nghị quyết 41-NQQ/TW Bộ Chính trị, Chiến lược bảo vệ môi trường...
Nhờ đó bảo vệ môi trường đang trở thành chính sách kinh tế điều tiết hoạt động
phát triển.
Đánh giá tác
động môi trường (ĐTM), một công cụ trong phòng ngừa ô nhiễm và quản lý môi
trường đã được sử dụng đúng với ý nghĩa, vai trò quan trọng của nó. Giờ đây,
không chỉ có các dự án đầu tư buộc phải lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường mà các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển cũng sẽ phải tiến
hành đánh giá môi trường chiến lược, coi đây là điều kiện tiên quyết để phê
duyệt và tổ chức thực hiện.
Công tác kiểm
tra, thanh tra, đặc biệt là kiểm tra sau ĐTM đã được triển khai một cách mạnh
mẽ từ Trung ương đến địa phương. Trong năm 2007, đã có 311 cơ sở, trong đó có
49/140 cơ sở sản xuất hóa chất, 6 khu tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật và 2 khu
vực ô nhiễm xăng dầu do chiến tranh, 80 cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ,
các khu công nghiệp đang hoạt động trên lưu vực sông Thị Vải, 143 cơ sở sản
xuất kinh doanh dọc lưu vực sông Nhuệ Đáy, 35 cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng được Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các địa phương kiểm
tra, thanh tra. Các cơ sở vi phạm đã bị phát hiện và xử lý một cách kịp thời.
Việc khoanh
vùng các khu vực bị ô nhiễm, xác định nguyên nhân và đề xuất biện pháp cũng đã
được triển khai một cách đồng bộ. Các điểm nóng, bức xúc về môi trường đã được
đánh giá và xác định rõ nguyên nhân, trên cơ sở đó báo cáo kịp thời với Thủ
tướng Chính phủ về tình hình thực tế cùng với các đề xuất giải pháp xử lý. Cụ
thể như vấn đề ô nhiễm môi trường tại làng Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú
Thọ; thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; làng Ứng Hòa,
tỉnh Hà Tây, xóm 1, 2 xã Nghĩa Trung, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An...
Một số hành
vi lợi dụng những kẽ hở của pháp luật để nhập khẩu phế liệu, tàu cũ và chất
thải bất hợp pháp vào Việt Nam cũng đã được xử lý nghiêm, trong đó đã buộc tái
xuất trên 50 lô hàng ắc quy chì phế thải, các lô hàng thiết bị văn phòng đã
qua sử dụng tồn đọng.
Năm 2008,
ngành tài nguyên và môi trường tiếp tục xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức
bộ máy quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương;
hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi
trường; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, coi đây là trọng tâm ưu tiên
hàng đầu tạo chuyển biến thực sự về nhận thức trách nhiệm và đạo đức đối với
môi trường.
Công tác công
bố thông tin môi trường sẽ được đẩy mạnh nhằm tạo áp lực của cộng đồng đối
với các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời, sẽ tiếp tục có các hoạt
động đánh giá chính xác về chất lượng môi trường, các vấn đề môi trường bức
xúc phục vụ cho công tác hoạch định chính sách về bảo vệ môi trường cũng như
các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội.
Để thực hiện
các yêu cầu nói trên, Cục Bảo vệ môi trường đã đề ra các giải pháp cụ thể như:
xây dựng một đội ngũ cán bộ có tính chuyên nghiệp cao; mở rộng và phát huy các
mối quan hệ hợp tác hiệu quả với các lĩnh vực khác trong Bộ như vấn đề bảo vệ
môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; bảo vệ môi trường và chất
lượng tài nguyên nước; lồng ghép môi trường trong các quy hoạch sử dụng đất
đai; phát triển hệ thống thông tin địa lý về môi trường...; tiếp tục tranh thủ
sự hỗ trợ hợp tác quốc tế; phát huy sự phối hợp với các tổ chức tổ chức chính
trị - xã hội, đoàn thể. Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên,
chắc chắn rằng công tác bảo vệ môi trường nước ta sẽ có những chuyển biến tích
cực, thực sự trở thành trụ cột trong phát triển bền vững.
(Theo Báo Lao động)
Về đầu trang
Nha Trang còn nhiều
cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường
Theo kết quả giám sát mới đây của HĐND tỉnh Khánh
Hoà, hiện nay ở thành phố Nha Trang, nổi cộm về tình trạng ô nhiễm môi trường
bởi nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản và giết mổ gia súc gây ra.
Trong đó, 48 cơ sở giết mổ gia súc hoạt động ngay
trong các khu dân cư, đặc biệt là 12 cơ sở thuộc phường Phước Hải.
Tình trạng ô
nhiễm quá mức khiến nhiều người dân phản ứng gay gắt, gửi đơn thư kiến nghị
đến các cơ quan chức năng phản ánh một số cơ sở gây ô nhiễm như: Công ty TNHH
thuỷ sản Hồng Phát, 12 cơ sở giết mổ lợn ở phường Phước Hải, 11 cơ sở chăn
nuôi lợn ở phường Vĩnh Hoà...
Mặc dù từ năm
1999, tỉnh Khánh Hoà đã có kế hoạch xây dựng cho thành phố Nha Trang một khu
giết mổ gia súc tập trung, nhưng đến thời điểm này dự án vẫn chưa triển khai
được do không tìm được mặt bằng và địa điểm thích hợp.
Đồng thời, Dự
án cơ sở hạ tầng khu dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc Hòn Ông tại xã Phước Đồng có
tổng mức đầu tư 166 tỷ đồng, được UBND tỉnh Khánh Hoà phê duyệt từ năm 2001,
nhằm di dời các cơ sở chế biến thuỷ sản gây ô nhiễm trong nội thị về đây,
nhưng tiến độ thực hiện quá chậm, hiện chỉ mới đầu tư 15 tỷ đồng cho công tác
giải phòng mặt bằng và sản ủi, xây dựng bước đầu.
