|
Quảng Ngãi: Đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ
chủ quyền an ninh biên, đảo
Nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên
chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân về vị trí,
vai trò quan trọng của biển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,
UBND tỉnh vừa ban hành kế hoạch tuyên truyền đấu tranh bảo vệ chủ
quyền an ninh biển, đảo trong tình hình mới.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, UBND các
huyện, xã chủ động, tích cực phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
giáo dục quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và
nhân dân các vùng ven biển, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu
quả Chỉ thị số 34/2004/CT-TTg, Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg của Thủ
tướng Chính phủ; Chỉ thị số 16/2004/CT-UB ngày 23/8/2004 của UBND
tỉnh về “Xây dựng phong trào quần chúng tự quản tàu thuyền, bến bãi
an toàn và ANTT thôn xóm ở khu vực biên giới biển, đảo của tỉnh”.
Bên cạnh đó, các lực lượng chức năng tăng cường phối hợp đấu tranh,
ngăn chặn có hiệu quả với các hoạt động xâm phạm chủ quyền vùng biển,
các loại tội phạm về buôn lậu, gian lận thương mại, trấn cướp trên
biển, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng chất nổ trái phép; tăng
cường công tác kiểm tra, kiểm soát các phương tiện hoạt động nghề cá,
đảm bảo an toàn cho ngư dân; gắn công tác tuyên truyền với vận động
các tầng lớp nhân dân tham gia cuộc vận động “Học tập và làm theo
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa ở khu dân cư”, “Vì người nghèo”, các chương trình “Xóa đói
giảm nghèo”, phát triển kinh tế- xã hội ở các xã bãi ngang ven biển
và chương trình “Quốc gia phòng chống tội phạm”...
VH-VN (TH)
Về đầu trang
Tỉnh ủy Bình Định: Triển
khai công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo
Vừa qua, tại Văn phòng Tỉnh ủy, Tỉnh ủy Bình Định và Bộ Tư
lệnh Hải quân đã tổ chức hội nghị triển khai công tác phối hợp tuyên
truyền về biển, đảo.
Đồng chí Phạm Văn Thanh-Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy và Phó
Đô đốc Hải quân Trần Thanh Huyền-Bí thư Đảng ủy-Chính ủy Quân chủng
Hải quân chủ trì hội nghị.
Tại hội nghị, Phó Đô đốc Trần Thanh Huyền đã thông tin tóm
tắt về tình hình biển, đảo trong thời gian qua và kết quả công tác
tuyên truyền biển, đảo cũng như triển khai nhiệm vụ xây dựng và bảo
vệ vững chắc quần đảo Trường Sa của Quân chủng Hải quân. Phó Đô đốc
Trần Thanh Huyền đánh giá cao sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân
Bình Định thời gian qua, đã tích cực hỗ trợ vật chất và tinh thần,
góp phần động viên Quân chủng Hải quân hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Hội nghị đã xác định công tác tuyên truyền về biển, đảo là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, nhằm tiếp
tục thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền
biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, Quân chủng Hải
quân và địa phương sẽ tăng cường công tác tuyên truyền về biển, đảo
nhằm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm đối với các cấp, các
ngành và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh hiểu rõ về vai trò, vị trí,
tầm quan trọng của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc để cùng nhau thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc
chủ quyền biển, đảo của nước ta…
Phát biểu tại hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phạm
Văn Thanh bày tỏ vui mừng trước sự phối hợp của Bộ Tư lệnh Hải quân
cùng với tỉnh Bình Định triển khai công tác tuyên truyền về biển,
đảo. Đồng chí Phạm Văn Thanh cho rằng, đây là nhiệm vụ chính trị
quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4
khóa X “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” và hứa tỉnh sẽ tạo
mọi điều kiện thuận lợi để Quân chủng Hải quân thực hiện tốt công
tác này trong thời gian tới.
Theo Báo Bình Định
Về đầu trang
Cùng chung tay xây dựng
“Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”
Thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TW ngày 27/6/2008 của Ban
Bí thư (Khóa X) và theo tinh thần Chỉ thị 24/2001/CT-TTg của Thủ
tướng Chính Phủ về “Đẩy mạnh cuộc vận động Ngày vì người nghèo”, Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Bộ tư lệnh Bộ
đội Biên phòng, Báo Quân đội nhân dân đã tổ chức đợt vận động "Mái
ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo".
Khu vực biên giới, biển đảo nước ta hiện có 1.029 xã, phường, thị
trấn thuộc 203 huyện, 44 tỉnh, thành phố; dân số khoảng 7,2 triệu
người, gần 1,7 triệu hộ. Đây là vùng đất phên dậu, tuyến đầu của đất
nước, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an
ninh và đối ngoại song đời sống của nhân dân còn rất nhiều khó khăn.
Theo thống kê của Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, hiện nay, vùng biên
giới và hải đảo còn 388 xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ nghèo đói chiếm
trên 30% (một số nơi còn 70%) với khoảng: 13.709 hộ đói, 223.427 hộ
nghèo. Trong đó, có 109.476 hộ chưa có điện thắp sáng, 192.141 hộ
chưa được dùng nước sạch, 104.557 hộ không có đất sản xuất; gần
1.000 hộ chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá tạm bợ; trên 400 thôn, bản
vùng sâu, xa chưa có phòng học, 1.700 phòng học quá tạm bợ, số người
thất học, mù chữ có chiều hướng gia tăng; cơ sở khám chữa bệnh,
trang thiết bị y tế còn khan hiếm; các thiết chế văn hóa và hệ thống
giao thông thiếu trầm trọng. Nhiều nơi bị thiếu, đói về thông tin,
nhân dân chưa được hưởng các dịch vụ y tế, văn hóa, xã hội… nên còn
nhiều tập tục, tệ nạn xã hội lạc hậu dễ bị các phần tử xấu móc nối,
kích động…
Năm nay, hướng tới kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống Bộ đội Biên
phòng và 20 năm Ngày Biên phòng toàn dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng với Bộ đội Biên phòng và Báo Quân đội nhân dân phối hợp triển
khai đợt vận động "Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo".
ủng hộ xây dựng các công trình dân sinh loại nhỏ, như phòng học, cầu,
cống, đường liên thôn, liên bản… và giúp đỡ đồng bào các dân tộc
trên biên giới, biển đảo nhất là các thôn, bản giáp biên giới xóa
đói, giảm nghèo, xóa nhà dột nát.
Đợt vận động này dự kiến được thực hiện đến ngày 3/3/2009 và công
tác tổ chức xây dựng các công trình sẽ kéo dài từ đến hết ngày
31/12/2009. Trước mắt, từ nay đến Tết Nguyên đán 2009, sẽ triển khai
xây dựng từ 500 - 1.000 căn nhà cho các hộ nghèo ở biên giới, hải
đảo, khu vực hiện có hơn 1.000 xã, phường, thị trấn thuộc 44 tỉnh,
thành phố với số dân 7,2 triệu người.
"Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo" chính là nội dung
trọng tâm của cuộc vận động "Ngày vì người nghèo" năm 2008 do Đoàn
Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Gần
8 năm qua, “Ngày vì người nghèo” đã vận động được hơn 2.200 tỷ đồng,
giúp sửa chữa, xây dựng hơn 790.000 ngôi nhà cho người nghèo; gần 4
triệu người nghèo được an cư, lạc nghiệp, có cơ hội thoát khỏi đói
nghèo; hàng triệu người được giúp đỡ về vốn mua trâu, bò, cây, con
giống, nông cụ cho sản xuất và khám, chữa bệnh trong lúc khó khăn,
thiên tai đột xuất./.
TL (Tổng hợp)
Về đầu trang
Vận động xây dựng 1.000 căn
nhà “Đại đoàn kết” cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo
Ngày 27/11, tại thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên
phòng (BĐBP) đã phối hợp với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và báo
Quân đội Nhân dân đã phát động đợt vận động trong cả nước, quyên góp
ủng hộ đồng bào nghèo vùng biên giới, hải đảo với chủ đề “Mái ấm cho
người nghèo nơi biên giới , hải đảo”.
Phát biểu tại buổi lễ phát động, Thiếu tướng Võ Trọng Việt, Chính ủy
BĐBP cho biết, mục tiêu cuộc vận động là xây dựng 1.000 ngôi nhà
“Đại đoàn kết” và một số công trình giáo dục, y tế phục vụ nhân dân
vùng hải đảo, biên giới. Riêng 1.000 ngôi nhà “Đại đoàn kết”, trị
giá mỗi căn khoảng 15 triệu đồng sẽ được hoàn thành trong vòng 2
tháng (từ nay cho đến Tết Kỷ Sửu sắp đến).
Ngay trong chiều 27/11, đã có gần 50 doanh nghiệp đóng trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã đến cơ quan Bộ Tư lệnh
BĐBP khu vực phía Nam (tại thành phố Hồ Chí Minh) ủng hộ cuộc vận
động, với tổng số tiền gần 1 tỷ đồng. Cuộc vận động này là nhằm
hưởng ứng “Tháng cao điểm vì người nghèo” do Ủy ban Trung ương MTTQ
Việt Nam phát động; đồng thời, thiết thực kỷ niệm 20 năm “Ngày Biên
phòng toàn dân” (3/3/1989- 3/3/2009) và 50 năm Ngày truyền thống
(3/3/1959- 3/3/2009).
Qua gần 20 năm thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân”, BĐBP đã phối
hợp và trực tiếp triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội
khu vực biên phòng. Tính từ năm 2005 đến nay, BĐBP đã triển khai 20
dự án phát triển kinh tế- xã hội khu vực biên giới, với số vốn đầu
tư 280 tỷ đồng; giúp hơn 3.000 hộ dân định canh, định cư và 30.000
hộ dân sử dụng nước sạch, có điện thắp sáng. Các đồn biên phòng đã
triển khai 150 mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình, trực tiếp
giúp dân sản xuất và vận động tài trợ, xây dựng 200 căn nhà tình
nghĩa, tình thương trị giá hơn 3 tỷ đồng.../.
Theo TTXVN
Về đầu trang
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biển đảo
Thực hiện kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông –
hải đảo, ngày
11-1-2008,
đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Ngoại giao gồm các
đồng chí: Nguyễn Văn Bách, Phó Vụ trưởng Vụ Thông tin hợp tác quốc
tế (Ban Tuyên giáo Trung ương) và Nguyễn Mạnh Hiển, Phó Vụ trưởng Vụ
Biển (Bộ Ngoại giao) đã có chuyến khảo sát thực tế và làm việc với
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, một số ngành liên quan để khảo sát công tác
tuyên truyền biển đảo tại Thanh Hóa.
Tại hội nghị trao đổi, tọa đàm về công tác biển đảo, đoàn công
tác của Trung ương đã nghe Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy báo cáo kết quả
công tác tuyên truyền biển đảo năm 2007 của Thanh Hóa, nêu bật những
kết quả đã đạt được trong công tác tham mưu, chỉ đạo và triển khai
thực hiện. Các lớp tập huấn tuyên truyền biển đảo đã được tổ chức
cho trên 300 cán bộ làm công tác tuyên giáo cấp huyện và báo cáo
viên cấp tỉnh; tổ chức báo cáo 6 chuyên đề về biển đảo ở cấp tỉnh;
thường xuyên đăng tải các nội dung về biển đảo trên “Thông báo nội
bộ”, xây dựng và triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao tuyên truyền,
giáo dục pháp luật cho ngư dân vùng biển”. Các cơ quan báo chí trong
tỉnh đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền sâu rộng về biển đảo với
nhiều chuyên trang, chuyên mục, bài viết, ảnh có chất lượng. Đặc
biệt là đợt tuyên truyền Nghị quyết Trung ương 4 và chương trình
hành động của tỉnh về chiến lược biển đảo đến năm 2020 và tuyên
truyền phát triển kinh tế biển của địa phương được định hướng thường
xuyên, nắm bắt, phản ánh kịp thời tình hình diễn biến tư tưởng an
ninh trên biển và đề xuất các giải pháp bảo đảm an ninh trên biển...
Đại diện lãnh đạo một số ngành: Tư pháp, Bưu chính – Viễn thông,
Bộ đội Biên phòng, Hội Nông dân, Sở NN&PTNT, Sở Thủy sản; Báo Thanh
Hóa, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh... báo cáo những việc làm cụ
thể, công tác triển khai thực hiện nội dung trong công tác tuyên
truyền biển đảo và những đề xuất kiến nghị với Trung ương về từng
lĩnh vực.
Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, đại diện Ban Tuyên giáo
Trung ương và Bộ Ngoại giao đã đánh giá cao những cố gắng và kết quả
trong thực hiện công tác tuyên truyền biển đảo tại Thanh Hóa. Đoàn
công tác khẳng định ngư dân Thanh Hóa chủ yếu liên quan đến nội dung
Hiệp định Vịnh Bắc bộ do vậy tỉnh và các ngành có liên quan cần tiếp
tục tập trung tuyên truyền tốt hiệp định này. Trong đó làm rõ cho
ngư dân hiểu các quy định để ngư dân đánh bắt trong phạm vi chủ
quyền của mình, tuyên truyền về chủ quyền biển đảo, quan tâm đến môi
trường sinh thái ở Khu Kinh tế Nghi Sơn nói riêng và trên biển nói
chung.
Trước buổi làm việc, đoàn công tác của Ban
Tuyên giáo Trung ương và Bộ Ngoại giao đã đi khảo sát thực tế tại xã
Quảng Nham, huyện Quảng Xương và Khu Kinh tế Nghi Sơn về các nội
dung có liên quan.
Hoàng Tuấn
Về đầu trang
Nhà máy Z753 gắn
hoạt động sản xuất với tuyên truyền biển, đảo
Chúng tôi đến thăm Nhà máy Z753 Cục Kỹ thuật Hải quân, doanh nghiệp
thuộc Bộ Quốc phòng nhân dịp Vùng 4 Hải quân tổ chức sơ kết 1 năm
hoạt động phối hợp tuyên truyền về biển đảo. Hôm ấy là thứ bảy,
nhưng tại các phân xưởng, hoạt động sản xuất vẫn diễn ra như ngày
thường. Không khí làm việc rất khẩn trương, sôi nổi.
Đại tá Dương Kim Tịnh, Chính ủy nhà máy cho biết:
Đầu tháng tư sẽ có tàu đi Trường Sa. Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh
Hải quân, với tinh thần “Tất cả vì Trường Sa thân yêu”, nhà máy đang
tập trung toàn lực lượng, làm việc theo ca, kể cả ngày thứ bảy và
chủ nhật để sản xuất các sản phẩm: cẩu xoay 3,5 tấn, xuồng đặc biệt,
xe chở xuồng và các phụ kiện kèm theo… phục vụ hoạt động của các đơn
vị đóng quân trên quần đảo. Trước đó, nhà máy đã cử 3 đội công tác
lên đường ra Trường Sa làm nhiệm vụ. Đầu tháng tư này sẽ tăng cường
2 đội công tác khác vận chuyển thiết bị kỹ thuật và lắp đặt, chuyển
giao thiết bị, công nghệ cho đảo.
Nam,
một công nhân hợp đồng của nhà máy, quê Phú Yên tâm sự khi vừa tan
ca: “Thứ bảy, chủ nhật ai cũng muốn nghỉ ngơi để đi đây đi đó, vui
vẻ với gia đình, người thân. Nhưng nghĩ đến những người lính đang
ngày đêm chắc tay súng trên các hòn đảo yêu thương của Tổ quốc, anh
em công nhân ở đây không còn quan tâm nhiều đến ngày nghỉ. Chúng tôi
cố gắng hoàn thành sản phẩm với chất lượng cao nhất để kịp đưa lên
tàu, xong nhiệm vụ sẽ xin nghỉ bù”.
Nhà máy Z753 được thành lập ngày
23/8/1975 theo quyết định của Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ
chính trị trung tâm của nhà máy là bảo đảm vũ khí - trang bị kỹ
thuật cho các đơn vị của quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng khu vực
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trọng tâm là các đơn vị thuộc Vùng 4 Hải
quân. Bên cạnh đó, đơn vị còn được giao nhiệm vụ tổ chức sản xuất
bảo đảm đời sống cho cán bộ công nhân viên; thực hiện công tác dân
vận, tuyên truyền về biển, đảo; tăng cường đoàn kết quân dân, góp
phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, xây dựng địa bàn
an toàn, ổn định và phát triển. Nhà máy không chỉ sửa chữa vũ khí -
thiết bị kỹ thuật cho các đơn vị quân đội, gồm: vũ khí bộ binh, tăng-
thiết giáp, ô tô, trạm nguồn, tàu có tải trọng đến 450 tấn, xuồng và
các phương tiện nổi mà còn đóng các phương tiện tàu, xuồng, xà lan
bằng vật liệu hợp kim, nhôm, sắt, composite; sản xuất xe cứu hỏa bán
tự động bằng cách cải hoán trên nền xe 3m, KAMAZ, ISUZU. Ngoài ra,
nhà máy còn sản xuất các sản phẩm cơ khí có khối lượng lớn như dây
chuyền nỉa cát (quặng), khung nhà xưởng, cột ăng-ten tự đứng cao
49-50m, ăng-ten dây co với công nghệ kẽm chất lượng cao. Nhiều sản
phẩm của nhà máy có tính cạnh tranh cao, từng đoạt Huy chương vàng
Hội chợ Công nghiệp Việt Nam, như xuồng cao tốc hợp kim, nhôm và
composite; dây chuyền tuyển nỉa cát (quặng) công suất lớn.