Bên cạnh đó,
Nha Trang hiện còn 3 cơ sở sản xuất công nghiệp, kinh doanh được xác định
thuộc loại gây ô nhiễm nghiêm trọng, phải được xử lý dứt điểm (di dời) trong
giai đoạn 2003- 2005 theo Quyết định 64/ 2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
bao gồm: nhà máy điện Chụt, Bãi kinh doanh than Bình Tân và Bãi rác thải phía
bắc thành phố. Nhưng cho đến nay, vì các lý do, số cơ sở này vẫn hoạt động và
tiếp tục gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường thành phố.
Theo đánh giá
của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hoà: Nha Trang hiện có trên 4.000 cơ sở sản
xuất được cấp phép kinh doanh, trong đó có nhiều cơ sở được hình thành từ khá
lâu, khi đó dân cư còn thưa thớt. Nay với tốc độ phát triển đô thị khá nhanh,
nên nhiều cơ sở sản xuất nghiễm nhiên tồn tại giữa các khu dân cư đông đúc, ô
nhiễm môi trường đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân thành phố.
X.V (Theo TTXVN)
Về đầu trang
Những mô hình chăn nuôi không
gây ô nhiễm
Hợp tác xã
chăn nuôi Xuân Phú (xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc), đơn vị điển hình về tận dụng
chất thải, được xây dựng trên diện tích 2,5 ha với năm dãy chuồng gồm một
chuồng nái khô, ba chuồng nái đẻ, một chuồng cách ly, một hồ nuôi cá và một hồ
nuôi cá sấu. Anh Võ Ngọc Anh, Trưởng ban kiểm soát, cho biết, hợp tác xã nuôi
thường xuyên 780 con lợn nái, chất thải gồm có chất thải lỏng, chất thải đặc,
thức ăn gia súc còn sót lại trong máng ăn... Lượng chất thải đủ nuôi 150 con
cá sấu, vài tấn cá, ga đun nấu phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong trại. Chúng
tôi đến cửa xả chất thải, nơi được coi là mất vệ sinh nhất, nhưng không phát
hiện được "mùi đặc trưng" của lợn, bởi chất thải đã được xử lý một bước tại
nguồn: nước thải lỏng thoát thẳng xuống cống thông qua những lỗ thông trên
mặt sàn chuồng, chất thải đặc được thu gom nhằm hạn chế tối đa việc chất thải
chảy tràn hoặc bị giẫm đạp trên mặt sàn chuồng, thức ăn còn sót lại trong máng
ăn được thu hồi lại, sau đó mới xả nước phun xịt vệ sinh chuồng. Do được xử lý
bước đầu nên nước thải từ các trại đổ về cửa xả rất ít cặn và không nặng mùi.
Mặc dù vậy nước thải vẫn tiếp tục được xử lý qua hầm ủ bi-ô-ga ba ngăn, và qua
tiếp ba hầm lắng, cuối cùng vào hai hầm nuôi cá sấu và nuôi cá. Trưởng ban
Kiểm soát Ngọc Anh khẳng định: Lợi ích lớn nhất là môi trường không bị ô nhiễm.
Nếu tính hiệu quả kinh tế tổng cộng cũng đạt gần 200 triệu đồng/năm.
Trên đường
đến trang trại Thu Trúc ở ấp Nhơn Hòa (xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom) từ xa đã
nghe tiếng máy phát điện nổ giòn. Chị Huỳnh Thị Lệ Thu, chủ trang trại, cho
biết, ga từ hầm ủ bi-ô-ga quá lớn, sử dụng để đun nấu không hết, nên trang
trại đầu tư máy phát điện để tận dụng ga vận hành máy. Hiện tại, điện máy phát
đủ phục vụ sản xuất và sinh hoạt tại trại, từ xay trộn cám, bơm nước, nấu nước,
thắp sáng, úm lợn con... trang trại cũng sẽ có sản phẩm mới là nuôi ba ba bằng
chất thải từ lợn. Trang trại Thu Trúc được xây dựng trên diện tích 1,3 ha,
trong đó có 0,7 ha đất dành để trồng cỏ, nuôi thường xuyên 100 lợn nái, 600
lợn thịt, 30 bò sinh sản. Toàn bộ chất thải của trại được xử lý và tận dụng
theo quy trình khép kín gồm chất thải đặc của lợn cung cấp cho một đơn vị sản
xuất phân vi sinh, nước rửa chuồng vào hầm ủ bi-ô-ga, ga chạy máy phát điện
phục vụ sản xuất và sinh hoạt, nước thải từ hầm bi-ô-ga dùng để tưới cỏ nuôi
bò; chất thải đặc của bò dùng để nuôi trùn quế, chất thải lỏng vào hầm ủ, trùn
quế và phân trùn bán cho cơ sở sản xuất phân vi sinh. Theo chị Lệ Thu, lợi ích
kinh tế thu được từ việc tận dụng và xử lý chất thải chăn nuôi không nhỏ chút
nào. Chỉ tính riêng năm vừa qua, số tiền thu được từ việc tận dụng chất thải
đã lên đến khoảng 180 triệu đồng, chưa kể tiền điện nếu dùng điện lưới quốc
gia. Cụ thể thu được từ nuôi trùn quế 90 triệu đồng, nuôi cá sấu 25 triệu đồng,
bán phân tươi 65 triệu đồng, thật sự góp phần đáng kể vào việc nâng hiệu quả
chăn nuôi. Nhưng lợi ích lớn nhất chính là không gây ô nhiễm môi trường.
(Nguồn: Nhân
Dân)
Về đầu trang
Các chương trình liên tịch
bảo vệ môi trường: Đoàn kết cùng quản lý, giữ gìn và bảo vệ môi trường
Nhiều hoạt
động thiết thực bảo vệ môi trường
Trong năm
2007, các đơn vị tham gia ký kết các chương trình liên tịch đã triển khai
nhiều kế hoạch, hoạt động phong phú, thiết thực trong công tác quản lý và bảo
vệ môi trường. Trong đó, UBMT Tổ quốc TP. HCM thường xuyên tổ chức phát động,
khảo sát, kiểm tra các phong trào về bảo vệ môi trường. Tổ chức điều tra, khảo
sát và tiến hành xây dựng các tuyến đường kiểu mẫu xanh - sạch - đẹp. Triển
khai mô hình điểm về phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường" tại 5
khu phố và 6 phường. Đồng thời, MTTQ các địa phương thường xuyên vận động, tổ
chức nhân dân làm vệ sinh đường phố, không xả rác bừa bãi, thu gom, xử lý rác,
khai thông cống rãnh, tổ chức trồng cây xanh. Thành đoàn TP. Hồ Chí Minh đã tổ
chức được 5 ngày Chủ nhật xanh; triển khai Chương trình thanh niên với hoạt
động tái chế chất thải; tiếp tục thực hiện 10 khu phố xanh - sạch - đẹp; tổ
chức sân khấu tương tác giữa chiến sỹ Mùa hè xanh và người dân. Hội Liên hiệp
Phụ nữ thành phố đã tập huấn cho chủ nhiệm 330 CLB Phụ nữ tham gia BVMT và lực
lượng tuyên truyền viên nòng cốt; tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả tuyên
truyền "Vì đường phố không rác"; tổ chức Hội thi "Phụ nữ và môi trường";
Chương trình hỗ trợ vốn xây nhà vệ sinh và hầm biogas; đẩy mạnh hoạt động tái
chế chất thải. Cho 343 hộ vay 514 triệu xây NVS tự hoại và 115 hộ vay 750
triệu xây hầm Biogas. Hỗ trợ 40.000 thùng rác cho Quận 5, 40.600 thùng rác cho
Quận 6 và 1000 thùng rác cho hộ gia đình nghèo tại nhiều địa phương khác. Liên
đoàn Lao động thành phố đã tổ chức thành công Hội thi Môi trường TP.HCM cho
các doanh nghiệp; duy trì mô hình thí điểm CLB "Doanh nghiệp tham gia BVMT";
tập huấn mô hình hợp tác xã thu gom rác sinh hoạt cho lực lượng rác dân lập;
phát động phong trào BVMT trong các công đoàn cơ sở nhân ngày Môi trường thế
giới. Hội Nông dân và Sở NN&PTNT đã tổ chức nhiều buổi mít-tinh và các hội thi
nhân Tuần lễ an toàn vệ sinh lao động phòng chống cháy nổ; triển khai cuộc vận
động trồng cây xanh và Hội thi Môi trường Xanh Sạch Đẹp; tổ chức Lễ phát động
trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ; các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia nước
sạch vệ sinh môi trường. Triển khai "Chương trình nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn", "Chương trình cải thiện chất lượng nguồn nước mặt và nước
ngầm"…
Đối với 24
quận huyện trên địa bàn thành phố, công tác phối hợp thực hiện cũng thu được
nhiều kết quả quan trọng: Triển khai nhiều hoạt động đa dạng đến mọi tầng lớp
nhân dân nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Phối hợp với chính quyền
trong việc cung cấp thông tin, khiếu nại phản ánh đúng sự thật, giúp chính
quyền có biện pháp xử lý kịp thời (Quận 6, Quận 7). Giải quyết các vấn đề bức
xúc về vệ sinh môi trường tại địa phương (Quận 5, Quận 7).
Ông Nguyễn
Văn Phước - Phó Giám đốc Sở TN&MT nhận xét: Các chương trình liên tịch bảo vệ
môi trường được triển khai ngày càng phong phú, rộng khắp, thiết thực... Từ đó,
môi trường thành phố luôn được kiểm soát, ý thức tham gia bảo vệ môi trường,
giữ gìn vệ sinh của người dân ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, bên cạnh đạt
được nhiều kết quả quan trọng, các chương trình liên tịch vẫn còn tồn tại
nhiều hạn chế. Đó chính là ở nhiều nơi, chính quyền và đoàn thể chưa phối hợp
thường xuyên; một số đơn vị chưa thật sự quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường.
Đặc biệt, công tác bảo vệ môi trường còn thực hiện theo phong trào, chỉ thật
sự hiệu quả vào những đợt ra quân cao điểm.
Năm 2008:
Năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị
Năm 2008,
thành phố sẽ bổ sung nội dung BVMT vào kế hoạch "Năm thực hiện nếp sống văn
minh đô thị", Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu
dân cư" và Kế hoạch "Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia". Qua đó, MTTQ tiếp
tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia giữ gìn vệ sinh môi
trường. Tổ chức đoàn khảo sát tình hình BVMT ở một số phường/xã.Tiếp tục duy
trì và nhân rộng phong trào "Toàn dân tham gia BVMT". Lồng ghép các hoạt động
về môi trường trong đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới tại ấp Chánh,
xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi. Tổ chức chiến dịch truyền thông về BVMT trong
sản xuất nông nghiệp… Năm 2008, Hội Cựu chiến binh thành phố sẽ thành lập câu
lạc bộ "Cựu chiến binh tham gia BVMT". Tập huấn cho lực lượng tuyên truyền
viên. Chương trình Cựu chiến binh tham gia tuyên truyền và kiểm tra, giám sát
tình hình thực hiện phong trào "Vì đường phố không rác". Vận động cựu chiến
binh tham gia các hoạt động BVMT tại địa phương. Liên hiệp Các Hội khoa học kỹ
thuật sẽ phối hợp tổ chức Hội thảo chuyên đề "Điều tra, khảo sát xây dựng quy
hoạch phát triển cây xanh TP.HCM". Đặc biệt, Hội sẽ vận động các nhà khoa học
tham gia BVMT: góp ý cho các dự thảo quy định pháp luật; tham gia hội đồng
thẩm định, phản biện các dự án; nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khoa học
và kỹ thuật.