Sau khi Quân chủng Hải quân và Tỉnh ủy Phú Yên ký
kết phối hợp tuyên truyền biển, đảo, trong năm 2007, nhà máy đã cử
cán bộ đến nhiều địa phương của Phú Yên tuyên truyền về biển, đảo;
nói chuyện thời sự về tình hình hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
của Việt Nam.
Đợt tuyên truyền đã giúp cho cán bộ và nhân dân
trong tỉnh hiểu biết hơn về chủ quyền biên giới hải đảo, về nhiệm vụ
của những người lính đang ngày đêm bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc;
thắt chặt thêm tình quân dân. Đại tá Dương Kim Tịnh, Chính ủy Nhà
máy Z753 cho biết: “Chúng tôi đã có sự bàn bạc và thống nhất với Ban
Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên về nội dung phối hợp tuyên truyền biển
đảo trong năm 2008. Theo đó, cùng với việc tổ chức kết nghĩa giữa
một số đơn vị của Vùng 4 Hải quân và tỉnh Phú Yên, chúng tôi tiếp
tục đẩy mạnh hoạt động phối hợp tuyên truyền biển, đảo trên địa bàn
tỉnh Phú Yên. Nhà máy phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự- quốc
phòng.
XUÂN
HIẾU
Về đầu trang
CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ CÁ BIỂN VIỆT
NAM ĐẾN NĂM 2015
Việt Nam là nước có tính biển lớn trong các nước Đông Nam
á lục địa, với 3.260 km bờ biển/331.700 km2 diện tích;
226.000 km2 nội thuỷ lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế
rộng hơn 1 triệu km2. Biển Việt Nam có hơn 2.030 loài cá
trong đó có 130 loài có giá trị kinh tế, 1.600 loài giáp xác, 2.500
loài sò trai,... và rất nhiều rong, chim biển. Tiềm năng
nguồn lợi cá biển được ước tính hơn 3 triệu tấn và sản lượng khai
thác bền vững là 1,4 - 1,5 triệu tấn. Với những thuận lợi trên, Việt
Nam có điều kiện để phát triển toàn diện một nền kinh tế biển mà
trong đó nghề cá là điểm khởi đầu quan trọng.
Để nghề cá Việt Nam phát triển một cách hiệu quả và bền
vững, Bộ Thuỷ sản đã đề ra “Chiến lược quản lý và phát triển nghề
cá biển Việt Nam đến năm 2015” dựa trên tầm nhìn đối với nghề cá
biển là: “Nguồn lợi thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cho các thế hệ hiện tại
và tương lai và được khai thác một cách hiệu quả và bền vững".
Hiện trạng nghề cá Việt
Nam:
Nghề cá là một trong những ngành phát triển nhanh nhất và
năng động nhất của nền kinh tế Việt
Nam. Trong thời kỳ 1990 - 2004, tổng sản phẩm đánh bắt và nuôi trồng
tăng gần 2,9 lần, đạt 3,073 triệu tấn và giá trị xuất khẩu đánh bắt
và nuôi trồng tăng gần 2 lần, đạt 3,073 triệu tấn và giá trị xuất
khẩu tăng gần 2,43 lần từ 0,7 triệu tấn (năm 1990) đến 1,7 triệu tấn
(năm 2004).
Nghề cá đã góp gần 4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
(không bao gồm giá trị gia tăng đáng kể của chế biến, phân phối và
thương mại thuỷ sản), góp phần đưa Ngành thuỷ sản trở thành một
trong những ngành mang lại nguồn ngoại tệ lớn nhất cho đất nước, chỉ
sau ngành dầu khí, may mặc, và giải quyết gần 4 triệu việc làm và
thu nhập thêm cho hàng triệu lạo động.
Tuy nhiên, nghề cá đang phải đối mặt với những thách thức
nghiêm trọng nảy sinh trong quá trình phát triển. Với hơn 84% số
lượng tàu cá được trang bị máy có công suất nhỏ hơn 90 CV, nghề cá
Việt Nam vẫn hầu như là nghề cá quy mô nhỏ. Các hoạt động đánh bắt
vẫn tập trung ở ven bờ và gây ra áp lực khai thác cao đối với nguồn
lợi ven bờ. Thêm vào đó, số lượng tàu thuyền khai thác hải sản và
tổng công suất máy tầu trong toàn quốc tăng lên không ngừng trong
khi sản lượng khai thác tương ứng của một mã lực máy tàu bị giảm
xuống (từ 0,61 tấn/cv/năm 1994 xuống còn 0,36 tấn/cv/năm 2004).
Một thách thức khác đối với nghề cá Việt Nam hiện nay là
số lượng lao động nghề cá tăng liên tục trong những năm gần đây,
bình quân mỗi năm tăng trên 26.900 người, nhưng chất lượng lao động
không cải thiện. Với trình độ học vấn thấp, ngư dân gặp nhiều khó
khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật mới nhất là kỹ thuật khai thác xa
bờ, làm tăng thêm sự cạnh tranh trong khai thác và làm trầm trọng
thêm sự huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản ven bờ.
Cơ sở hạ tầng nghề cá hiện còn nghèo nàn. Tính đến cuối
năm 2000 có: 50 cảng và bến cá với tổng chiều dài cầu cảng là 4.146
m, có thể bốc dỡ cá từ những tàu đánh cá lớn; 702 xưởng đóng tàu cỡ
nhỏ có khả năng đóng mới 4.000 chiếc/năm và sửa chữa 8.000 chiếc/năm;
8 cơ sở sản xuất lưới sợi bao bì và dịch vụ vật tư mỗi năm sản xuất
ra 200 tấn lưới sợi và 7.500 tấn vật tư thuỷ sản; 126 kho lạnh với
tổng trữ lượng khoảng 20.000 tấn, 120 nhà máy nước đá; 405 nhà máy
chế biến thuỷ sản. Bên cạnh đó hệ thống chợ cá còn ít và chưa phát
huy tác dụng tốt nên việc mua bán, tiêu thụ cá ở các chợ phần lớn
vẫn do đầu nậu cá đảm nhiệm.
Những thách thức và khó khăn đã đặt ra cho nghề cá Việt
Nam phải có một chiến lược để quản lý và phát triển bền vững.
Chiến lược quản lý và phát triển nghề cá Việt
Nam
đến năm 2015
Dựa trên các số liệu về điều kiện tự nhiên, tình trạng sử
dụng giới hạn bền nhất là nuôi tôm theo phương thức tiên tiến, hiệu
quả và bền vững môi trường. Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả
khai thác xa bờ, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác
gần bờ, nâng cao năng lực bảo quản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu
cầu thị trường quốc tế, trong nước. Mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ
tầng dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường, bảo đảm sự tái tạo và
nguồn lợi thủy sản".
Những mục tiêu:
Đối với nghề cá ven bờ:
- Điều chỉnh khai thác vùng ven bờ hợp lý, đồng thời khôi phục và
bảo tồn nguồn lợi cá ven bờ và hệ sinh thái biển để: Vào năm 2010
hoàn thành việc xây dựng hệ thống quản lý nghề cá ven bờ toàn diện (bao
gồm việc hình thành chính sách, phát triển việc hỗ trợ pháp lý và
thực hiện hệ thống quản lý); vào năm 2015, giảm được 40% số lượng
tàu đánh cá ven bờ và điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệp của cộng đồng
nghề cá; vào năm 2015, có 15 khu bảo tồn ở Việt Nam, một khu vực bảo
vệ nguồn lợi và phát triển vài khu vực rạn san hô; tăng cường năng
lực quản lý nghề cá ở tất cả các cấp của Chính phủ, nâng cao sự cộng
tác giữa các cơ quan Chính phủ và cộng đồng nghề cá để giảm thiểu
tác động xấu đến nguồn lợi và hệ thống sinh thái biển; đến năm 2010
giảm tổng sản lượng khai thác ven bờ xuống còn 700.000 tấn/năm, bằng
cách giảm số lượng tàu cá, số lượng ngư dân và thực hiện các chính
sách và luật bảo vệ nguồn lợi.
- Nâng cao mức sống của cộng đồng ngư dân sống phụ thuộc
vào nguồn lợi thuỷ sản ven bờ, để đóng góp vào việc xoá đói giảm
nghèo trong số cộng đồng này và đảm bảo an toàn thực phẩm: Vào năm
2015, chuyển được 20% ngư dân đánh cá ven bờ sang nghề khác, bao gồm
tiến hành chương trình hỗ trợ đào tạo kỹ thuật, hướng dẫn nghề
nghiệp và chương trình tín dụng.
Đối với nghề cá xa bờ:
- Đảm bảo cho nghề cá xa bờ bền vững và hiệu quả đồng thời duy trì
cả những chức năng hệ sinh thái biển và cả quan hệ hài hoà với nghề
cá ven bờ: Tiếp tục nâng cấp thông tin về nguồn lợi thuỷ sản và nghề
cá xa bờ. Vào năm 2007, hoàn thành cơ cấu lại đội tàu cá xa bờ theo
phương pháp đánh bắt phù hợp nhất với cơ cấu đội tàu và hiện trạng
của nguồn lợi thủy sản xa bờ và tiếp tục thu thập thông tin bổ sung
về nguồn lợi bảo đảm cho các hoạt động nhằm hiện đại hoá đội tàu
đánh cá xa bờ; đạt được mục tiêu sản lượng khai thác bền vững đối
với tổng sản lượng khai thác xa bờ; tiếp tục cải tiến khả năng quản
lý nghề cá của cả cơ quan Chính phủ và nghề cá.
- Nâng cao thu nhập, tạo việc làm mới và nâng cao mức
sống của cộng đồng ngư dân sống phụ thuộc vào nghề cá xa bờ. Tăng
cường việc làm trực tiếp và gián tiếp trong nghề cá xa bờ lên
300.000 việc làm/năm 2010 và lên 500.000 chỗ làm việc vào năm 2015.
Qui hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá:
Trong giai đoạn phát triển 10 năm 2001 - 2010, tập trung
giải quyết một bước về củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ
cho khai thác hải sản gồm 5 mục tiêu:
- Hoàn chỉnh các cụm bến cảng cá trên các cửa sông, cửa
lạch có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có năng lực khai thác lớn,
trước hết là đã có một đội tàu khai thác lớn và có năng lực phát
triển cao hơn
trong thời kỳ tới, phải có sản lượng cất bến hàng năm từ 10.000 tấn
trở lên; Dần từng bước nâng cấp và củng cố các bến cá nhân dân, tạo
điều kiện cho nghề cá nhân dân với số lượng tàu thuyền ít, qui mô
nghề nghiệp nhỏ nhằm cải thiện điều kiện sản xuất, an toàn tàu
thuyền ở vùng trú đậu, bố trí hậu cần tương ứng.
- Xây dựng một hệ thống chợ cá trên các tỉnh vùng trọng
điểm nghề cá có qui mô công nghiệp kết hợp với việc phát triển hệ
thống chế biến sản phẩm hoặc hình thành các trung tâm tiêu thụ sản
phẩm nghề cá lớn của các vùng nuôi tập trung và các trung tâm đô thị
lớn.
- Xây dựng các khu vực tránh trú bão cho ngư dân, đặc biệt
những vùng có gió bão lớn từ Nam Trung Bộ trở ra Bắc và những tỉnh
có mật độ tàu thuyền đánh cá cao.
- Xây dựng các công trình cung cấp, dẫn nước, bảo vệ vùng
nuôi cho các vùng nuôi tôm công nghiệp. Xây dựng hệ thống thuỷ lợi
để cải tạo các vùng nuôi nhằm nâng cấp các công trình thoát nước và
xử lý nước thải cho các vùng nuôi thuỷ sản đặc biệt, những vùng nuôi
tôm sú tập trung, các vùng nuôi lồng bè.
- Xây dựng các công trình cung cấp điện hạ thế, hệ thống
đường giao thông tiếp cận với các vùng nuôi tập trung (trên 50 ha).
Qui hoạch hệ thống dịch vụ và đóng sửa tàu
thuyền:
Từ nay đến 2010, tập trung
nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới dịch vụ cơ khí phục vụ thuỷ sản
nhằm nâng cao năng lực chế tạo phụ tùng, phụ kiện và năng lực cung
ứng các dịch vụ kỹ thuật bảo dưỡng, bảo hành và cung ứng thiết bị cơ
khí thuỷ sản. Hệ thống cơ sở vật chất gồm các cơ sở tại 2 thành phố
lớn là Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh; các cơ sở đóng sửa tàu thuyền
hiện có trên các địa phương được khuyến khích hoạt động theo luật
doanh nghiệp để phục vụ đội tàu thuyền vỏ gỗ cỡ vừa và nhỏ, tổng
năng lực đóng mới thay thế hàng năm của đội tàu này khoảng 600 - 700
chiếc các loại và lên đà sửa chữa khoảng 8.000 chiếc/năm.
Các giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược:
- Thu hút mọi nguồn lực phát triển đúng mục đích và hiệu
quả trong đó tập trung cơ cấu lại đầu tư trong các lĩnh vực của
ngành thuỷ sản; phát triển nuôi trồng thủy sản là ngành mũi nhọn;
sắp xếp lại nghề cá ven bờ và gần bờ, tập trung đầu tư cho nghề cá
xa bờ; quy hoạch lại hệ thống chế biến thuỷ sản gắn với xuất khẩu và
tiêu thụ nội địa, gắn với yêu cầu thị trường và khả năng cung ứng
nguyên liệu.
- Tạo môi trường thể chế, chính sách thuận lợi nhất cho sự
phát triển và quản lý nghề cá hiệu quả hơn.
- Tăng cường hội nhập quốc tế về trình độ công nghệ, năng
lực quản lý ngành và các yêu cầu phát triển của nghề cá có trách
nhiệm, bảo đảm không có xáo trộn khi Việt Nam gia nhập WTO; chuẩn bị
tốt các chương trình, dự án và nguồn nhân lực để tranh thủ có hiệu
quả tối đa cơ hội hợp tác với nước ngoài.
Lộ trình thực hiện chiến lược:
Giai đoạn 2005 - 2007: Hoàn thiện việc xây dựng quy hoạch
chi tiết phát triển các vùng nuôi thuỷ sản tập trung và thiết kế các
vùng nuôi tập trung; hoàn chỉnh việc nâng cấp và xây dựng mới các
Trung tâm giống quốc gia. Trung tâm giống vùng, các khu sản xuất
giống tập trung theo tinh thần của Quyết định 112/QĐ - TTg và phê
duyệt chiến lược phát triển giống thuỷ sản. Trong năm 2005 hoàn
thành kiểm kê tàu thuyền đánh cá trong cả nước và tiến đến năm 2007
đăng kiểm toàn bộ số tàu thuyền nghề cá hiện có; hoàn thành chiến
lược phát triển xây dựng các khu bảo tồn biển; thực hiện nghiên cứu
và xây dựng thí điểm các mô hình đồng quản lý và phân quyền quản lý
các vùng biển; hoàn thành việc nâng cấp 100% các xí nghiệp chế biến
đảm bảo đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản theo tiêu
chuẩn Việt Nam với 85% số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn HACCP và 90%
số sản phẩm chế biến đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào mọi thị trường.
Giai đoạn 2008 - 2010: Tập trung phát triển nuôi biển,
triển khai việc "thực hành nuôi tốt” cho tất cả các vùng nuôi, hoàn
thành việc mã hoá các vùng nuôi; triển khai phân tuyến và phân cấp
quản lý các vùng biển theo quy hoạch; hoàn thành việc xây dựng
thương hiệu cho sản phẩm thuỷ sản Việt Nam.
Về đầu trang
Hướng về biển, đảo quê hương bằng nhiều chương trình thiết thực,
hiệu quả
Hội nghị sơ kết công tác phối hợp tuyên truyền biển, đảo năm
2008 giữa lãnh đạo Tỉnh ủy và lãnh đạo Quân chủng Hải quân Việt Nam
đã diễn ra vào chiều ngày 3-11. Phó Đô đốc, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy
Quân chủng Hải quân Trần Thanh Huyền đã đánh giá cao nghĩa tình của
Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng
kinh tế biển, đảo. Dù là tỉnh không có biển nhưng trong 10 chương
trình đã ký kết phối hợp tuyên truyền về biển, đảo vào giữa năm qua,
Đồng Nai đã thực hiện có hiệu quả 5 chương trình.