Ông Nguyễn
Văn Phước - Phó Giám đốc Sở TN&MT TP.HCM cho biết: Năm 2008, phải tiếp tục xác
định nhiệm vụ bảo vệ môi trường là công việc chung của tất cả các ngành, các
cấp và toàn thể nhân dân. Đồng thời, công tác bảo vệ môi trường phải được thực
hiện xuyên suốt, phải luôn là tiềm thức của mỗi người dân.
(Nguồn: Bộ
TNMT)
Về đầu trang
Bế tắc trong kiểm soát và xử
lý ô nhiễm môi trường
Để bảo vệ
môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường đã thành lập “Quỹ bảo vệ môi trường” (để
hỗ trợ doanh nghiệp có nguồn vốn ưu đãi cho việc xử lý ô nhiễm), thu phí bảo
vệ môi trường với nước thải, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia
bảo vệ môi trường và triển khai hai dự án hợp tác quốc tế do Hà Lan và Thụy
Điển tài trợ. Thế nhưng, ô nhiễm môi trường vẫn đang trở nên nghiêm trọng,
trong đó, đáng chú ý nhất là môi trường nước. Nước biển ven bờ, nước mặt, nước
ngầm đều ô nhiễm vượt quá mức cho phép. Kết quả quan trắc hiện trạng môi
trường trên địa bàn tỉnh cho thấy, nước biển ven bờ các khu vực Lộc An, Phước
Tỉnh, Bãi Sau, Bãi Trước… có thời điểm bị ô nhiễm vi sinh vượt quá mức cho
phép. Môi trường tại các con sông chính của tỉnh như sông Thị Vải, sông Dinh
và sông Băng Chua đều bị ô nhiễm nặng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và dầu mỡ;
trong đó, sông Thị Vải bị ô nhiễm nặng nhất. Còn nước ngầm tại các điểm quan
trắc đều bị acid hóa nhẹ và bị ô nhiễm vi sinh vượt mức cho phép.
“Gây nên
hiện tượng ô nhiễm đó là do việc kiểm soát và xử lý ô nhiễm đang bị bế tắc”-
ông Nguyễn Boa, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết. Theo đó,
môi trường nước, đặc biệt là lưu vực sông, đang phải hứng chịu nhiều nguồn ô
nhiễm từ ngành thủy sản, nước thải từ khu công nghiệp, nước thải đô thị, từ
hoạt động thăm dò khai thác dầu khí… Trong lĩnh vực thủy sản, phần lớn các nhà
máy chế biến đều có công nghệ lạc hậu, chủ yếu thực hiện khâu sơ chế và không
có hệ thống xử lý nước thải nên nước thải vượt tiêu chuẩn nhiều lần so với mức
cho phép. Trong 6 khu công nghiệp đã hoạt động chỉ có một khu công nghiệp có
hệ thống xử lý nước thải tạm thời (khu công nghiệp Mỹ Xuân A) còn 4 khu công
nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Vì vậy, nước thải từ
khu công nghiệp đang gây áp lực rất lớn đối với môi trường, nhất là lưu vực
sông phải tiếp nhận nước thải. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường, hoạt động
kinh tế biển rất sôi động bởi hoạt động thăm dò - khai thác dầu khí, vận tải
biển và đánh bắt hải sản. Các ngành kinh tế này đã gây tác động đến môi trường,
ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển do sự cố tràn dầu, chất thải chứa dầu, chất
thải nguy hại… trong khi việc kiểm soát ô nhiễm trên biển đang là một thách
thức lớn và nằm ngoài tầm kiểm soát của tỉnh vì tỉnh chưa đủ khả năng để thực
hiện nhiệm vụ này. Cụ thể ngành chức năng của Bà Rịa-Vũng Tàu chưa có khả năng
phát hiện các vết dầu loang trên biển và đối tượng gây ra sự cố ô nhiễm. Trong
khi đó, Trung tâm ứng cứu tràn dầu phía Nam thuộc Tập đoàn Dầu khí (đặt tại TP.
Hồ Chí Minh) cũng đang yếu về năng lực ứng cứu và ở xa khu vực biển Vũng Tàu
nên việc ứng cứu sự cố tràn dầu còn đạt hiệu quả thấp…
“Đầu tư
cho việc bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững. Thời gian tới,
Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ tập trung triển khai nhiều biện pháp để khắc phục tình
trạng gây ô nhiễm”- ông Nguyễn Boa khẳng định. Theo đó, năm 2008 là hạn cuối
cùng của các Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, phải xây dựng hệ thống xử lý
nước thải tập trung. Các khu công nghiệp mới phải đầu tư hoàn chỉnh hạng mục
về bảo vệ môi trường khi đi vào vận hành, nếu khu công nghiệp nào không thực
hiện sẽ cương quyết không cấp phép đầu tư. Mặt khác, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
cũng đã hợp tác với các địa phương trong khu vực sông Đồng Nai bảo vệ nguồn
nước cho hệ thống sông ở khu vực này.
(Nguồn: BRVT)
Về đầu trang
Hà Tây: Giải quyết ô nhiễm
môi trường phải từ gốc
Những năm gần
đây với nhiều cơ chế thông thoáng thu hút đầu tư, nhờ vậy bộ mặt nông thôn của
Hà Tây ngày càng đổi mới, chất lượng cuộc sống của nhân dân được cải thiện rõ
nét. Nhưng mặt trái của sự phát triển đó là sự ô nhiễm môi trường, tác động
đến sức khỏe của nhân dân, đó là “nước đổi màu” về mùa khô ở các dòng sông Đáy,
sông Nhuệ…
Nhớ lại cách
đây hơn chục năm trên dòng sông Đáy, sông Nhuệ dù mùa hè hay mùa đông nguồn
nước vẫn trong xanh, thanh thiếu niên các làng xã ven sông thường rủ nhau ra
sông tập bơi, tắm táp, gánh nước về dùng…
Những người lái
thuyền bồng bềnh trên sông câu cá thật thú vị; từ thi vị của dòng sông mà đã
có một số đồng chí lãnh đạo của ngành chức năng có ý tưởng xây dựng tour du
lịch trên sông Nhuệ. Ấy vậy mà chỉ vài năm lại đây dòng sông đã trở nên ô
nhiễm nghiêm trọng.