“Đồng Nai sẽ tiếp tục thể hiện trách nhiệm của
mình đối với việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các vùng
biển, đảo thân yêu của Tổ quốc gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế
biển, đảo bằng các chương trình cụ thể, có hiệu quả". Ủy viên Ban
thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Bùi Ngọc Thanh đã nói
như vậy. Đồng chí cho rằng sắp tới tỉnh sẽ rà soát lại chương trình
phối hợp đã ký kết để đưa ra kế hoạch cụ thể, thiết thực hơn; động
viên được các tầng lớp cán bộ, nhân dân trong tỉnh cùng có các hoạt
động hướng ra quân dân huyện đảo Trường Sa và bộ đội bảo vệ thềm lục
địa của Tổ quốc.
Ngọc
Anh
Về đầu trang
Hội nghị Rút kinh
nghiệm công tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo
Sáng nay, 21/3, tại TP Cần Thơ, quân chủng Hải quân đóng quân tại
các địa bàn miền Tây Nam Bộ đã tổ chức Hội nghị Rút kinh nghiệm công
tác phối hợp tuyên truyền về biển, đảo giữa quân chủng hải quân cụm
9 với các tỉnh - thành khu vực ĐBSCL. Đến dự hội nghị có đại diện
Ban Tuyên giáo các tỉnh - thành cùng đại diện các cơ quan thông tấn
báo chí Trung ương và các địa phương khu vực ĐBSCL .
Năm
qua, quân chủng Hải quân cụm 9 đã được Đảng ủy, Bộ tư lệnh Hải quân
giao nhiệm vụ phối hợp với 6 tỉnh - thành ĐBSCL gồm: TP Cần Thơ,
Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà mau, Bạc Liêu và Kiên Giang để triển khai
thực hiện công tác tuyên truyền về biển, đảo. Trong công tác tuyên
truyền miệng, cụm 9 đã chủ động phối hợp với các ngành chức năng các
tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng tổ chức tuyên truyền
cho lực lượng cán bộ và người dân những quy định, pháp lệnh của quốc
tế và Nhà nước Việt Nam về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm trong
khai thác và bảo vệ biển, đảo trên địa bàn. Tổ chức tuyên truyền
bằng loa phóng thanh, tờ rơi cho hàng ngàn lượt tàu thuyền và ngư
dân làm ăn trên biển v.v…
Đối với
các cơ quan thông tin đại chúng, quân chủng Hải quân trên địa bàn
cũng đã chủ động phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biển,
đảo. Trong đó đã tổ chức cho trên 100 lượt phóng viên các báo, đài
trung ương và địa phương đến với các đảo Tây
Nam.
Họat động này giúp cho các nhà báo thâm nhập thực tế, tìm hiểu tư
liệu và thực hiện nhiều tin bài, ảnh, phóng sự về biển đảo.
Tại hội
nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận về giải pháp tăng cường sự
phối hợp trong công tác tuyên truyền về biển đảo năm 2008 và những
năm tiếp theo. Trong đó, việc tuyên truyền sâu rộng, đổi mới về nội
dung, chất lượng, cụ thể, sát thực, cũng như việc phối hợp tạo điều
kiện giúp đội ngũ làm báo tiếp cận thông tin được các đại biểu quan
tâm. Trước mắt vào đầu tháng 4/2008, quân chủng Hải quân cụm 9 sẽ tổ
chức 5 đoàn đại diện lãnh đạo các tỉnh thành cùng các cơ quan báo
chí các tỉnh Vĩnh Long, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ
tham quan quần đảo Trường Sa. Đây sẽ là cơ hội tốt tăng cường công
tác phối hợp tuyên truyền biển đảo trong giai đoạn hiện nay.
Đăng
Khoa
Về đầu trang
Tuyên truyền về biển đảo cho ngư
dân và nhân dân: Cần hơn bao giờ hết!
Biển Việt Nam có vai
trò chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết Trung ương 4 đã đề ra “Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020”, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển. Công
tác tuyên truyền biển đảo trong tình hình mới cho các ngư dân là lực
lượng đông đảo, trực tiếp lao động sản xuất trên biển lúc này trở
nên cần thiết hơn bao giờ hết. Song, công tác này gặp rất nhiều khó
khăn và bất cập.
Khó khăn trước hết
đến từ chính biển cả. Nước ta có bờ biển dài hơn 3.260km, vùng biển
rộng hơn 1 triệu ki-lô-mét vuông với khoảng 2.800 đảo và quần đảo.
Ước tính biển nước ta có đến 2.000 loài cá, 70 loài tôm, 50 loài cua,
650 loài rong biển, 2.500 loài nhuyễn thể. Đối với ngư dân, biển
nuôi sống họ, là đời sống tinh thần của họ. Nhưng với công tác tuyên
truyền biển đảo thì vùng biển rộng, nhiều đảo phân tán, xa bờ, khí
hậu biển khắc nghiệt, thất thường là trở ngại lớn. Ngư dân ngày đêm
trên biển, đánh bắt xa bờ, nay đây mai đó, đi theo vệt cá, phương
tiện thông tin duy nhất của họ là bộ đàm, ra-đi-ô nghe đài
Tiếng nói Việt
Nam.
Khi cần thiết thì ngư dân dùng bộ đàm liên lạc địa phương, Bộ đội
Biên phòng hoặc hệ thống đài canh của Quân chủng Hải quân. Tuy nhiên,
do tập quán và muốn “độc quyền” khu vực biển nhiều hải sản, khá
nhiều ngư dân thường bí mật ngư trường nên họ tự cô lập, cắt đứt
hoàn toàn liên lạc trong thời gian dài, gây khó khăn cho công tác
tuyên truyền và tìm kiếm cứu nạn. Việc phân định ranh giới quản lý
của các lực lượng trên biển, các tỉnh có biển quản lý vùng biển “từ
đâu đến đâu” còn chưa rõ ràng, gây tranh cãi. Có ý kiến cho rằng, Ủy
ban Biển Đông và hải đảo cần sớm cụ thể về phân định mốc trên biển
đối với ranh giới quản lý của các tỉnh, các lực lượng chức năng.
Nhiều lực lượng quản
lý một vùng biển nhưng việc phối hợp để tuyên truyền cho ngư dân ít
được thực hiện hoặc hiệu quả chưa cao. Bên tuyên giáo thì kêu là
thiếu thông tin kịp thời về biển đảo; bên thủy sản, nông nghiệp, khí
tượng thủy văn thì thiếu nghiệp vụ tuyên truyền. Vẫn xảy ra tình
trạng “Đầu voi đuôi chuột”, “mạnh ai nấy làm”, bệnh thành tích,
tuyên truyền không đến nơi đến chốn, không đến được ngư dân… Các sở
thủy sản trực tiếp quản lý các ngư dân từ bờ ra biển nhưng cũng
không kiểm soát hết được. Mỗi lớp tập huấn công tác phòng, chống bão
lụt, giảm nhẹ thiên tai ở khu vực Ninh Phước, Ninh Hải, TX Phan Rang
chỉ có 50-70 ngư dân tham gia trong khi toàn tỉnh Ninh Thuận có đến
1.850 tàu thuyền đánh cá trên biển, vì vậy Ninh Thuận đã đề ra chỉ
tiêu phấn đấu 90% thuyền trưởng, thuyền viên phải qua đào tạo. Đại
tá Bùi Sỹ Trinh, Chính ủy Cục Cảnh sát biển Việt Nam thì cho rằng
“cần làm tốt từ gốc, tức là từ đầu ra, các tàu khi xuất bến phải có
giấy phép hành nghề, thuyền có đăng ký, thuyền trưởng phải qua đào
tạo…”.
Nội dung và hình
thức tuyên truyền biển đảo cũng cần được chú trọng. Cần tập trung
nâng cao nhận thức cho ngư dân về vai trò chiến lược của biển đảo
đối với phát triển kinh tế đất nước, xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân trên hướng biển. Tuyên truyền “Chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Luật Biển 1982, Luật Giao thông
đường thủy, Luật Thủy sản, Pháp lệnh về Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát
biển; các nghị định, chỉ thị của các cấp, ngành về phòng, chống lụt
bão, tìm kiếm cứu nạn, chống ô nhiễm môi trường. Tuyên truyền để ngư
dân thực hiện tốt pháp luật Nhà nước trên biển, không đánh cá bằng
mìn, không câu trộm lưới, cắt trộm cáp quang biển của Quốc gia… Có
nhiều hình thức để tuyên truyền và hình thức nào cũng có điểm mạnh,
hạn chế nhất định. Tuyên truyền miệng thì khó khăn vì cá ngư dân
thường xuyên đánh cá trên biển dài ngày, phân tán; phát tờ rơi thì
khi biên soạn tài liệu thì “có cái không chắc chắn” nên nội dung các
tài liệu thường theo lối mòn, chung chung, biên soạn dài thì bà con
không nhớ hết, ngắn thì sợ “thiếu”… Các chương trình cổ động, sân
khấu hóa chưa thực sự hấp dẫn, lôi cuốn bà con. Vai trò của các
phương tiện truyền thông là hữu hiệu nhất song các chương trình về
biển đảo còn ít. GS Vũ Quang Hào, Khoa Báo chí Trường đại học KHXH &
NV, người rất tâm huyết và có nhiều đóng góp cho chuyên mục “Dành
cho ngư dân” trên VOV1 đài Tiếng nói Việt Nam cho rằng: Những
chương trình truyền thông dành cho ngư dân là rất cần thiết, nên có
thêm nhiều chuyên mục như thế, không chỉ ở báo chí Trung ương mà
ngay ở các tỉnh, thành phố ven biển cũng nên có các chương trình
thủy sản ổn định thường kỳ trên báo chí địa phương.
Để tuyên truyền biển
đảo có hiệu quả, thiết nghĩ các cấp, ngành cần có biện pháp đồng bộ,
phối hợp chặt chẽ, hợp lý. Cần xây dựng kế hoạch, đề cương tuyên
truyền cho từng thời điểm, giai đoạn; triển khai hệ thống chính trị,
phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng cùng vào cuộc. Nên có
quy chế cho công tác tuyên truyền biển đảo trong giai đoạn mới và
thường xuyên sơ kết, tổng kết, giao ban địa bàn, gắn công tác tuyên
truyền biển đảo với chỉ tiêu thi đua. Phát triển kinh tế biển đi đôi
với xây dựng môi trường văn hóa biển. Để nâng cao nhận thức của ngư
dân về biển đảo, trước hết nhận thức của các cấp, ngành, các cán bộ,
đảng viên phải được nâng lên một bước. Được sự đồng ý của Ban Tuyên
giáo Trung ương, Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức các đoàn đi phối hợp
tuyên truyền biển đảo với các tỉnh, thành phố thì các địa phương khá
bất ngờ. Đồng chí Phạm Văn Thanh, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy
Bình Định đã nói: Việc BTL Hải quân tổ chức các hội nghị phối hợp
tuyên truyền biển đảo với các địa phương sẽ đánh dấu bước đột phá
lớn trong công tác tuyên truyền biển đảo. Các đồng chí Quân đội đã
chủ động đi trước một bước, chẳng lẽ chúng tôi là địa phương có biển
lại không làm được sao (?).
Quốc Trung
Về đầu trang
VAI TRÒ CỦA KINH TẾ BIỂN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP
Việt
Nam có hơn 3.260 km bờ biển với dải thềm lục địa lớn gấp 3 - 4
lần diện tích đất liền là tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế
xã hội của đất nước nói chung và ngành công nghiệp nói riêng. Trước
đây khi mà con người chưa đủ các phương tiện, điều kiện kỹ thuật
chinh phục biển thì biển là mối đe doạ, hiểm hoạ rất lớn đối với con
người. Nhưng càng ngày người ta càng tìm thấy tầm quan trọng và tiềm
năng vô cùng to lớn của biển. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng mạnh mẽ, giao lưu hàng hoá giữa các quốc gia ngày càng
nhiều thì chính biển là thế mạnh không thể thay thế được quá trình
phát triển kinh tế. Biển đã nối các quốc gia lại gần nhau. Vận tải
bằng đường biển có chi phí thấp nhất, không phương tiện nào so sánh
được. Biển là nơi cung cấp các loại nguyên liệu phong phú, đa dạng
với số lượng lớn có thể tái tạo cho công nghiệp chế biến như các
loại hải sản, muối. Dưới thềm lục địa có các loại khoáng sản quý như:
dầu, khí, ilmenit, cát thuỷ tinh và rất nhiều các khoáng sản kim
loại khác, là nguồn quan trọng cho phát triển công nghiệp.
Để thấy rõ hơn vai trò của phát triển kinh tế biển trong
phát triển công nghiệp cần xem xét ảnh hưởng của kinh tế biển đối
với công nghiệp trong các lĩnh vực sau:
1. Biển là đường giao thông nối liền với nhiều
quốc gia nhất và có chi phí vận tải thấp nhất nhưng lại có thể đáp
ứng khối lượng vận tải lớn nhất.
Vì vậy, chính vận tải biển phát triển đã thúc đẩy thương
mại các quốc gia, ngày càng trở nên có hiệu quả. Phát triển vận tải
biển thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá, là động lực thúc
đẩy phát triển công nghiệp.
Trong sản xuất công nghiệp, chi phí cho vận tải nguyên vật
liệu, hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn, nhất là khi phải vận chuyển xa từ
quốc gia này đến quốc gia khác, thậm chí từ châu lục này tới châu
lục khác. Vận tải bằng đường biển hầu như không phải làm đường mà
chỉ xây dựng cảng và mua sắm phương tiện vận tải.
Như đã nêu ở trên, với hơn 3.260 km bờ biển, Việt
Nam có một tiềm năng về cảng biển hết sức to lớn. Hệ thống cảng biển
bao gồm trên 80 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có một số cảng đã và
đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy
Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ. Khối lượng hàng hoá thông qua
cảng biển Việt Nam tăng nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng bình quân là
17%/năm. Các cảng lớn như Hải Phòng, Sài Gòn đạt một mức kỷ lục.
Nhưng, nhìn chung các cảng biển vẫn đang ở trong tình trạng kém hiệu
quả, thiếu sức cạnh tranh bởi các lý do: quy mô cảng nhỏ bé, thiết
bị xếp dỡ lạc hậu, thiếu cảng nước sâu, cảng tàu container, những
cảng tổng hợp quan trọng đều nằm sâu trong đất liền như Hải Phòng
(30 km), Sài Gòn (90km) luồng lạch hẹp lại bị sa bồi lớn không cho
phép các tàu lớn ra vào cảng, mặt bằng chật hẹp, thiếu hệ thống
đường bộ, đường sắt nối vào mạng lưới giao thông quốc gia.
Xu thế vận tải hiện nay là sử dụng tàu có trọng tải lớn,
áp dụng các công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa
phương thức. Do vậy, việc xây dựng các cảng nước sâu với trang thiết
bị hiện đại, công nghệ quản lý điều hành tiên tiến là yêu cầu bức
xúc.
Nhận rõ vai trò quan trọng của hệ thống cảng biển đối với
phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghệ nói riêng nên
trong 10 năm qua Nhà nước đã tập trung vốn đầu tư cho một số cảng
trọng điểm như:
- Cảng Hải Phòng hoàn thành giai đoạn I với công suất 6,2
triệu tấn/năm, cho tàu 10.000 DWT ra vào và dự kiến sẽ hoàn thành
giai đoạn II trong kế hoạch 2000 - 2010 với công suất 8 - 8,5 triệu
tấn/năm, cho tàu 10.000 tấn ra vào.
- Cảng Cái Lân: Công suất 1,8 - 2,8 triệu tấn/năm, cho tàu
đến 40.000 tấn ra vào giai đoạn I (năm 2003) và 16 – 17 triệu tấn/năm
cho tàu 50.000 tấn ra vào giai đoạn II (đến năm 2010 - 2020).
- Cảng Sài Gòn: Công suất 8,5 - 9,5 triệu tấn/năm cho tàu
25.000-35.000 tấn ra vào (giai đoạn II đến năm 2010) và một số cảng
khác sẽ được đầu tư cải tạo mở rộng cơ sở vật chất như cảng Cửa Lò,
Quy Nhơn, Nha Trang.
Như vậy, trong thời gian qua chủ yếu mới chỉ tập trung cho
các cảng thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam, một số
cảng chuyên dùng như bến thứ nhất của cảng tàu Dung Quất (liên doanh
Việt Xô); Cảng Nghi Sơn (xi măng). cảng Cát Lát (xi măng và
container) và một số cảng ở khu công nghiệp Gò Dầu, Hiệp Phước...
Có thể nói, chính nhờ có hệ thống giao thông biển mà các
trung tâm công nghiệp lớn của đất nước đã hình thành và phát triển
như khu vực kinh tế trọng điểm Nam Bộ, Bắc Bộ gắn liền với cụm cảng
Sài Gòn và Hải Phòng. Chính nhờ có cảng biển nên đã tạo ra lợi thế
cạnh tranh hoặc xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chế biến.
Để đáp ứng nhu cầu vận tải biển ngày một tăng cho phát
triển kinh tế xã hội đặc biệt là phát triển công nghiệp trong bối
cảnh hội nhập, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể
phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010 với 114 cảng (chưa
kể các cảng tiềm năng). Tất cả các cảng đều gắn liền với các trung
tâm công nghiệp, là đầu mối giao lưu với thế giới trong xuất, nhập
khẩu của đất nước.
Trong những năm sắp tới, nền kinh tế phát triển mạnh theo
hướng hội nhập quốc tế và khu vực, giao lưu hàng hoá quốc tế và
trong nước tăng nhanh, đòi hỏi hệ thống cảng biển cần có những bước
tiến mạnh mới đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. Trên cơ sở
quy hoạch tổng hợp phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cần thực hiện tốt công tác quản lý
quy hoạch hệ thống cảng biển, tiến hành lập và quy hoạch chi tiết
các nhóm cảng quan trọng. Trong đầu tư cảng, cần tạo liên kết cảng
với các hệ thống giao thông mặt đất nhằm tạo thuật lợi nhất cho
khách hàng qua phương thức vận tải đa phương.
Vai trò vận tải ven biển cũng ngày càng tăng đối với hàng
rời thông thường và hàng bách hoá. Đầu tư ngắn hạn cho cảng tại các
cảng tổng hợp với mục tiêu cải tiến nâng cao năng suất cảng, hiện
đại hoá những thiết bị dẫn luồng. Nâng cao chất lượng dịch vụ vận
tải trong xếp dỡ có hiệu quả khuyến khích các tàu lớn, hiện đại vào
cảng Việt
Nam.
Đối với các cảng địa phương và cảng do các Bộ quản lý cần
lựa chọn những cảng có đủ lượng hàng hoá hoạt động có hiệu quả để
nâng cấp nhằm phát huy hiệu quả đầu tư.
2. Phát triển ngành kinh tế biển gắn với phát
triển ngành dầu khí và điện lực Việt Nam
Ngành Dầu khí ngày nay đã trở thành một trong những ngành
chủ lực của Việt Nam, là ngành xuất khẩu hàng đầu của đất nước (trên
3 tỷ USD hàng năm) gắn liền với kinh tế biển. Gần như toàn bộ trữ
lượng dầu khí của nước ta nằm trong thềm lục địa. Trên phần diện
tích thềm lục địa có chiều sâu nước đến 200m, đã phát hiện trữ lượng
dầu khoảng 540 triệu tấn và 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng tiềm
năng dự
báo khoảng 900 - 1.200 tỷ m3
dầu và 2.100 - 2.800 tỷ m3 khí. Như vậy, trữ lượng tiềm
năng tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu và các vùng chồng lấn. Dự báo
đến năm 2010, Việt Nam có thể khai thác từ 30-32 triệu tấn dầu quy
đổi, trong đó dầu thô khai thác khoảng 16 - 18 triệu tấn, khí khoảng
11 - 13 tỷ m3. Nhờ có nguồn dầu khí khai thác, chúng ta
có thể phát triển công nghiệp điện lực, hoá chất (phân bón và hóa
dầu) với quy mô lớn. Các cơ sở công nghiệp này đều gắn liền với các
vùng ven biển như khu khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau; khu lọc hoá dầu
Dung Quất, Nghi Sơn. Đặc biệt, nhờ có khai thác dầu khí mà các ngành
công nghiệp và dịch vụ tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã phát triển
nhanh trong thời gian vừa qua.
Trong tương lai, khi các nguồn điện sơ cấp cạn kiệt thì
việc phát triển phong điện và điện nguyên tử dọc bờ biển sẽ đóng vai
trò vô cùng quan trọng trong công nghiệp.
Biển cung cấp ngày càng nhiều và đa dạng các loại nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến như: cá, tôm, cua, sò, mực, rong, ngọc
trai... dưới dạng đánh bắt tự nhiên và nuôi trồng.
Ngành thuỷ sản (chủ yếu là hải sản) trong những năm gần
đây đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng
trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp nước ta. Năm 2002, giá trị sản
xuất ngành thủy sản chiếm 17,76% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.
Đặc biệt ngành thuỷ sản có giá trị xuất khẩu cao, ước đạt 2.024
triệu USD năm 2002, đứng thứ 3 về xuất khẩu của cả nước sau dầu thô
và dệt may. Năm 2002, ngành thuỷ sản đã đánh bắt và trồng được 2,57
triệu tấn, trong đó cung cấp cho công nghiệp chế biến khoảng 600
ngàn tấn. Dự báo, đến năm 2010 ngành thuỷ sản có thể khai thác và
nuôi trồng được khoảng 3,5 - 4 triệu tấn, trong đó cung cấp khoảng 1
triệu tấn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và có thể đạt giá trị
xuất khẩu từ 4,5 - 5 tỷ USD.
Như vậy, phát triển nuôi trồng và đánh bắt hải sản ở nước
ta ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất
nước nói chung và công nghiệp nói riêng. Ngành công nghiệp chế biến
thuỷ sản đã trở thành ngành mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế cao
của ven biển nước ta.
3. Kinh tế biển gắn với khai thác một số
khoáng sản khác như: ilmenit, zircon, cát thuỷ tinh và muối
Dọc dải bờ biển nước ta có nhiều sa khoáng kim loại, đáng
kể nhất là các sa khoáng ilmenit tập trung ở Hà Tĩnh, Thừa Thiên -
Huế, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận với tổng trữ lượng khoảng 10
triệu tấn. Các khoáng vật đi kèm ilmenit là zircon, monaxit có giá
trị kinh tế cao. Những năm gần đây, công tác khai thác đã được phát
triển mạnh ở Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Bình Định và Bình Thuận với
sản lượng khai thác khoảng 100 ngàn tấn/năm phục vụ cho nhu cầu
trong nước và xuất khẩu. Dự báo đến năm 2010 có thể khai thác từ 250
- 300 ngàn tấn tinh quặng ilmenit. Đây là nguồn nguyên liệu khá lớn
có thể phục vụ cho công nghiệp sản xuất bột TiO2.
Ngoài ilmenit, dọc bờ biển nước ta có nhiều mỏ cát thuỷ
tinh với chất lượng tốt, là nguyên liệu cho sản xuất thuỷ tinh, tập
trung ở Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh
Hoà, Bình Thuận... với tổng trữ lượng đã thăm dò trên 300
triệu tấn. Trữ lượng dự báo khoảng trên 700 triệu tấn.
Hiện nay nhiều địa phương đang khai thác phục vụ cho các
nhà máy sản xuất kính và thuỷ tinh trong nước và xuất khẩu. Tiềm
năng các mỏ quặng ở thềm lục địa nước ta còn khá lớn nhưng do kinh
phí và trình độ của chúng ta còn hạn chế chưa có điều kiện tìm kiếm
thăm dò vùng ngập nước nên chưa khẳng định được.
Có thể nói, kinh tế biển ngày càng giữ vai trò quan trọng
trong nền kinh tế biển đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển
công nghiệp vì biển là cửa ngõ giao lưu với thế giới, tạo điều kiện
cho công tác xuất nhập khẩu hàng hoá thuận lợi với chi phí thấp.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như hiện nay thì
biển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lực cạnh
tranh của quốc gia và của ngành công nghiệp. Ngoài ra, biển còn là
nơi cung cấp nguyên liệu phong phú, đa dạng cho công nghiệp chế biến³
TS. Đỗ Hữu Hào
(Viện Nghiên cứu chiến lược,
chính sách công nghệ)
Về đầu trang
Nâng cao chất lượng dân
quân tự vệ biển
Yêu cầu xây dựng lực lượng và thế trận phòng thủ biển
đảo trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi công tác quản lý, huấn
luyện và hoạt động của dân quân tự vệ biển cần được nâng lên một
bước mới.
Thực hiện Pháp lệnh Dân quân tự vệ, lực lượng dân quân tự vệ (DQTV)
biển đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tổ chức chặt chẽ,
hoạt động hiệu quả. Song, yêu cầu xây dựng lực lượng và thế trận
phòng thủ biển đảo trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi công tác
quản lý, huấn luyện và hoạt động của DQTV biển cần được nâng lên một
bước mới.
Thực hiện tốt ba mặt công tác
Hoạt động của lực lượng DQTV gồm ba nội dung trọng tâm: Xây dựng lực
lượng; giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và tác chiến trị an.
Lực lượng tự vệ biển thuộc Quân chủng Hải quân được xây dựng phù hợp
cơ cấu tổ chức sản xuất của các doanh nghiệp: Quy mô cấp hải đoàn,
hải đội và các tàu, đại đội, trung đội phòng ban trực thuộc hải đoàn.
Ðến nay, các đơn vị tự vệ chiếm 39,8% tổng số cán bộ, công nhân viên
các doanh nghiệp.
Ban chỉ huy các đơn vị tự vệ tăng từ một đến hai cán bộ, phù hợp cơ
cấu hoạt động. Các đơn vị hải quân cũng đã điều động, bổ nhiệm hàng
chục sĩ quan công tác quân sự địa phương; các vùng và Ðoàn M71
thường xuyên phối hợp hiệp đồng với các quân khu, tỉnh, thành phố
ven biển xây dựng lực lượng tự vệ biển. Mô hình điểm DQTV biển được
xây dựng tại Quảng Nam, Ðà Nẵng, Khánh Hòa, Kiên Giang đã phát huy
hiệu quả.
Vừa qua, Vùng A và Quân khu 3 đã xây dựng mô hình DQTV biển trên
làng chài Cửa Vạn thuộc vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). Ðây là mô hình
mới đang được nghiên cứu, hoàn thiện để phát triển, nhân rộng, là cơ
sở để xây dựng lực lượng tự vệ trên các đảo xa bờ.
Do đặc thù hoạt động trên biển, Quân chủng Hải quân đã giao quyền
chủ động nội dung giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự cho các đơn
vị tự vệ biển với yêu cầu đủ nội dung, thời gian, đạt chất lượng.
Quân chủng tiến hành huấn luyện cho các đơn vị tự vệ bằng hình thức
tập trung và phân tán ở các cấp cơ sở, lấy tàu, đại đội, trung đội
làm đơn vị huấn luyện.
Qua 12 năm, quân chủng đã huấn luyện tự vệ tập trung trên biển được
130 ngày với quân số gần 2.000 người. Quân chủng còn chỉ đạo các
phòng, ban chức năng cử cán bộ xuống giúp các đơn vị tự vệ tổ chức
huấn luyện; tổ chức hội thao cho cụm tự vệ phía bắc và phía nam.
Ngoài ra, căn cứ vào điều kiện sản xuất, kinh doanh, một số đơn vị
tự vệ triển khai nhiều hình thức huấn luyện phong phú, sáng tạo như
huấn luyện từ xa qua tài liệu, băng đĩa, huấn luyện vào ngày nghỉ...
Những năm qua, các đơn vị tự vệ đã xây dựng, hoàn chỉnh kế hoạch tác
chiến trị an, phối hợp chính quyền và các lực lượng vũ trang trong
chống cướp có vũ trang trên biển, cướp phá tàu, thuyền kết hợp sản
xuất với tham gia quản lý bảo vệ chủ quyền biển đảo; phòng, chống
bão lũ, tìm kiếm, cứu nạn; tuyên truyền về Pháp lệnh DQTV, tuyên
truyền về biển, đảo.
Chế độ trực chỉ huy, trực ban nắm tình hình hoạt động của đơn vị; tổ
chức hệ thống đài canh (24/24 giờ) bảo đảm an toàn sản xuất và hoạt
động của các tàu đi biển được duy trì thường xuyên. Các vùng và Ðoàn
M71 hiệp đồng với các tỉnh, thành phố ven biển khảo sát đăng ký tàu
thuyền và huy động lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo...
Những khó khăn cần tháo gỡ
Tại Hội nghị tổng kết 12 năm thực hiện Pháp lệnh DQTV, Ðại tá Nguyễn
Văn Kiệm, Phó Tham mưu Hải quân, nêu rõ: DQTV biển là lực lượng bán
quân sự, có nghĩa vụ và trách nhiệm cùng với các lực lượng vũ trang
mà nòng cốt là hải quân bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, thềm
lục địa của Tổ quốc. Công tác quản lý và hoạt động của lực lượng
DQTV biển cần phù hợp thực tế và yêu cầu nhiệm vụ mới; những vướng
mắc, phát sinh cần giải quyết dứt điểm để xây dựng các đơn vị tự vệ
đủ mạnh, hoàn thành các nhiệm vụ được giao...
Ðể thực hiện tốt chức năng của mình, các cấp, ngành và lực lượng
DQTV biển cần vượt qua những khó khăn. Nhận thức của một số cơ quan,
đơn vị về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Pháp lệnh chưa
sâu sắc, việc triển khai thực hiện còn có hạn chế. Các đơn vị tự vệ
biển chưa mạnh dạn đổi mới cơ cấu tổ chức tự vệ cho phù hợp các điều
quy định, có cơ quan còn để lực lượng tự vệ quá lớn, cồng kềnh.
Cán bộ quân sự đảm nhiệm công tác DQTV còn thiếu và phải kiêm nhiệm.
Một vài nội dung, chương trình huấn luyện còn chưa theo kịp diễn
biến tình hình, bảo đảm vật chất huấn luyện trên biển khó khăn, đặc
biệt là xăng, dầu. Từ khi các doanh nghiệp đổi mới cơ chế sản xuất,
kinh doanh theo mô hình cổ phần hóa thì công tác huấn luyện gặp
nhiều khó khăn vì khó bảo đảm đủ quân số; huấn luyện khối tàu chủ
yếu là huấn luyện từ xa thông qua tài liệu, văn bản...
Từ kế hoạch bảo vệ cơ quan, xí nghiệp, các đơn vị cần cụ thể hóa
thành kế hoạch hoạt động DQTV biển; thường xuyên nắm tình hình an
ninh trên biển để hiệp đồng tốt với lực lượng vũ trang, chính quyền
và nhân dân địa phương trong bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội. Lãnh đạo các doanh nghiệp cần nghiên cứu, tổ chức thật
tốt việc phát triển kinh tế biển với duy trì hoạt động của tự vệ
biển, trước hết là nắm và báo cáo tình hình, tham gia xử lý các hoạt
động xâm phạm vùng biển và cứu hộ, cứu nạn trên biển.
Theo báo Nhân Dân
Về đầu trang
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM
BAN TUYÊN GIÁO
Số: 65-HD/BTGTW
Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2008
HƯỚNG DẪN
CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN BIỂN, ĐẢO NĂM 2009
Căn cứ vào Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) của Đảng
về "Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020";
Căn cứ vào Thông báo số 188 - TB/TW, ngày 07 tháng 10
năm 2008, thông báo ý kiến của Ban Bí thư về đẩy mạnh việc thực hiện
Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020;
Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế và
bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và những năm tiếp theo, Ban
Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn công tác tuyên truyền biển, đảo năm
2009 như sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1- Mục đích:
- Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền biển, đảo
nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các
cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của
biển, đảo nước ta. Phấn dấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước
ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giầu từ biển, bảo vệ vững
chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc.
- Chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền nhằm tiếp
tục tổ chức, triển khai thực hiện nghị quyết, chương trình hành động
của cấp ủy các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung
ương 4 (khoá X ) của đảng về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.
2- Yêu cầu:
- Trên cơ sở nắm vững 3 quan điểm chỉ đạo và 9 nhiệm
vụ, giải pháp trong định hướng Chiến lược biển Việt Nam đến 2020 của
Đảng và cụ thể hoá những nội dung này cho năm 2009, gắn với yêu cầu,
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước vừa được Quốc hội
khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua. Đổi mới mạnh mẽ về nội dung và
cách thức tuyên truyền, coi trọng chất lượng, hiệu quả và sự phù hợp
về đối tượng, địa bàn cũng như thời lượng tuyên truyền.
- Thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết,
tổng kết công tác tuyên truyền biển, đảo một cách nghiêm túc; gắn
với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, bộ, ngành, địa
phương theo chương trình, kế hoạch đã đề ra. Chú trọng việc trao đổi
những bài học kinh nghiệm, những điểm mới, những sáng kiến trong
công tác tuyên truyền biển, đảo của các lực lượng tham gia tuyên
truyền.