Trên địa bàn Hà
Tây dọc 2 bên ven bờ sông Đáy, sông Nhuệ có hàng trăm nhà máy, làng nghề đang
hoạt động, theo đó là nguồn nước thải công nghiệp, làng nghề, nước thải sinh
hoạt đều đổ vào dòng sông, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước và thẩm thấu
nguồn nước ngầm, ảnh hưởng tới sức khỏe và sản xuất của nhân dân thuộc lưu vực
sông này. Qua kết quả xét nghiệm của cơ quan thẩm quyền, nhiều mẫu nước sông
có chỉ tiêu hóa, lý và vi khuẩn độc hại đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép rất
cao. Chỉ tính hơn 40 cây số chiều dài sông Đáy trên địa bàn tỉnh đã có hơn 50
làng nghề thủ công đang gây ô nhiễm; chủ yếu các làng nghề chế biến nông, lâm
sản, kim khí, dệt nhuộm lụa, vải, dệt nhuộm thảm.
Những năm gần
đây cứ vào cuối mùa thu gió heo may lành lạnh, khí hậu chuyển khô hanh, ít mưa
đã làm cho nguồn nước của hầu hết các dòng sông cạn dần. Trên địa bàn Hà Tây
nhiều đoạn cuối nguồn sông Nhuệ thuộc địa bàn một số xã Cự Khê, Mỹ Hưng…(Thanh
Oai), Tân Dân, Chuyên Mỹ… (Phú Xuyên), nhánh sông Vân Đình (Ứng Hòa) và từ
giữa đến hạ nguồn dòng sông Đáy nguồn nước cạn kiệt, ai đi qua các dòng sông
trên đều nhìn thấy dòng nước có màu xanh đen, có đoạn nước như đặc sệt, bốc
mùi hôi thối, đến con tôm, con cá dưới sông cũng khó sống được dưới dòng sông
ô nhiễm.
Nguồn ô nhiễm
chủ yếu là từ các nhà máy, DN làng nghề có nhiều nước thải độc hại như chất
tẩy, nhuộm của làng dệt lụa Vạn Phúc, nhà máy len nhuộm Hà Đông, Công ty sơn,
nhà máy cơ khí…chiếm tới 2/3 tổng số DN và 100% số hộ sản xuất tại các làng
nghề đều đổ nước ra cống rãnh, kênh mương, nguồn chất thải, hóa chất không qua
xử lý đã chảy ra sông. Theo kết quả phân tích mẫu nước sông Đáy của cơ quan
chức năng, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, các mẫu nước hầu hết đều có
thành phần hóa học thuộc các nhóm Nitơ, ô xy hóa học, nhóm nguyên tố vi lượng
vượt gấp 2-3 lần tiêu chuẩn cho phép.
Ô nhiễm nghiêm
trọng nhất là khu vực làng nghề cơ khí. Kết quả xét nghiệm ở đây cho thấy,
BOD5 tạp chất và vi khuẩn là 186 mg/lít nước, vượt quá tiêu chuẩn cho phép hơn
7 lần; COD là 611mg/lít, (vượt 6 lần); hàm lượng chất rắn lơ lửng là 96mg/lít…Tại
các làng nghề chế biến nông sản như Cộng Hoà, Tân Hòa (Quốc Oai), Dương Liễu,
Minh Khai (Hoài Đức) chuyên sản xuất chế biến tinh bột làm miến từ dong riềng;
chế biến tinh bột từ sắn để sản xuất nha, chế biến bánh phở, bún, mì sợi khô...
mỗi làng thải ra môi trường từ 300-500 m3 nước thải/ngày và hàng chục tấn bã
thải, chưa kể một lượng rất lớn chất thải từ chăn nuôi.
Đi tới đầu các
làng có chế biến nông sản hẳn ai cũng ngửi thấy mùi đặc biệt rất khó chịu.
Dưới các con mương thì có màu nước đen xì, mùi hôi nồng nặc, lượng vi khuẩn
gây bệnh trong nước nhiều, điển hình vi khuẩn coli gây bệnh tiêu chảy vượt quá
tiêu chuẩn cho phép từ 5-10 lần. Tại các khu vực làng nghề xã Cộng Hòa, Minh
khai hàm lượng cyanua đo được là 1,84mg/lít, vượt tiêu chuẩn cho phép 37 lần.
Các nguồn nước thải làng nghề này đã thẩm thấu vào mạch nước ngầm gây ô nhiễm
nguồn nước sinh hoạt nông thôn; chảy ra ruộng làm hỏng lúa (lốp lá) và chảy
vào ao hồ làm chết cá tôm. Đặc biệt nhóm nguyên tố vi lượng sắt, đồng, thuỷ
ngân vượt giới hạn cho phép có ở nhiều đoạn sông, từ huyện Đan Phượng đến Mỹ
Đức.
Thực tế cho
thấy, từ năm 2000 lại đây, các làng nghề truyền thống ngày càng phát triển với
tốc độ quy mô lớn, nhưng việc đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường thì chưa được
quan tâm, mọi chất thải từ dầu mỡ, hoá chất, chất tẩy rửa, nhuộm hấp tất tật
được đổ ra cống rãnh, kênh mương, cuối cùng là chảy ra sông. Điều đáng nói là
từ 2003 lại đây tốc độ chuyển đổi cơ cấu sản xuất và phát triển công nghiệp
nhanh, nhiều dự án xây dựng đưa trình duyệt xin thuê đất đầu tư thì có công
nghệ xử lý môi trường, nhưng thực tế khi xây dựng để đi vào sản xuất thì phần
vốn đầu tư xử lý chất thải, nước thải lại để làm sau.