II. NỘI DUNG, NHIỆM VỤ TUYÊN TRUYỀN
Căn cứ vào tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết
về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 của từng đơn vị, bộ, ngành,
địa phương (đặc biệt đối với các tỉnh, thành có biển, đảo; các bộ,
ngành có nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến biển, đảo) để xác định nội
dung tuyên truyền phù hợp, đạt hiệu quả thiết thực; trên cơ sở mục
tiêu và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, địa
phương, đơn vị và cả nước trong năm 2009, theo đó nội dung, nhiệm vụ
tuyên truyền cần bám sát một số định hướng lớn sau đây:
1- Nội dung tuyên truyền:
- Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai
trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo.
Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, nhấn mạnh
những thời cơ, thách thức; thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu
quả to lớn của việc thực hiện chiến lược biển đối với sự phát triển,
ổn định của đất nước trong năm 2009.
- Tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ
thông về Luật Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của
Nhà nước ta; những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam
đối với các quần đảo trên biển Đông (đặc biệt 2 quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa), khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc
giải quyết tranh chấp; tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực
hiện các văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các
nước láng giềng, các nước có liên quan; tuyên truyền giáo dục cho
toàn dân nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển,
đảo của Tổ quốc, góp phần gìn giữ hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát
triển giữa các quốc gia vùng Biển Đông.
- Tuyên truyền, giới thiệu những thành tựu phát triển
kinh tế biển, đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước; vai trò
của các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển kinh tế,
biển, đảo; chú trọng tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến,
các nhân tố mới, nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh - xã hội,
đảm bảo giữ gìn an ninh và chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
- Tuyên truyền các định hướng về điều tra cơ bản tài
nguyên, môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; bảo
vệ môi trường biển, công tác dự báo, phòng chống và cảnh báo thiên
tai, cứu hộ, cứu nạn.
- Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các
hiện tượng sai trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên biển, đảo; phê
phán các hành vi đánh bắt có tính chất hủy diệt nguồn lợi thủy, hải
sản, phá hoại môi trường sinh thái biển; tàu thuyền nước ngoài vi
phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của nước ta; đấu tranh phản
bác các luận điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch xuyên
tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
- Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình
cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với các chiến sĩ, các lực lượng
đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ toàn
vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
2- Nhiệm vụ:
- Các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương;
ban cán sự Đảng, đảng đoàn các cơ quan, đoàn thể, bộ, ban, ngành
Trung ương có trách nhiệm tiếp tục chỉ đạo tuyên truyền cho các cán
bộ, đảng viên và nhân dân thuộc cơ quan, đơn vị và địa phương mình.
- Ban Chỉ đạo Nhà nước về biển Đông và hải đảo chủ
trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng kế hoạch tổng
thể, các nội dung, nhiệm vụ chủ yếu về tuyên truyền phát triển kinh
tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo năm 2009, chỉ đạo tuyên truyền cho
các đơn vị chủ lực trực tiếp làm công tác này ở Trung ương và địa
phương.
- Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức truyền đạt nội
dung này tại các hội nghị báo cáo viên 3 miền. Đồng thời, tổ chức
chỉ đạo hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên thực hiện tốt nhiệm
vụ tuyên truyền miệng trong nhân dân.
- Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Biên giới quốc gia chủ trì,
phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Biên phòng, Cục cảnh
sát biển và một số cơ quan chức năng của Ban Tuyên giáo Trung ương,
Bộ Công an có trách nhiệm thường xuyên tổng hợp, cung cấp thông tin
có định hướng, đặc biệt là các vấn dề nhạy cảm, đảm bảo phù hợp về
nội dung, đối tượng và thời điểm tuyên truyền.
- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp cùng
với Bộ Thông tin và truyền thông, chỉ đạo, hướng dẫn công tác tuyên
truyền cho các cơ quan thông tấn, báo chí ở Trung ương và địa phương;
phối hợp với Uỷ ban Biên giới quốc gia và các bộ, ngành liên quan
biên soạn một số loại tài liệu cần thiết phục vụ công tác tuyên
truyền.
- Bộ Giáo dục và đào tạo chủ trì, phối hợp với Ban
Tuyên giáo Trung ương nghiên cứu, biên soạn tài liệu về tuyên truyền
biển, đảo để từng bước đưa vào các chương trình giảng dạy trong các
nhà trường của hệ thống giáo dục quốc dân.
3- Hình thức tuyên truyền
Căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ cụ thể, điều kiện cụ
thể, cũng như khả năng của từng đơn vị, địa phương, các bộ, ban,
ngành để lựa chọn hình thức tuyên truyền sao cho thiết thực, hiệu
quả. Các hình thức tuyên truyền bao gồm: sách, báo (báo viết, báo
nói, báo hình, báo điện tử...), tài liệu tuyên truyền, panô, áp
phích, tờ rơi, triển lãm, thi tìm hiểu, thi sáng tác những tác phẩm
văn học nghệ thuật về biển, đảo; các cuộc trao đổi tọa đàm, đối
thoại, hội nghị, hội thảo, coi trọng hình thức tuyên truyền
miệng.v.v . . .
III. KẾ HOẠCH VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN
1- Xây dựng kế hoạch
tuyên truyền biển, đảo năm 2009; lồng ghép nội dung tuyên truyền
biển, đảo vào nội dung tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị
của cấp ủy Đảng các cấp, các đơn vị, bộ, ngành. Thời gian dự kiến
hoàn thành chậm nhất trong quý 4 năm 2008.
2- Chủ động phối họp
chặt chẽ, có hiệu quả giữa các đơn vị, địa phương, các bộ, ban,
ngành, các lực lượng tham gia tuyên truyền (cả về nội dung, tài liệu,
cách thức). Thực hiện ngay từ tháng đầu, quý đầu năm 2009;
3- Tổ khúc tốt các hoạt
động tuyên truyền, giao lưu, kết nghĩa, tặng quà cho các chiến sĩ
làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa. Theo kế hoạch của các đơn vị được
phân công.
4- Phối hợp với các cơ
quan chỉ đạo ở Trung ương tổ chức tốt các hội nghị tập huấn, điều
tra khảo sát về công tác tuyên truyền biển, đảo tại 3 miền. Thời
gian dự kiến vào quý II, III năm 2009.
5- Hội nghị tổng kết
công tác tuyên truyền biển, đảo toàn quốc, thời gian dự kiến vào
trung tuần tháng 1 năm 2010.
Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đề nghị
phản ánh kịp thời về Ban Tuyên giáo Trung ương qua Vụ Thông tin đối
ngoại và Hợp tác quốc tế
K/T TRƯỞNG BAN
PHÓ TRƯỞNG BAN
NGUYỄN BẮC SON
Về đầu trang
Tăng cường phát triển kinh
tế quốc phòng trên biển
Biển từ lâu đời đã có một vị trí chiến lược quan
trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Biển của nước ta như một sân
trước, là một vùng địa lý cửa ngõ của quốc gia. Trong lịch sử, kẻ
thù xâm lược chủ yếu lợi dụng tấn công từ hướng biển, từ thời Nam
Hán, Nguyên Mông, đến Pháp, Mỹ... Nước ta có hơn 3.200 km bờ biển,
có các vùng biển và bờ biển quan trọng liên quan trực tiếp tới an
ninh - quốc phòng, bảo vệ kinh tế và tài nguyên biển. Đặc biệt, các
vùng biển của nước ta được xác định là vùng kinh tế quan trọng, có
thể nói quyết định tới chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong
tương lai. Đây không phải là một yêu cầu và đặc điểm riêng của nước
ta. Nhiều nước khác có biển đã phát huy thế mạnh của biển để phát
triển cả kinh tế - quốc phòng. Nền kinh tế tương lai sẽ dựa nhiều
vào việc Thành phố kinh tế biển. Biển và chiến lược biển được xem
như một chiến lược toàn cầu của loài người.
Hiện nay, tình hình trên biển nước ta phức tạp, có
nhiều nhân tố không ổn định. Các thế lực thù địch đối với chủ quyền
biển đảo vẫn tiến hành các hoạt động ngăn chặn, chống phá, xâm lấn
với nhiều thủ đoạn khác nhau. Tàu thuyền của số nước trong khu vực
tiếp tục có những hoạt động trái phép như xâm phạm vùng biển nước ta
để thăm dò khí, thăm dò tình hình đánh bắt trộm hải sản, cướp biển.
Đặc biệt có một số tàu đánh cá vũ trang nước ngoài khi đụng độ với
tàu ngư dân của ta, đã tấn công gây thiệt hại về sinh mạng và tài
sản cho nhân dân. Đối với vấn đề an ninh chiến lược, nhiều thế lực
âm mưu muốn là chủ và đặt Biển Đông thành tuyến phòng thủ cũng như
tuyến tấn công của họ. Trong tương lai khu vực Biển Đông với nguồn
tiềm năng kinh tế lớn và ở vị trí chiến lược trên Thái Bình Dương sẽ
còn nhiều diễn biến phức tạp. Do đó chúng ta phải xác định vị trí
của công tác bảo vệ một cách có hệ thống chủ yếu trên biển và phát
triển kinh tế biển gắn với quốc phòng và an ninh trên biển.
Hiện nay, Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt
bảo vệ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc. Quân chủng đã
tích cực và chủ động tổ chức phát triển các doanh nghiệp kinh tế gắn
với công tác bảo vệ chủ quyền biển đảo. Những mô hình này tiếp tục
được củng cố và phát triển, ngành kinh tế của Hải quân được Bộ Quốc
phòng đánh giá là đơn vị dẫn đầu toàn quân về hiệu quả hoạt động,
đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước, tập trung vào những ngành
như: Dịch vụ cảng biển, xây dựng công trình biển đảo, dịch vụ bảo vệ
dầu khí, đánh bắt và sản xuất hải sản, ngoài ra còn tham gia cứu nạn
trên biển. Điển hình có các đơn vị như Công ty 128 (Công ty Biển
Đông) tham gia bảo vệ các công trình dầu khí trên biển tại khu vực
mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng. Các tàu của Công ty trực liên tục 24/24 giờ
tại các vị trí, đã ngăn chặn 1.351 lượt tàu xâm nhập trái phép, xua
đuổi họ. Đồng thời nắm vững tình hình an ninh trên biển. Công ty Hải
sản Trường Sa (Đoàn M29) là công ty đánh bắt xa bờ, vừa tham gia
đánh bắt hải sản, sản xuất hàng hải sản, vừa là lực lượng nòng cốt,
giúp bảo vệ ngư dân tiến hành sản xuất trên biển, đảo.
Công ty đã tổ chức làm dịch vụ hậu cần nghề cá cho
ngư dân, tham gia tìm kiếm cứu nạn, chống buôn lậu và cướp biển.
Quân cảng Sài Gòn là đơn vị làm dịch vụ khai thác cảng biển, trở
thành một đơn vị tiêu biểu, xuất sắc trong nhiệm vụ quốc phòng gắn
với kinh tế, đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Nhiệm vụ kết
hợp quốc phòng - kinh tế, được vận dụng nhuần nhuyễn từ khâu quy
hoạch, nâng cao và hiện đại hệ thống cảng, xây dựng bến bãi, mặt
bằng, cơ sở hạ tầng, mua sắm các phương tiện thiết bị khai thác đều
được tính toán, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến
đấu khi xảy ra chiến tranh hoặc bạo loạn. Từ năm 2000 - 2003, quân
cảng đã bốc dỡ được hơn 28.000 tấn hàng quân sự, phục vụ tàu quân sự
rời cập bến, đưa đón 1.004 đoàn khách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ
đi thăm và kiểm tra đảo. Quân chủng cũng đã tổ chức lực lượng tự vệ
chiến đấu đủ sức tự vệ phòng thủ khi có tình huống ở khu vực. Đặc
biệt, Công ty Vận tải xăng dầu đường thuỷ 1 là đơn vị nằm trong Tổng
công ty Xăng dầu Việt Nam đã thành lập Hải đoàn tự vệ biển do Bộ Tư
lệnh quân chủng Hải quân quản lý, tổ chức và xây dựng lực lượng.
Tổng doanh thu của Công ty năm 2003 lên đến 486,44 tỷ đồng, nộp ngân
sách Nhà nước l6,57 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 3,5
triệu đồng/người/tháng. Công ty có đội tàu biển, tàu chở dầu hoạt
động trong và ngoài nước, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ. Tháng 8 năm 2000, Công ty được Đảng và Nhà nước phong tặng danh
hiệu Anh hùng lao động. Hải đoàn được biên chế thành các đại đội,
trung đội tự vệ, chú trọng tham gia huấn luyện thực hành nhằm nâng
cao trình độ thao tác sử dụng vũ khí, thực hành các phương án trên
biển; ngoài ra còn tự huấn luyện cho lực lượng tự vệ của 3 tàu biển
là Petrolimex 06, Hạ Long 01, Hạ Long 04 các phương án chiến đấu
trong quá trình hoạt động trên biển.
Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, các
cơ quan đơn vị trong ngoài quân đội, các địa phương có vùng biển cần
tiếp tục tăng cường các biện pháp và tổ chức sáng tạo, có hiệu quả
các mô hình khoa học - kinh tế - quốc phòng trên biển, chú trọng
quán triệt và chấp hành Chỉ thị 16 CT-ĐU ngày 5/10/2002 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của cảng với lực lượng
dân quân tự vệ, dự bị động viên trong tình hình mới. Đối với các
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trên biển, cần tăng cường tổ chức và
phát triển lực lượng dân quân tự vệ biển, lực lượng dự bị động viên
và thực hiện tốt công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cho các lực
lượng này đủ khả năng bảo vệ quá trình sản xuất, bảo vệ dân, phát
triển kinh tế biển và chống cướp biển. Đối với các địa phương có
biển, cần tổ chức lực lượng dân quân tự vệ biển, tổ chức giáo dục và
huấn luyện chiến đấu cho bà con ngư dân tự vệ khi đi biển và các
biện pháp chống trả cướp biển. Cần tiếp tục mở rộng và quy hoạch
những cảng cá lớn ở bờ biển tại Vũng Tàu, Nha Trang, Hải Phòng, Đà
Nẵng, Kiên Giang... vừa là nơi neo đậu xuất phát cho các tàu ngư dân,
vừa làm các tuyến tập trung hậu cần khi có chiến tranh trên biển xảy
ra. Việc quy hoạch phát triển kinh tế ở các đảo và quần đảo phải gắn
bó với công tác xây dựng địa bàn quốc phòng và an ninh, xây dựng hệ
thống bố phòng trong thế trận "Quốc phòng toàn dân và an ninh nhân
dân". Nghị quyết đại hội Đảng IX đã nhấn mạnh: "Phát triển tổng hợp
kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cảng
biển hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng
khác xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi".
Đây chính là phương hướng chiến lược phát triển kinh
tế biển của nước ta.
Là chủ vùng biển giàu đẹp của Tổ quốc, không những
phát triển kinh tế mà còn bảo vệ và duy trì chủ quyền một cách vững
chắc, lâu dài, gắn với chiến lược quốc phòng an ninh trong giai đoạn
mới mà Đại hội IX xác định.
Trần Mạnh Tâm
Về đầu trang
Một số thông tin về tuyên
bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)
Xuất phát từ nhận thức sự cần thiết phải thúc đẩy một
môi trường hoà bình, thân thiện, và hoà hợp ở Biển Đông giữa ASEAN
và Trung Quốc cho việc tăng cường hoà bình, ổn định, phát triển kinh
tế và thịnh vượng trong khu vực, ngày 4/11/2002, trong khuôn khổ Hội
nghị cấp cao ASEAN lần thứ VIII tại Phnôm Pênh (Campuchia), ASEAN và
Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông
nhằm cam kết thúc đẩy những nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố
chung 1997 giữa ASEAN - Trung Quốc và mong muốn tăng cường những
điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết một cách hoà bình và lâu dài
những bất đồng, tranh chấp giữa các nước có liên quan.
Như vậy, sau gần một thập niên thương lượng giữa các
nước ASEAN với nhau, giữa các nước ASEAN với Trung Quốc, các bên
liên quan mới ký được văn bản nói trên. Trong tuyên bố chung về Biển
Đông 1992, lần đầu tiên các nước ASEAN đã bày tỏ mong muốn xây dựng
được một bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực ra các cuộc thương lượng bên
trong khối ASEAN và giữa Trung Quốc với ASEAN chỉ thực sự khởi đầu
vào năm 1995. Tháng 7/1995, Trung Quốc và Philippin ra tuyên bố
chung về Biển Đông, theo đó hai bên đồng ý sẽ nghiên cứu các nguyên
tắc ứng xử tại những nơi đang có tranh chấp. Tháng 11/1995, Việt Nam
và Philippin cũng ký một thoả thuận chung nói đến những nguyên tắc
cơ bản cho việc xây dựng một bộ luật ứng xử tại Biển Đông. Sau nhiều
năm thương lượng, cuối cùng Trung Quốc đã chấp nhận ký với các nước
ASEAN một tuyên bố đề cập đến phương cách ứng xử ở Biển Đông. Thoả
thuận này đã đạt được sau nhiều cuộc đàm phán trường kỳ do ông Chem
Widhya, Thư ký thường trực thuộc Bộ Ngoại giao Campuchia chủ toạ.