Hiện có hàng
trăm làng nghề và DN, bệnh viện nằm gần các dòng sông Nhuệ, sông Đáy, sông Vân
Đình đang làm cho các dòng sông phải gánh chịu hậu quả ô nhiễm. Bức xúc trước
tình trạng ô nhiễm của một số nhà máy, DN, cơ quan chức năng đã phải xử lý
bằng cách phạt hàng trăm triệu đồng; nhưng tai hại là không buộc ngừng sản
xuất nên sau khi nộp phạt DN vẫn tiếp tục xả nước thải xuống dòng sông.
Trước tình
trạng báo động ô nhiễm môi trường hiện nay, Nhà nước đã thành lập lực lượng
cảnh sát môi trường; để tăng cường bảo vệ môi trường; nhiều địa phương đã ban
hành quy chế bảo vệ môi trường, kèm theo mức xử lý phạt hành chính. Một thực
tế chúng ta đang gánh chịu hậu quả của sự ô nhiễm môi trường nguồn nước mặt,
nước ngầm làm cho hệ thống giếng khoan, giếng làng trên nhiều địa bàn tỉnh ô
nhiễm nghiêm trọng, đang gây cho hàng trăm ca mắc tiêu chảy cấp, do ăn uống
không đảm bảo vệ sinh. Đã đến lúc mọi người, mọi cấp, mọi ngành cần tự giác
nâng cao trách nhiệm, vào cuộc đấu tranh với tác nhân gây ô nhiễm, bảo vệ môi
trường sống, bảo vệ sức khỏe cho chính mỗi chúng ta.
(Theo báo điện tử TNMT)
Về đầu trang
Phát động bảo vệ môi trường vào Ngày môi trường thế giới
Bộ Tài nguyên và Môi
trường (TN&MT) vừa thông báo và đề nghị các bộ ngành, đoàn thể và địa phương
phối hợp với ngành TN&MT tổ chức lễ phát động và các hoạt động thiết thực bảo
vệ môi trường vào Ngày môi trường thế giới 5/6.
Đồng thời, mở chiến dịch
truyền thông nhằm cung cấp kiến thức, hiểu biết về các vấn đề môi trường liên
quan đến chủ đề của Ngày môi trường thế giới năm nay.
Tuyên truyền vận động nhân
dân thực hiện có kết quả chương trình quốc gia về phủ xanh đất trống, đồi núi
trọc; phòng ngừa, ngăn chặn nạn đốt phá rừng, phục hồi nhanh chóng hệ sinh
thái rừng ngập mặn đã bị tàn phá nặng nề; tăng cường tiết kiệm năng lượng, hạn
chế việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch như than, dầu mỏ khí đốt.
Phát động phong trào bảo
vệ rừng; trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh tại công sở, cơ quan, doanh nghiệp,
trường học, các đơn vị lực lượng vũ trang, đến các hộ gia đình nhằm huy động
mọi tầng lớp nhân dân tham gia; bảo vệ môi trường không khí, giảm phát thải
khí nhà kính; sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời,
năng lượng gió, năng lượng sinh khối...
Bộ TN&MT cũng đề nghị các
bộ ngành, đoàn thể và các địa phương sớm xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể
và phối hợp tổ chức thực hiện các hoạt động hưởng ứng Ngày môi trường thế giới
năm nay và thông báo về kế hoạch, kết quả thực hiện cho Bộ TN&MT để theo dõi,
tổng hợp và đúc kết kinh nghiệm.
Chủ đề Ngày môi trường thế
giới năm nay (5/6) là “Hãy thay đổi thói quen: Hướng đến một nền kinh tế ít
cacbon”. Thành phố Wellington, New Zealand được Chương trình Môi trường Liên
Hợp Quốc (UNEP) chọn làm địa điểm tổ chức lễ kỷ niệm quốc tế sự kiện môi
trường quan trọng này.
Nội dung xuyên suốt là về
biến đổi khí hậu - đang đe doạ nghiêm trọng đến lợi ích sống còn của nhiều dân
tộc, nhiều nơi trên khắp hành tinh, trong đó có Việt Nam. Biểu hiện ở chế độ
thời tiết bất thường, sự ấm lên của Trái đất, hậu quả là băng tan, mực nước
biển dâng, mưa lũ, bão lốc, giông tố gia tăng.
Con người đang phải đối
mặt với những tác động khôn lường của biến đổi khí hậu như dịch bệnh, đói
nghèo, mất nơi ăn chốn ở, thiếu đất canh tác, sự suy giảm đa dạng sinh học...
Theo các nhà khoa học,
nguyên nhân trực tiếp của sự biến đổi khí hậu là do phát thải quá mức khí nhà
kính, đặc biệt là CO2. Nồng độ CO2 trong khí quyển tăng lên từ việc đốt một
khối lượng lớn chưa từng có các nhiên liệu hoá thạch như than đá, dầu mỏ, khí
đốt trong quá trình phát triển công nghiệp, tình trạng phá rừng và khai thác
gỗ thiếu bền vững là nguyên nhân tạo ra hơn 20% phát thải khí nhà kính trên
toàn cầu.
Một số hình thức canh tác,
chăn nuôi, giao thông vận tải, thói quen sử dụng năng lượng, nhiên liệu không
tái tạo và các sản phẩm từ rừng cũng đã làm tăng đáng kể lượng khí nhà kính
Kiều
Minh -VTC
Về đầu trang
Bảo vệ môi trường vấn đề cấp thiết ở Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) có dân số trên 17 triệu người, diện tích tự nhiên là 4.060.400 ha có
bờ biển từ Đông sang Tây dài trên 740 km với hải phận trên biển 360.000 km2.