Ông cho biết bốn nước ASEAN trung tâm của các cuộc tranh chấp là
Brunây, Malaixia, Philippin và Việt Nam đã đạt được thoả thuận về
văn kiện chung ngày 11/10/2002. Sáu thành viên còn lại của ASEAN là
Campuchia, Inđônêxia, Lào, Mianma, Xingapo và Thái Lan đã thông qua
văn kiện này ngày 31/10/2002. Trung Quốc đã nhất trí ngày
01/11/2002. Ông Chem Widhya nói : "Trong vòng 15 ngày, chúng tôi đã
đi từ bước ngoặt này tới bước ngoặt khác. Đây là một thoả thuận
chính trị và ngoại giao then chốt".
Theo Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông,
các bên đồng ý tự kiềm chế, tránh những hành động có thể gây căng
thẳng và xung đột tại Biển Đông; tổ chức tiếp xúc thường xuyên giữa
giới quân sự hai bên; và thông tin cho nhau về những cuộc tập trận.
Để đạt được kết quả lần này, các bên đã có một số nhượng bộ. Văn bản
ký kết cuối cùng mang tên là Tuyên bố cách ứng xử (Declarateon on
the conduct), ít tính ràng buộc, chứ không phải Bộ Quy tắc về ứng xử
(Code of Conduct) mang tính ràng buộc nhiều như ASEAN mong muốn lúc
đầu. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đã đồng ý sẽ tiếp tục đàm phán để
tiến tới xây dựng một bộ luật có tính ràng buộc nhiều hơn. Văn bản
lần này cũng không nêu tên các khu vực cụ thể Hoàng Sa hay Trường Sa
như yêu cầu của một số nước ASEAN (trong đó có Việt Nam), mà chỉ nêu
chung chung khu vực Biển Đông. Bên cạnh đó, các nước ASEAN cuối cùng
cũng đã đồng ý xoá cụm từ "không xây dựng các cơ sở mới" tại khu vực
mà Philippin yêu cầu. Nhìn chung, Tuyên bố đạt được tại Hội nghị cấp
cao ASEAN lần này còn mang tính đại cương và ít ràng buộc, nhưng chỉ
riêng việc đạt được thoả thuận và ký kết đã là một bước tiến quan
trọng trong việc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN. Nếu được các
bên thực hiện nghiêm túc, thoả thuận sẽ giúp tránh được các xung đột
tại Biển Đông như đã từng xảy ra và giữ ổn định cho khu vực có tầm
quan trọng rất lớn về địa chiến lược này.
Bình luận về Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển
Đông, Giáo sư Xtaiơ Tônếchxơn, Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế
nghiên cứu hoà bình tại Na Uy, chuyên gia về Đông Nam á giải thích
vì sao Bắc Kinh lại chấp nhận ký bản Tuyên bố vào lúc này, có hai lý
do chính: Trước tiên, Trung Quốc hiện nay rất muốn mở rộng và tăng
cường quan hệ với các nước láng giềng. Bằng mọi giá, Bắc Kinh muốn
tránh xung đột với các nước vùng Đông Nam á vào lúc Mỹ đang tiến
hành một chính sách rất năng động, thậm chí còn là hiếu chiến trên
phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, Trung Quốc muốn xử sự ôn hoà với các
nước trong khu vực, với Nga, với Nhật Bản, Hàn Quốc và việc xích lại
gần khối ASEAN là một bộ phận trong chính sách đối ngoại ôn hoà
chung của Bắc Kinh. Lý do thứ hai, đó là các nước ASEAN đã từ bỏ một
số yêu sách và chấp nhận đưa ra một số nhượng bộ. So với các văn bản
dự thảo trước đây, bản Tuyên bố vừa được ký có nhiều điểm thay đổi.
Phân tích nội dung, Giáo sư Xtaiơ Tônếchxơn cho rằng
bản Tuyên bố có bốn điểm tích cực: thứ nhất, bản Tuyên bố có thể
giúp tạo ra hoà dịu trong quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN. Điều
tích cực nhất của văn bản này là nó có một ý nghĩa biểu tượng quan
trọng cho phép ngăn ngừa mọi khả năng xảy ra xung đột; thứ hai, bản
Tuyên bố không phải là một văn kiện mang tính chất ràng buộc, nhưng
một khi đã ký các bên liên quan khó có thể chối bỏ những nguyên tắc
không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp tại vùng Biển Đông;
thứ ba, có tác dụng ngăn ngừa các bên liên quan chiếm đóng hoặc thực
hiện các hoạt động tại những nơi đang có tranh chấp. Tuy nhiên, danh
từ "hoạt động" được nói trong văn kiện này lại có nội dung rất chung
chung. Trước đây Trung Quốc không chấp nhận đề nghị của các nước
ASEAN ngăn chặn việc sử dụng các cơ sở hạ tầng, nhà cửa mới trên các
hòn đảo đang có tranh chấp. Trong Tuyên Bố các bên chỉ cam kết không
tiến hành hoạt động tại những nơi này, tất cả phụ thuộc vào cách
giải thích lẫn lộn khái niệm hoạt động. Nếu khái niệm này bao gồm cả
việc không sử dụng nhà cửa, các cơ sở hạ tầng mới trên các hòn đảo
đang có tranh chấp thì đây là một điều tích cực của bản Tuyên bố;
thứ tư, bản Tuyên bố mang tính chất văn kiện điều phối quan hệ đa
phương. Trước đây, Trung Quốc chỉ muốn giải quyết những tranh chấp ở
vùng Biển Đông thông qua quan hệ song phương, tức là giữa Trung Quốc
với từng nước ASEAN. Bản Tuyên bố đã đưa ra nguyên tắc giải quyết
các tranh chấp ở Biển Đông trong khuôn khổ quan hệ đa phương.
Theo điểm 10 của Tuyên bố, các bên có liên quan khẳng
định việc thông qua bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông sẽ thúc đẩy hơn
nữa hoà bình và ổn định trong khu vực, và nhất trí hành động trên cơ
sở đồng lòng nhằm đạt được mục tiêu này, Giáo sư cho rằng nếu Trung
Quốc chấp nhận thảo luận một bộ quy tắc ứng xử, thì Bắc Kinh sẽ phải
quan tâm đến khía cạnh hợp tác khai thác kinh tế tại những nơi đang
có tranh chấp. Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông được soạn thảo ra chỉ
có vai trò ngăn ngừa các cuộc xung đột có thể xảy ra. Trung Quốc sẽ
chỉ nhấn mạnh đến việc hợp tác khai thác kinh tế hoặc hợp tác trên
các lĩnh vực khác và tránh không đề cập việc giải quyết tranh chấp
chủ quyền. Có lẽ Bắc Kinh chỉ muốn có một bộ quy tắc ứng xử xoay
quanh hai vấn đề nêu trên. Nếu như vậy, các nước ASEAN khó có thể
chấp nhận, vì không thể hợp tác khai thác kinh tế tại một khu vực
không rõ chủ quyền thuộc về ai và e ngại rằng sau bản Tuyên bố này,
Trung Quốc sẽ tiến hành đàm phán với một số nước để hợp tác khai
thác kinh tế tại những nơi đang có tranh chấp ở Biển Đông, mà không
cần tham khảo ý kiến của nước liên quan khác.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho
biết lập trường chủ quyền trong vấn đề Biển Đông của Trung Quốc là
rõ ràng và nhất quán, những tranh chấp liên quan đến lãnh thổ cần
thông qua đàm phán giải quyết hoà bình giữa đôi bên. ý nghĩa tích
cực trong việc ký kết tuyên bố chung này là muốn phát đi tín hiệu rõ
ràng với bên ngoài: Các nước trong khu vực hoàn toàn có thể đối
thoại để xử lý những bất đồng tồn tại, thông qua hợp tác để duy trì
hoà bình và ổn định khu vực Biển Đông. Tổng thống Philippin Glorio
Macapagal Arroyo trong chuyến thăm Việt Nam nói rằng thoả thuận mới
về cách ứng xử ở Biển Đông sẽ góp phần cải thiện mối quan hệ của
Philippin với Việt Nam ủng hộ bản tuyên bố về cách ửng xử ở Biển
Đông. Một nguồn tin Bộ Ngoại giao Malaixia cho biết Malaixia rất hài
lòng về bước đột phá này việc ký kết Tuyên bố là nước liên quan và
bước đột phá này sẽ mang lại dấu hiệu tích cực cho cộng đồng quốc tế
mà tất cả các nước trong khu vực đã cam kết bảo đảm và duy trì nền
hoà bình và sự ổn định.
Ngày 10/12/2002, phát biểu ý kiến tại Đại hội đồng
Liên hợp quốc về đề mục "Luật biển và đại dương", liên quan đến vấn
đề Biển Đông, Đại sứ Nguyễn Thành Châu, đại diện thường trực của
Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhấn mạnh: Việt Nam chia sẻ quan điểm
của tất cả các bên liên quan rằng mọi bất đồng phải được giải quyết
bằng biện pháp hoà bình, thông qua thương lượng, trên tinh thần bình
đẳng, tôn trọng lẫn nhau và triệt để tuân theo luật pháp quốc tế,
đặc biệt là Công ước về Luật biển 1982. Việt Nam hài lòng trước việc
các nước ASEAN lần thứ VIII. Việt Nam coi đây là một bước đi tích
cực tiến tới hình thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.
Báo Financial Times ra ngày 5/11 viết: "Thoả thuận
giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN nhằm giải quyết tranh chấp trên
quần đảo Trường Sa thông qua các biện pháp hoà bình là hành động
đáng khích lệ đối với ổn định khu vực. Nhưng ý nghĩa lớn hơn của
việc này là ở chỗ Trung Quốc dường như quyết tâm hành động với tư
cách một cường quốc khu vực có trách nhiệm, từ từ nhưng không lay
chuyển trong tham vọng trở thành bá chủ Đông á. Thoả thuận này chắc
chắn không thể giải quyết toàn bộ vấn đề Trường Sa, mà chỉ là tuyên
bố về ý định, những lời hứa hẹn rằng tất cả các bên tranh chấp sẽ
kiềm chế trong đòi hỏi của mình đối với các hòn đảo. Các bên ký kết
cũng đồng ý sẽ thông báo cho nhau về cuộc tập trận quân sự trong khu
vực, nhưng vẫn chưa có thoả thuận rõ ràng về việc các bên tranh chấp
sẽ phân chia nguồn dầu quanh các đảo như thế nào. Tuy nhiên, thảo
thuận này có ý nghĩa rất quan trọng. Trung Quốc, một cường quốc kinh
tế quân sự ở Đông á đang đánh tín hiệu muốn thiết lập quan hệ hoà
hợp với các nước láng giềng".
Việc với các nước ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố
cách ứng xử của các bên ở Biển Đông là bước quan trọng tiến tới xây
dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông như lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc
đã thoả thuận, và mở đường cho một giải pháp cơ bản, lâu dài đối với
các tranh chấp ở Biển Đông, Tuyên bố đã khẳng định quyết tâm của các
nước ASEAN và Trung Quốc, củng cố, phát triển tình hữu nghị, sự hợp
tác hiện nay giữa nhân dân và chính phủ các nước này, nhằm thúc đẩy
mối quan hệ đối tác láng giềng thân thiện và tin tưởng lẫn nhau
hướng tới thế kỷ 21.
Về đầu trang
Những vấn đề sinh thái
kinh tế trước mắt của vùng biển ven bờ Việt Nam
Trong quá trình xây và dựng nước, vùng biển đã gánh
vác ba chức năng: một là cung cấp thực phẩm, nguyên vật liệu; hai là
đồng hoá và tái tạo chất thải; ba là đóng vai trò bình diện, giá đỡ
cho mọi hoạt động quốc phòng, kinh tế, xã hội. Cũng như trước đây,
vùng biển hiện đang là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để
giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề kinh tế, xã hội cấp
bách hiện nay: thực phẩm, nguyên vật liệu, hàng xuất khẩu, tạo công
ăn việc làm và là vành đai thép để bảo vệ Tổ quốc. Với mục tiêu
chiến lược kinh tế làm tăng thu nhập quốc dân hàng năm lên 5-6% vào
những năm 2000, vùng biển thực sự là nơi chúng ta đặt nhiều hy vọng
và trông chờ.
Chúng ta đã có những thành tích đáng kể trong quá
trình khai thác và sử dụng các vùng biển. Hàng năm, riêng về nguồn
lợi thuỷ sản, chúng ta đã khai thác được cỡ 1,1 đến 1,3 triệu tấn
bao gồm cá, tôm, cua, các loại nhuyễn thể, rong câu, rong mơ. Nghĩa
là chúng ta đã khai thác cỡ 0,02 đến 0,04% tổng lượng sản phẩm được
tạo ra trong quá trình sản xuất tự nhiên của các hệ sinh thái ven
biển, khoảng 3,2 đến 5,5 tỷ tấn. Theo các quan điểm sinh thái, đó là
hệ số không nhỏ. ở đây chúng ta còn chưa tính đến các nguồn lợi đặc
sản khác nhau đang có giá trị trên thị trường: tổ yến sào, các loại
ốc biển quý hiếm, các loài san hô đỏ, các loài bò sát... Những con
số đó hết sức có ý nghĩa và gây cho chúng ta những ấn tượng mạnh mẽ,
nhất là trong những hoàn cảnh cụ thể của nước ta: một nước đang phát
triển, có nguồn vốn hạn chế, lại chưa có những phương tiện trang
thiết bị đặc thù.
Những điều làm cho mọi người quan tâm trăn trở là lợi
nhuận của các vùng biển còn khá khiêm nhường so với bản chất sinh
thái kinh tế của chính nó, với giá trị kinh tế hải dương của các
nước láng giềng có cùng một vị trí địa lý và đang ra sức khai thác
biển Nam Trung Hoa. Tuy vậy cũng đã xuất hiện nhiều dấu hiệu của sự
suy thoái, sự ô nhiễm cục bộ của các hệ sinh thái. Cộng vào đó là sự
lúng túng, không hiệu quả khi giải quyết các tai biến, các sự cố
sinh thái để lại nhiều hậu quả trầm trọng. Đó là nỗi lo lắng thực sự
của mỗi con người trong thời đại văn minh.
Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế đồng thời lại bảo vệ
được các cảnh quan tự nhiên của các vùng biển, chúng ta phải có
những thay đổi trong cách nhìn nhận, cách quản lý và các biện pháp
kỹ thuật kinh tế khai thác và sử dụng vùng biển.
Vùng biển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió
mùa, có nguồn năng lượng sơ khối lớn, trung bình cỡ 150-180w/m2,
giá trị cực đại có thể đạt 210-230w/m2. Thêm vào đó,
những đặc trưng thuỷ văn, thuỷ hoá, thuỷ sinh cùng với các quá trình
động lực học đặc thù, mang tính địa phương như dòng nước trồi, các
tuyến giáp nước, các đối phron... đã tạo nên và chi phối các quá
trình sản xuất và hình thành các nguồn lợi trong vùng. Các nguồn lợi
biển rất phong phú và đa dạng, nhưng khả năng khai thác còn nhiều
hạn chế. Sức sản xuất sơ cấp của các vùng biển Việt Nam rất lớn, giá
trị trung bình cỡ 200-350 gam cácbon/m2/năm lớn gấp 5 -
10 lần so với các vùng biển ở vĩ độ cao. Nhưng do quá trình chuyển
hóa vật chất và năng lượng phải kinh qua nhiều kênh dinh dưỡng nên
hiệu ứng không cao. Ví dụ trong quá trình nuôi hải sản, tổng năng
lượng thất thoát, hao phí có thể đến 95-98%. Các dạng nguồn lợi càng
phong phú, đa dạng thì năng suất cuối cùng không cao, do đó hiệu quả
kinh tế nhiều hạn chế. Đó là một trong những đặc trưng có tính bản
chất của tự nhiên. Để khắc phục điều này, nhiều nơi tập trung phát
triển nuôi trồng,khai thác các đối tượng có vòng xích dinh dưỡng
ngắn, có phổ thức ăn rộng hoặc là các loài đặc sản rất có giá trên
thị trường. Song song với việc đầu tư đúng đối tượng có hiệu quả
tăng năng suất vật nuôi, con người rất chú ý đến khâu chế biến, tận
dụng mọi khía cạnh sử dụng của các loài nguyên vật liệu theo các
công nghệ khép kín ít hoặc không có chất thải. Nuôi trồng hải sản,
một mặt, con người thực sự bắt tay điều khiển tự nhiên với mục tiêu
thu lợi nhuận cao, nhưng mặt khác, quá trình đắp đập be bờ, lấn biển,
phá rừng... sẽ làm biến dạng về mặt không gian của các vực nước tự
nhiên, về lưu lượng dòng, dẫn đến những thay đổi các đặc trưng về
mặt sinh thái. Điều đó gây dấu ấn với sự thay đổi các nguồn giống,
chế độ dinh dưỡng, năng suất sinh học, đến các chức năng sinh thái
của từng vực nước, của các thể rừng ngập mặn làm ảnh hưởng trực tiếp
đến chất và lượng của các nguồn lợi không chỉ đối với các vùng biển
ven bờ mà còn xa hơn nữa, có tính toàn cầu. Chúng ta giờ đây phải
giải quyết vấn đề theo các cơ sở khoa học và tính hợp lý tương đối
của tự nhiên. Một số nước thực thi các biện pháp kỹ thuật khiến lưu
lượng dòng thay đổi quá 30-35%, chỉ khoanh vùng cỡ 15- 24% diện tích
rừng ngập mặn để làm vuông tôm.