Đây là vùng đất ngập nước điển hình của quốc gia với chế độ ngập lũ, ngập mặn
và hệ thống sông rạch chằng chịt, có các hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh
thái rừng tràm và các hệ sinh thái nông nghiệp rất phát triển…
Những tiềm năng đó mở ra
nhiều triển vọng để ĐBSCL phát triển nhanh, trở thành một vùng kinh tế quan
trọng của đất nước. Tuy nhiên, những năm qua, tình trạng dân số tăng nhanh,
tài nguyên suy giảm, môi trường ô nhiễm... đã gây áp lực ngày càng lớn đến
phát triển kinh tế- xã hội, đến tài nguyên, môi trường và ảnh hưởng đến đời
sống, sức khỏe của nhân dân trong vùng...
Thực trạng đáng lo lắng
hiện nay là chế độ ngập lũ ở ĐBSCL, tập trung ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang,
Tiền Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long... kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12
hàng năm. Ngập lũ ở ĐBSCL hàng năm đã tác động nhiều mặt đến điều kiện sinh
sống của người dân, đến cơ sở hạ tầng, đến phát triển kinh tế, y tế, giáo dục
và đặc biệt là tác động đến sức khỏe của cộng đồng dân cư.
Chế độ ngập mặn ở ĐBSCL chịu sự chi phối của chế độ bán nhật triều trên biển
Đông và chế độ nhật triều biển Tây vịnh Thái Lan, tập trung ở các tỉnh Kiên
Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang... với tổng
diện tích khoảng 1,4-1,5 triệu ha. Những năm gần đây, quá trình chuyển dịch cơ
cấu canh tác nông nghiệp lúa nước truyền thống sang nuôi tôm nước mặn đã làm
cho diễn biến xâm nhập mặn gia tăng nhanh chóng, tạo nên các áp lực mới đối
với hệ canh tác nước ngọt ở khu vực ĐBSCL.
Trong cơ cấu kinh tế của
ĐBSCL hiện nay, khu vực nông-lâm-ngư chiếm 48%, khu vực công nghiệp và xây
dựng chiếm 22%; khu vực dịch vụ chiếm 30%. Điều đó cho thấy kinh tế ở đây vẫn
chủ yếu là nền kinh tế phụ thuộc sinh thái, trong đó trạng thái và chất lượng
môi trường nước, môi trường đất và các hệ sinh thái có tính chất quyết định
đến các chất lượng và sản lượng các sản phẩm nông- lâm- ngư. Là vùng sản xuất
nông nghiệp lớn nhất toàn quốc, thế nhưng, ĐBSCL lại đang phải đối mặt với một
số vấn đề môi trường cần giải quyết để bảo đảm sự phát triển bền vững trong
khu vực.
Quá trình sử dụng đất trong canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công
nghiệp, đô thị hóa... làm biến đổi đất, suy thoái đất gây ô nhiễm môi trường.
Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng lên rất nhanh. Năm 2000 là 445.300 ha, đến
năm 2006 đã là 699.200 ha, với tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng 1.171.001
tấn, chiếm trên 70% sản lượng nuôi trồng và trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu
thủy sản của cả nước. Diện tích trồng lúa cả năm giảm dần: Năm 2000 là
3.945.800 ha, đến năm 2006 là 3.773.200 ha (trồng lúa mùa, lúa đông xuân và
lúa hè thu).
Nguồn nước trên sông Tiền,
sông Hậu và các cửa sông thông ra biển... đã có các dấu hiệu nhiễm bẩn chất
hữu cơ và vi sinh. Quan trắc môi trường nước cho thấy các chỉ tiêu bị nhiễm
bẩn là: BOD, COD, Coliform, H2S, NH4, phèn sắt... do các nguồn thải sản xuất
công nghiệp, đô thị và các khu dân cư, nguồn thải nuôi trồng thủy sản, sản
xuất nông nghiệp... chưa xử lý triệt để vẫn tiếp tục thải vào hệ thống sông
rạch trong khu vực.
Một số giải pháp cải tạo
hiện nay là
Để đảm bảo sự phát triển
bền vững trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa ĐBSCL, trên
cơ sở của đặc điểm địa hình tự nhiên, kinh tế-xã hội và phân vùng sinh thái...
thiết nghĩ, chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng cần tập trung thực
hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau đây.
Quy hoạch phát triển nông- lâm- ngư đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ hệ
sinh thái đất ngập nước đặc thù ở ĐBSCL. Phát triển sản xuất công nghiệp, các
khu, cụm công nghiệp phải gắn liền với quy hoạch môi trường trong mối quan hệ
chiến lược phát triển vùng ĐBSCL.
Quy hoạch phát triển đô
thị và các khu dân cư, cụm dân cư gắn liền với quy hoạch cấp nước sạch và vệ
sinh môi trường.
Công nghệ xử lý chất thải
công nghiệp và chất thải nguy hại. Công nghệ xử lý chất thải y tế và bệnh viện.
Công nghệ xử lý chất thải trong chế biến và nuôi trồng thủy sản. Công nghệ
sinh học trong xử lý môi trường. Công nghệ cung cấp nước sạch hợp vệ sinh
Xây dựng cơ chế chính sách
hữu hiệu để tăng cường hợp tác quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
xử lý môi trường, mở rộng thị trường công nghệ môi trường ở ĐBSCL đảm bảo sự
phát triển bền vững kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ở khu vực ĐBSCL.
D.H(VinhLong Portal)
Về đầu trang
Dân giám sát bảo vệ môi trường tại KCN
Bằng việc cam kết hợp
tác ba bên trong bảo vệ môi trường, dân xã Hàn Kiệm, Hàn Mỹ (Bình Thuận) sẽ
cùng chính quyền sở tại tham gia giám sát việc thực thi bảo vệ môi trường tại
KCN Hàn Kiệm trên địa bàn.
Đây là lần đầu tiên, lãnh
đạo KCN hưởng ứng nhiệt tình trong việc cam kết thực thi bảo vệ môi trường
trong quá trình hoạt động.
Mô hình hợp tác trên tại
KCN Hàn Kiệm vừa được giới thiệu tại Hội thảo “Cộng đồng tham gia kiểm tra,
giám sát, thực thi pháp luật bảo vệ môi trường” do Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ
TN&MT, vừa tổ chức ngày 11/4 tại Hà Nội.
KCN Hàn Kiệm đang được xây
dựng xây dựng trên diện tích 576,28ha thuộc xã Hàn Kiệm, Hàn Mỹ, tỉnh Bình
Thuận, gần quốc lộ 1A, cách thành phố Phan Thiết 10km.
Để thực hiện cam kết, KCN
Hàn Kiệm sẽ tổ chức lấy ý kiến của cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương
trước khi ban hành hoặc tham mưu các chương trình kế hoạch quy định về bảo vệ
môi trường liên quan đến KCN; quản lý các hoạt động về bảo vệ môi trường, giữ
gìn vệ sinh môi trường trong và ngoài KCN; Yêu cầu các chủ đầu tư vào KCN
niêm yết công khai xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường...
Phía người dân cam kết có trách
nhiệm tham gia ý kiến xây dựng các chính sách, quy định về bảo vệ môi trường liên
quan đến KCN Hàn Kiệm khi được mời; Tham gia giám sát việc thực thi pháp luật
về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất kinh doanh tại KCN; Khiếu nại tố cáo
các hành vi gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường...
Theo cam kết, chính quyền
sở tại sẽ tổ chức lấy ý kiến của cộng đồng dân cư trước khi ban hành hoặc tham
gia các chương trình kế hoạch về bảo vệ môi trường có liên quan đến KCN; Cùng
với cộng đồng giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường của KCN và đề ra phương hướng giải quyết; hoặc có thể yêu cầu các doanh
nghiệp cơ sở sản xuất kinh doanh đối thoại về môi trường hoặc chủ trì đối
thoại về môi trường theo yêu cầu của tổ chức, cộng đồng dân cư...
Theo Luật Bảo vệ môi
trường, mỗi KCN phải đảm bảo các tiêu chí về môi trường khi đi vào hoạt động.
Nhưng thực tế, đại đa số chỉ là những phần làm qua loa để được phê duyệt dự án,
khi đi vào hoạt động vẫn đặt lợi ích kinh tế lên trên bảo vệ môi trường.
Kiều
Minh -VTC
Về đầu trang
Phụ nữ Vĩnh Phúc tham gia
bảo vệ môi trường
Năm 2007, thực hiện chương
trình truyền thông môi trường phục vụ phát triển bền vững, các cấp Hội phụ nữ
trong tỉnh đã tuyên truyền tới từng chi tổ hội về mục đích ý nghĩa và nội dung
cần thực hiện trong công tác bảo vệ môi trường. Hội chủ động phối hợp với các
cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền trên đài truyền thanh của tỉnh, của
huyện, xã, phường được 625 lượt; treo 128 băng zôn và 278 khẩu hiệu tuyên
truyền trên các trục đường chính và trụ sở làm việc của hội; viết 25 tin, bài
đăng trên các tạp chí, Đài PT-TH tỉnh và Báo Vĩnh Phúc.
153/153 cơ sở hội với
2.851/2.851 tổ phụ nữ đã lồng ghép nội dung truyền thông môi trường phục vụ
phát triển bền vững tại 3.241 buổi họp tổ, nhóm câu lạc bộ. Qua đó đã có
178.980/204.470 (87%) cán bộ, hội viên, phụ nữ được tuyên truyền học tập. Các
hoạt động văn hóa văn nghệ, sáng tác tiểu phẩm, bài hát về nước sạch, vệ sinh
môi trường được chị em tham gia sôi nổi.
Hưởng ứng Tuần lễ quốc gia
nước sạch và vệ sinh môi trường năm 2007 (29/4 - 6/5) và Ngày môi trường thế
giới (5-6), BTV Hội LHPN tỉnh phát động “Tháng hành động vì nước sạch và bảo
vệ môi trường” tới toàn thể cán bộ, hội viên và các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh.
Trong đợt phát động Hội LHPN tỉnh chọn huyện Tam Dương làm điểm chỉ đạo, đã có
85% cán bộ, hội viên phụ nữ tham gia, thu gom được 2.030,9 tấn rác thải; khơi
thông hơn 2km cống rãnh; phát động mỗi gia đình trồng từ 1-2 cây xanh. Đến
nay, phụ nữ trong tỉnh đã trồng được 35.645 cây các loại; có 185 hộ đào giếng
mới, nhiều hộ gia đình khu vực ven sông đã được dùng nước sạch; đã có 123 hộ
xây bể khí Biôgas và tổ chức vận động cán bộ, hội viên sử dụng bếp ít khói,
tiết kiệm nhiên liệu, bảo vệ môi trường. Điển hình là các huyện Mê Linh, Yên
Lạc, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Vĩnh Tường. Tại 100% cơ quan thường
trực Hội Phụ nữ từ tỉnh đến cơ sở đã tổ chức tổng vệ sinh vào ngày thứ 2 và
thứ 6 trong chiến dịch đã thu hút 100% cán bộ chuyên trách tham gia. Qua đợt
hưởng ứng nhằm nâng cao ý thức sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên cho cán
bộ, hội viên phụ nữ. Trong năm, các cấp hội phụ nữ tiếp tục chỉ đạo 9/9 huyện,
thành, thị và 2 đơn vị trực thuộc phối hợp với ngành Y tế vận động 100% hộ gia
đình cán bộ, hội viên, phụ nữ thực hiện ăn chín, uống sôi để phòng tránh bệnh
tật; tuyên truyền 100% cán bộ, hội viên phụ nữ có ý thức giữ gìn nguồn nước
sạch, không đổ rác, phóng uế bừa bãi xuống các nguồn nước. Động viên giúp đỡ
nhau đào mới 560 giếng khơi, khoan mới 405 giếng nước, thực hiện tiết kiệm
trong sinh hoạt hàng ngày.
(Vũ Thu Thủy –
Báo Vĩnh Phúc)
Về đầu trang
|