Bàn về kinh tế hải dương, không thể không tính đến
khả năng khai thác các nguồn lợi khoáng sản, dầu khí. Mở rộng và
phát triển nền công nghiệp dầu khí ở vùng thềm lục địa, một mặt sẽ
làm tăng nguồn thu nhập quốc dân, làm thoả lòng mong ước cải thiện
đời sống của mọi người, nhưng mặt khác sẽ tạo ra mối đe dọa về mặt
sinh thái ở vùng biển. Điều này mỗi con người Việt Nam đều đã nhận
thức được. Các ngành dầu khí và các cơ quan chức năng đã quan tâm và
lập nhiều đề án, kế hoạch đề phòng, ngăn chặn và xử lý. Về mặt địa
lý, vùng biển ven bờ nước ta nằm trên tuyến đường vận tải biển quốc
tế, nằm trong vành đai nhiễm bẩn dầu ở khu vực Nam Trung Hoa (khoảng
30.000 km2) luôn luôn có váng dầu nhiễm bẩn bao phủ. Hàm
lượng dầu nhiễm bẩn trung bình trong nước biển Nam Trung Hoa cỡ 19
mkg/l. Kết quả quan trắc và kiểm soát môi trường biển do Viện nghiên
cứu biển Nha Trang tiến hành từ năm 1997 cho thấy hiện tượng nhiễm
bẩn ở các cảng, ở các vùng ven bờ là một thực tế, hàm lượng dầu thải
trung bình cỡ 1,24 mkg/l nhưng mang tính cục bộ theo thời gian và
không gian. Phần lớn các mẫu do lượng dầu nhiễm bẩn, các kim loại
nặng độc hại trong nước biển, trong các loài sinh vật, trong các vật
chất lơ lửng... đều có giá trị nhỏ hơn các giới hạn gây độc đối với
hệ sinh thái. Thêm vào đó, về mặt sinh thái nét nổi bật là khả năng
tự làm sạch của vùng biển tương đối lớn. Hệ số bán phân rã dầu thải
có giá trị 0,11 - 0,25 l/ngày. Các váng dầu nhiễm bẩn thường tồn tại
tối đa từ 2 -5 ngày. Nguồn gốc của quá trình nhiễm bẩn chủ yếu là
vận tải giao thông, nước thải lục địa, sự lan truyền từ các vùng
biển lân cận và các tai biến, sự cố trên biển... Thực tế các nguồn
nước thải đổ ra sông ngòi, biển cả đều chưa được xử lý chưa được làm
sạch.
Bảo vệ môi trường biển không chỉ là công việc của mỗi
con người, của từng quốc gia, mà là nhiệm vụ của nhiều nước, nhiều
cộng đồng dân tộc. Rõ ràng ta không thể bảo vệ được vùng biển Đông
bằng bất cứ giải pháp khoa học, kỹ thuật, kinh tế xã hội nào nếu
không có sự nhất quán với các quốc gia láng giềng và nhiều tổ chức
có liên quan khác. ở đây nhất thiết phải thiết lập các mối bang giao,
hợp tác, các đài trạm có nhiệm vụ quan trắc và dự báo tình hình
nhiễm bẩn của các vùng biển bằng các phương tiện có hiệu quả như
viễn thám, hàng không và quan trắc trực tiếp. Để bảo vệ rừng, ta có
đội kiểm lâm, để bảo vệ các vùng biển ta cũng nên có các cơ quan
chức danh. Để chữa cháy ta có các đội lính chuyên nghiệp có nghiệp
vụ, có trang thiết bị đặc thù, để phòng chống các tai biến, sự cố
gây ô nhiễm như tràn dầu, sự cố khi thăm dò khai thác dầu khí... ta
phải thành lập các đội đặc nhiệm có nghiệp vụ, có được trang thiết
bị thích hợp để không bị lúng túng và bị động trước các tai biến
nhiễm bẩn như thời gian qua.
Những vấn đề sinh thái kinh tế vùng biển bắt buộc
chúng ta phải tìm hiểu và tìm cách giải quyết các mối quan hệ biện
chứng giữa xã hội và vùng biển, nghĩa là tìm ra các mâu thuẫn bên
trong của chúng. Giải quyết hợp lý các mâu thuẫn đó sẽ tạo ra sức
mạnh vật chất mới và sự thống nhất mới. ở đây con người là nhân tố
mạnh mẽ có ảnh hưởng quyết định hay phủ định lên môi trường biển.
Trong quá trình sản xuất khai thác các vùng biển, con người có khả
năng tạo ra sự thống nhất mới chặt chẽ hơn, có hiệu quả hơn. Nhưng
giải quyết các vấn đề kinh tế vùng biển theo các luận điểm sinh thái
không thể tránh khỏi ảnh hưởng đến quyền lợi của một số ngành công
nghệ, đến quyền lợi của một số tổ chức xã hội, một số địa phương và
của nhiều nhóm người khác nhau. Chính vì vậy, nếu không có cơ sở lý
luận xác đáng, hợp lý cũng như các thông tin chính xác đầy đủ thì
các biện pháp đề ra không có khả năng thực tế mà không thể thuyết
phục khi thực hiện.
Vốn quỹ của quá trình giải quyết các vấn đề sinh thái
kinh tế đại dương của nước ta không chỉ là những ưu đãi tự nhiên về
mặt sinh thái, đặc trưng lịch sử và tính thực tiễn mà còn là đội ngũ
cán bộ có trình độ, có kinh nghiệm đã được thử thách hơn 30 năm
nghiên cứu các vùng biển ở Việt Nam.
Để ổn định và củng cố "nền văn hoá biển" như các đồng
chí lãnh đạo Nhà nước đề cập, nhất thiết chúng ta phải giải quyết
các vấn đề kinh tế xã hội ở các vùng biển tuân theo các đặc trưng
sinh thái của tự nhiên.
TS. NGUYỄN TÁC AN
Về đầu trang
Tình hình tranh chấp lãnh
thổ trên Biển Đông
I- Sơ lược về Biển Đông
Từ lâu đời, tên gọi Biển Đông đã gắn bó với cuộc sống
của dân tộc Việt Nam, khi người phương Tây đến khu vực Đông á thì
gọi là Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) và tên này được dùng như
một tên quốc tế để chỉ Biển Đông.
Biển Đông là một biển nửa kín, diện tích khoảng 3,5
triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ
260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210
Đông. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi 8 nước khác là
Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapo, Thái
Lan và Campuchia.
Đối với Việt Nam, Biển Đông đóng một vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế, hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn
đều gắn kết với biển như du lịch, dầu khí, thủy sản, giao thông vận
tải ...
II. Các Hiệp định quốc tế trong lĩnh vực biên giới,
lãnh thổ Việt Nam đã ký kết với các nước láng giềng
Việt Nam là một trong 130 quốc gia bỏ phiếu thông
qua, là một trong 119 quốc gia ký và là quốc gia thứ 63 phê chuẩn
Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (ngày 23/6/1994,
Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 5 đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước).
Ngày 16/11/1994, Công ước có hiệu lực thi hành.
Chúng ta có đường biên giới trên biển với Trung Quốc
và Campuchia, có vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa chung với
hầu hết các nước xung quanh Biển Đông như Malaysia, Indonesia, Thái
Lan, Philipin và Brunei. Đến nay, chúng ta đã ký kết được Hiệp định
về ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan
ngày 09/8/1997 (đã được phê chuẩn tại Quyết định của Chủ tịch nước
số 23-QĐ/CTN ngày 29/12/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày
27/02/1998), Hiệp định phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc
quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc
ngày 25/12/2000 và Hiệp định phân định vùng chồng lấn thềm lục địa
Việt Nam -Indonesia ngày 26/6/2003 (đã được phê chuẩn tại Quyết định
của Chủ tịch nước số 846/2003/QĐ/CTN ngày 18/1l/2003).
III. Tình hình tranh chấp trên Biển Đông
Hiện nay, trên biển chúng ta còn bốn vấn đề lớn liên
quan đến biên giới lãnh thổ cần phải giải quyết, đó là (1) tranh
chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc;
(2) tranh chấp chủ quần trên quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6 bên
gồm Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và Brunei;
(3) phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp
quốc về Luật biển năm 1982 và (4) việc xác định ranh giới ngoài của
thềm lục địa. Trong đó, việc giải quyết tranh chấp chủ quyền trên
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đặc biệt phức tạp và khó khăn do
vị trí chiến lược của hai quần đảo này cũng như các yếu tố tài
nguyên ở khu vực xung quanh hai quần đảo; do mối quan hệ mật thiết
với các vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển khác cũng như ảnh hưởng
tới quan hệ giữa các nước liên quan. Đây cũng là vấn đề thu hút sự
quan tâm của các cường quốc và là yếu tố đảm bảo sự cân bằng và ổn
định trên Biển Đông.
1. Tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa
giữa Việt Nam và Trung Quốc và tranh chấp chủ quyền trên quần đảo
Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Philipin, Đài Loan và
Brunei
Theo các tài liệu lịch sử và các tài liệu pháp lý
hiện có, có thể khẳng định các nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm
hữu và làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoà bình, thực sự
và liên tục ít nhất từ thế kỷ thứ XVII, sau đó chính quyền Đông
Dương lại tiếp tục củng cố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo
này thông qua các hoạt động như thành lập chính quyền, cử lính ra
đồn trú, lập các trạm thông tin, dự báo khí tượng cũng như xây dựng
các đèn biển trên hai quần đảo. Cho đến tận đầu thế kỷ XX không có
nước nào yêu sách chủ quyền trên hai quần đảo đối với Việt Nam. Các
bản đồ cổ của Trung Quốc cũng chỉ thể hiện phạm vi lãnh thổ phía Nam
đến đảo Hải Nam. Trải qua thời gian dài với nhiều biến chuyển lịch
sử, cùng với ý đồ mở mang lãnh thổ, năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút
khỏi Đông Dương, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm phần phía Đông của
quần đảo Hoàng Sa và năm 1974 tiếp tục dùng lực lượng hải quân và
không quân đánh chìm phần phía Tây của quần đảo.
Trên quần đảo Trường Sa, chúng ta đang thực hiện chủ
quyền quốc gia và quản lý hành chính trên 21 đảo, đá và bãi cạn nửa
nổi nửa chìm. Thông qua sách trắng các năm 1979, 1981 và 1989, Việt
Nam đã thể hiện quan điểm trước sau như một, khẳng định chủ quyền
quốc gia trên hai quần đảo này, bên cạnh công tác đàm phán ngoại
giao, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng các biện pháp hoà
bình, chúng ta cũng tiếp tục củng cố vị trí của mình trên quần đảo
Trường Sa. Để giải quyết vấn đề chủ quyền, Việt Nam đã mở diễn đàn
đàm phán các vấn đề trên biển thực chất là giải quyết vấn đề chủ
quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc, đến nay đã
đàm phán được 8 vòng. Cùng với hoạt động đàm phán song phương, chúng
ta kiên trì đấu tranh, khẳng định chủ quyền quốc gia trên hai quần
đảo tại tất cả các diễn đàn quốc tế có liên quan và đồng thời tiếp
tục hoàn thiện hồ sơ pháp lý lịch sử về chủ quyền của ta trên hai
quần đảo. Tháng 11/2002 tại Pnonh Penh (Campuchia), các nước ASEAN
và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông (DOC), được
đánh giá là một bước tiến quan trọng, là cơ sở để duy trì ổn định
khu vực trong khi các bên tiếp tục tìm kiếm một giải pháp cơ bản và
lâu dài giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Một số
đảo đá và bãi cạn khác thuộc quần đảo Trường Sa đang bị một số nước
và vùng lãnh thổ chiếm đóng trái phép, các bên tranh chấp cũng đưa
ra các lập luận, ban hành các văn bản pháp luật để biện minh cho
việc chiếm đóng này.
a. Trung Quốc: Trung
Quốc yêu sách chủ quyền đối với cả hai quần đảo bằng việc vẽ đường
đứt khúc 9 đoạn trên Biển Đông, mà ta thường gọi là "đường lưỡi bò"
trên bản đồ Nam Hải chư đảo do Trung Hoa dân quốc xuất bản năm 1947
và được CHND Trung Hoa in lại năm 1950, bao gồm cả hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa trong cái gọi là "biên giới trên biển" của Trung
Quốc. Mặc dù bị hầu hết các nước có yêu sách và lợi ích liên quan
trong khu vực phản đối nhưng qua việc theo dõi các động thái trên
biển và trên các phương tiện tuyên truyền của Trung Quốc, có thể
thấy Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ và từng bước thực hiện yêu
sách này. Trong thời gian gần đây Trung Quốc đã liên tục ban hành
nhiều văn bản pháp luật để cụ thể hoá các yêu sách của mình trên
Biển Đông. Hiện nay, Trung Quốc chiếm giữ 7 bãi ngầm thuộc quần đảo
Trường Sa.
b. Philipin: Philipin
công bố Sắc lệnh 1596 tháng 2/1979 về vùng Kalayaan, theo đó hầu hết
quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là lãnh thổ của Philipin và
được sáp nhập vào tỉnh Palawan. Lập luận của Philipin về việc xác
định vùng Kalayaan là tính kế cận và quyền lợi an ninh quốc phòng
của Philipin đối với quần đảo này. Hiện nay, Philipin đang chiếm
đóng 9 đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa.
c. Malaysia: Ngày
02/12/1979, Malaysia xuất bản bản đồ qui định về phạm vi lãnh hải và
ranh giới thềm lục địa, theo đó một phần phía Nam quần đảo Trường Sa
thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Malaysia. Hiện nay, Malaysia
đang chiếm giữ 5 đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
d. Đài Loan: Ngày
21/5/1992, Đài Loan thông qua một đạo luật tuyên bố chủ quyền và
lãnh hải, theo đạo luật này toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc chủ
quyền của Đài Loan. Hiện nay, Đài Loan đang chiếm đóng trên đảo Ba
Bình, là đảo có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Tháng
8/2003, Đài Loan đã cho cắm cờ trên bãi Bàn Than (bãi đá san hô nửa
nổi nửa chìm, rộng khoảng 400m, dài khoảng 200m thuộc quần đảo
Trường Sa, nằm cách đảo Ba Bình khoảng 4 km về phía Đông và cách đảo
Sơn Ca khoảng 6,5 km về phía Tây) và mới đây, ngày 23/3/2004, phía
Đài Loan đã xây dựng một nhà cao chân trên bãi này. Như vậy, đến nay
Đài Loan đang chiếm giữ một đảo và một bãi cạn thuộc quần đảo Trường
Sa.
e. Brunei: Năm 1993,
Brunei đưa ra Tuyên bố về ranh giới thềm lục địa 200 hải lý nhưng
chưa đưa ra toạ độ cụ thể. Tuy nhiên, phần chồng lấn với Việt Nam và
Malaysia trên quần đảo Trường Sa tương đối nhỏ, không ảnh hưởng đáng
kể tới tranh chấp. Brunei cũng là nước duy nhất trong các bên yêu
sách không chiếm giữ vị trí nào trong quần đảo Trường Sa.
2. Phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước
của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
a. G:ải quyết vùng chồng lấn thềm lục địa với
Malaysia
Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng chồng lấn
biển và thềm rộng khoảng 2.800 km2 được hình thành bởi
đường ranh giới thềm lục địa do chính quyền Sài Gòn công bố năm 1971
và đường ranh giới thềm lục địa được Malaysia thể hiện trên bản đồ
xuất bản năm 1979. Ngày 05/6/1992, tại Kuala Lumpur (Malaysia), hai
nước đã ký thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn,
giao cho các công ty dầu khí của hai nước ký các dàn xếp thương mại
và tiến hành hợp tác thăm dò, khai thác tiềm năng dầu khí ở khu vực
này. Việc phân định vùng chồng lấn sẽ giải quyết sau. Hiện nay, hoạt
động thăm dò và khai thác dầu khí ở khu vực này đang tiến triển tốt.
b. Giải quyết vùng chồng lấn ba nước Việt Nam -
Thái lan - Malaysia
Vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Malaysia rộng
khoảng 7.250 km2, trong đó có khoảng 875 km2
là vùng chồng lấn thềm lục địa ba nước Việt Nam - Thái Lan -
Malaysia. Ba nước đã thỏa thuận thông qua đàm phán, thương lượng để
giải quyết vấn đề này, trước mắt đã thoả thuận được một số nội dung
chủ yếu liên quan tới mô hình hợp tác và các vấn đề kỹ thuật.
c. Giải quyết phân định biên giới biển với
Campuchia
Ngày 07/7/1982, Chính phủ hai nước Việt Nam -
Campuchia đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, ngoài nội dung xác
định vùng nước lịch sử giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan, Hiệp định
cũng thoả thuận sẽ hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước vào
thời điểm thích hợp. Hiện nay, hai nước đang tập trung tiến hành đàm
phán phân định biên giới trên đất liền, vấn đề biên giới trên biển
sẽ được tiếp tục đàm phán, giải quyết trong thời gian tới.
3. Việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa
Việt Nam
Công ước cho phép các quốc gia ven biển được thực
hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò
và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình. Đồng thời, Công ước
cũng cho phép quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với việc xây
dựng và lắp đặt các công trình, thiết bị và đảo nhân tạo, nghiên cứu
khoa học biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trong vùng thềm lục
địa. Để tổ chức khai thác và bảo vệ biển có hiệu quả, việc nghiên
cứu và xác định ranh giới ngoài thềm lục địa là hết sức cấp thiết.
Hiện nay, nhiệm vụ này đang được Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao chủ
trì phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan thực hiện.
TUẤN
ANH
Về đầu trang
Hậu
Lộc tăng cường công tác tuyên truyền biển, đảo
Ngay
từ đầu năm 2008 Ban Thường vụ Huyện ủy Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá đã chỉ
đạo các cấp ủy Đảng, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị từ huyện
đến cơ sở tổ chức các hoạt động tuyên truyền về biển, đảo.
Đến nay, huyện
đã soạn thảo, cấp phát được 300 tờ rơi có nội dung về Hiệp định phân
vịnh Bắc bộ và hợp tác nghề cá; cấp phát 60 cuốn hỏi - đáp những
điều ngư dân cần biết trong hoạt động khai thác thủy – hải sản. UBND
các cấp chỉ đạo hệ thống đài truyền thanh từ huyện đến cơ sở mở
chuyên trang, chuyên mục và hướng dẫn hệ thống báo cáo viên, tuyên
truyền viên, trung tâm học tập cộng đồng, các thôn, làng, đội sản
xuất tổ chức các lớp tập huấn, họp dân, nhằm phổ biến những nội dung
về biển, đảo.
Phòng nông
nghiệp huyện đã phối hợp mở 3 lớp thuyền trưởng, máy trưởng ở các xã
Hưng Lộc, Hòa Lộc, Ngư Lộc cho gần 300 học viên tham gia. Theo đó,
đội ngũ tuyên truyền viên, tình nguyện viên tích cực tuyên truyền
cho ngư dân biết và thực hiện các điều khoản trong Hiệp định hợp tác
nghề cá giữa Việt Nam - Trung Quốc, vấn đề bảo đảm an toàn khi ra
khơi, đăng ký, đăng kiểm, bảo vệ nguồn lợi thủy sản... tạo chuyển
biến trong nhận thức, hành động, tránh được rủi ro cho ngư dân, nâng
cao hiệu quả khai thác trên biển...
(Theo Văn
Thanh
- Báo Thanh Hoá)
Về đầu trang
Công tác tuyên truyền về biển, đảo ở Bắc
Ninh năm 2008
Là tỉnh không có biển, đảo, song Đảng bộ và nhân dân
luôn xác định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của biển, đảo đối
với việc phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng của đất
nước.
Vì vậy, những năm qua, đặc biệt là năm 2008, cùng với
việc tuyên truyền các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự quốc tế và trong nước, các
nhiệm vụ chính trị của địa phương, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã bước
đầu triển khai công tác tuyên truyền về biển, đảo và phân giới cắm
mốc có hiệu quả, thông qua các hình thức và nội dung như hàng tháng
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đều tổ chức Hội nghị Thông tin cho đội ngũ
báo cáo viên của tỉnh và các huyện uỷ, thị uỷ, thành uỷ, đảng uỷ
trực thuộc đều tổ chức hội nghị thông tin cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt, báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở định kỳ mỗi tháng/kỳ.
Ở các đảng bộ cơ sở thông tin đến cán bộ, đảng viên 2-3 tháng/kỳ.
Các nội dung tuyên truyền về biển đều được lồng ghép với việc tuyên
truyền các nội dung khác. Đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm có liên
quan đến sự tranh chấp chủ quyền biển, đảo của Việt Nam với các nước
trong khu vực.
Trong cuốn Thông tin sinh hoạt chi bộ do Ban Tuyên
giáo Tỉnh uỷ biên soạn (liên tiếp từ số 12/2007 đến số 5/2008 với số
lượng 2800 cuốn /1số) đã trích đăng một số nội dung tuyên truyền về
biển, đảo. Ngoài ra, trong tài liệu tham khảo do Trung tâm Thông tin
công tác tư tưởng biên tập cũng trích đăng các tư liệu tuyên truyền
về việc bảo vệ chủ quyền biển đảo cấp cho các đồng chí lãnh đạo, báo
cáo viên, giảng viên kiêm chức của Tỉnh uỷ làm tài liệu tuyên truyền.
Nội dung tuyên truyền đã tập trung làm rõ quan điểm, đường lối, chủ
trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về biển, đảo;
về Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá giữa
Việt Nam và Trung Quốc; tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo;
về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, phát triển kinh tế biển; về an ninh
quốc gia trên biển…Và đặc biệt học tập Nghị quyết Trung ương 4 (khoá
X), trong đó có Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020” đến hầu hết các đối tượng theo quy định. Đây là điều kiện hết
sức thuận lợi cho đội ngũ báo cáo viên các cấp trong việc tuyên
truyền đến cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ vị trí, vai trò của
biển, đảo nước ta; thấy rõ quan điểm của Đảng ta về biển, mục tiêu
và những định hướng của Đảng trong chiến lược biển đến năm 2020. Ban
Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã phối hợp với Cục Kỹ thuật Hải quân tuyên
truyền về biển, đảo và bảo vệ chủ quyền biển đảo cho trên 200 lượt
BCV của tỉnh tại 2 Hội nghị thông tin công tác tư tưởng của tỉnh;
tuyên truyền về vị trí vai trò của biển, đảo nước ta trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định cơ sở pháp lý của Việt Nam
đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho trên 250 cán bộ, đảng
viên xã Phú Hoà – huyện Lương Tài; tổ chức giáo dục quốc phòng kết
hợp tuyên truyền biển đảo cho hơn 300 cán bộ, giáo viên, sinh viên
và thực hiện các hoạt động giao lưu, kết nghĩa với trường Cao đẳng
sư phạm Bắc Ninh. Ngoài ra, Nhà máy X56 Hải quân còn kết hợp tuyên
truyền biển, đảo với công tác chính sách nhân dịp 71 năm ngày thương
binh liệt sỹ (27/7) đã trao tặng 20 sổ tiết kiệm và 20 phần quà cho
20 gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở xã
Phú Hoà, huyện Lương Tài.
Trên cơ sở định hướng nội dung tuyên truyền năm 2008
Báo Bắc Ninh đã thực hiện 18 chuyên mục trên Báo Bắc Ninh thường kỳ
với 36 tác phẩm (10 tin, 18 bài, 8 ảnh), 20 tác phẩm trên Bắc Ninh
điện tử, thu hút 12 lượt tác giả trong và ngoài toà soạn tham gia.
Các tác phẩm tuyên truyền đúng định hướng của cấp ủy. Nội dung đã
nêu bật được tiềm năng, lợi thế của biển đảo Việt Nam, chiến lược về
biển đảo của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, phản ánh những tấm
gương gia đình cán bộ chiến sỹ đang làm nhiệm vụ thiêng liêng giữ
gìn chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Đài PT – TH tỉnh ngay từ đầu năm 2008 đã xây dựng
lịch phát sóng chuyên mục, chuyên đề “Truyền hình Hải quân Việt Nam”
trên sóng truyền hình có thời lượng 20 phút/chương trình, phát sóng
vào tối thứ 6 và trưa thứ 7 của tuần thứ tư hàng tháng. Tính đến hết
tháng 11/2008 đã sản xuất và phát sóng được 12 chuyên mục “Truyền
hình Hải quân Việt Nam”, sử dụng 103 tin bài.
Đài tỉnh đã phối hợp với Báo Hải quân thường xuyên
trao đổi sản xuất và phát sóng các chương trình truyền hình Hải quân,
thực hiện điểm báo Hải quân, đưa tin tức về hoạt động của lực lượng
Hải quân Việt Nam và tình hình biển đảo của cả nước đến với đông đảo
bạn đọc trong và ngoài tỉnh.
Hướng dẫn Đài Phát thanh 8 huyện, thị xã, thành phố
và hệ thống Đài truyền thanh cơ sở trong tỉnh tăng cường tuyên
truyền về biển đảo, hoạt động của lực lượng Hải quân. Đồng thời phối
hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh có kế hoạch tuyên truyền về lĩnh vực
quốc phòng, quân sự địa phương, tiếp tục duy trì chuyên mục “Quốc
phòng toàn dân” trên hai sóng phát thanh, truyền hình. Tính đến hết
tháng 11 năm 2008 đã phát sóng 12 trang truyền hình “Quốc phòng toàn
dân”, sử dụng 252 tin bài; 24 trang phát thanh “Quốc phòng toàn dân”,
sử dụng 312 tin bài.
Ngoài các tin bài tuyên truyền thường xuyên trong các
chuyên mục “Truyền hình Hải quân Việt Nam”, Đài tỉnh đã phối hợp với
cơ quan quân sự các cấp đã thường xuyên có tin bài về tình hình biển
đảo và hoạt động của lực lượng quân sự địa phương và phong trào quốc
phòng toàn dân trên các bản tin thời sự và các chuyên mục khác. Đặc
biệt là đã phản ánh về cuộc sống, tâm tư nguyện vọng của 7 gia đình
trong tỉnh có người thân là cán bộ chiến sỹ đang công tác ở quần đảo
Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà, góp phần động viên các chiến sỹ vượt qua
khó khăn, tiếp tục công tác tốt, bảo vệ vững chắc chủ quyền đảo
thiêng liêng của Tổ quốc.
Các nội dung tuyên truyền về biển đảo và lĩnh vực quốc phòng đã bảo
đảm đúng định hướng chính trị, giữ vững tuyệt đối bí mật thông tin
quốc gia, góp phần đưa tin tức về hoạt động của lực lượng Hải quân
và tình hình biển đảo của cả nước đến với đông đảo khán giả, thính
giả trong tỉnh.
Để hoàn thành tốt công tác tuyên truyền biển, đảo
trong những năm tới, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiếp tục tuyên truyền
sâu rộng tinh thần, nội dung chủ yếu Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phấn đấu năm 2009 công tác tuyên truyền về
biển đảo được triển khai tới 100% các huyện, thị, thành phố và tham
gia GDQP cho các trường cao đẳng, phổ thông trung học và các đơn vị
đến giao lưu, kết nghĩa. Xây dựng kế hoạch tuyên truyền về biển đảo
và lĩnh vực quốc phòng, quân sự địa phương ngay từ đầu năm 2009 trên
hai sóng phát thanh, truyền hình. Tiếp tục có kế hoạch phối hợp chặt
chẽ với cơ quan Quân sự các cấp làm tốt công tác tuyên truyền cho
nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và hoạt động của lực lượng vũ trang
trong tỉnh. Duy trì thường xuyên chuyên mục “Truyền hình Hải quân
Việt Nam”. Tuyên truyền có hiệu quả cho việc xây dựng hậu phương
quân đội vững mạnh, động viên các chiến sỹ đang làm nhiệm vụ bảo vệ
tổ quốc hoàn thành tốt nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước
trong thời kỳ mới./.
(Theo Báo ĐTĐCSVN)
Về đầu trang
Khánh Hòa: Triển khai công
tác tuyên truyền biển đảo năm 2009
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa vừa có kế hoạch
triển khai nhiệm vụ tuyên truyền biển đảo năm 2009.
Trên cơ sở đó, năm 2009, công tác tuyên truyền biển đảo sẽ tập trung
vào các nội dung như: Định hướng tư tưởng chính trị của Đảng, Nhà
nước liên quan đến biển, đảo, chiến lược phát triển kinh tế và giữ
vững an ninh trật tự, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, đảo theo
tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ 15, Chương trình hành động của Tỉnh ủy triển khai thực hiện Nghị
quyết Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
và các văn bản pháp luật liên quan đến biển, đảo.
Kế hoạch nhấn mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến
những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật Biển quốc tế và hệ thống
pháp luật về biển, đảo của Nhà nước, khẳng định cơ sở pháp lý và
bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần
đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bên cạnh đó còn, tuyên truyền về biển đảo
Việt Nam, vai trò của biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, những tiềm năng, thế mạnh của biển đảo Khánh Hòa; chú trọng
tuyên truyền các nhân tố mới, các điển hình trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ chủ quyền biển đảo; quá trình xây dựng, chiến đấu và
trưởng thành của quân và dân ta trên các tuyến biển đảo…
VH
Về đầu trang
Phụ nữ Quảng Ngãi: Tham gia xây
dựng và bảo vệ vùng biển, đảo
Không chỉ biết
chăm lo cho gia đình ấm no hạnh phúc, phụ nữ Quảng Ngãi còn thông
minh sáng tạo trong sản xuất, xoá đói giảm nghèo, tích cực tham gia
bảo vệ vùng biển, đảo của quê hương. Những đóng góp của họ đã góp
phần quan trọng vào việc giữ gìn an ninh chính trị ở địa phương.
Để tham gia hiệu
quả các mặt công tác, nhiều năm qua Hội LHPN tỉnh đã xây dựng, củng
cố các Ban chấp hành Hội LHPN ở 25 xã thuộc tuyến biên phòng. Theo
đó đã có 123 chi hội, 753 tổ phụ nữ và 33.112 hội viên hội phụ nữ
tham gia sinh hoạt, trong đó có hơn 6 ngàn hội viên hoạt động có nền
nếp, chất lượng, trở thành lực lượng nòng cốt trong tất cả các phong
trào của hội. Đáng kể nhất là từ khi tổ chức hội đi vào hoạt động ổn
định, các hội phụ nữ ở đây đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên
truyền liên quan đến việc tham gia các chương trình phát triển KT-XH,
xoá đói giảm nghèo vùng biển, đảo; quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng
biển đảo; đảm bảo an toàn cho hoạt động đánh bắt hải sản; triển
khai quán triệt Quyết định số 16 của Chính phủ về "Ngày Biên phòng
toàn dân"...
Có lẽ sự thay
đổi nhất của phụ nữ ven biển đến nay chính là đã chủ động trong cuộc
sống mưu sinh. Nếu ngày trước phụ nữ các vùng này phụ thuộc vào
chồng, con trong đời sống hằng ngày, thì nay họ đã tìm mọi cách để
tìm được việc làm, có thu nhập ổn định để cải thiện cuộc sống gia
đình và bản thân. Nhiều chị không những vươn lên thoát nghèo, mà còn
làm giàu, trở thành phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi của các cấp. Để
có được sự thay đổi này, các cấp hội phụ nữ trong tỉnh đã vận dụng
bằng nhiều cách giúp cho chị em có vốn để phát triển sản xuất, tìm
công ăn việc làm. Đó là việc cho hàng ngàn phụ nữ nghèo vay vốn để
đầu tư vào các loại hình sản xuất, chăn nuôi, dịch vụ hậu cần nghề
cá và chế biến thuỷ hải sản. (đang triển khai 6 dự án với tổng trị
giá trên 4,5 tỉ đồng, cho hơn 900 chị vay). Bên cạnh đó, các cấp hội
còn huy động từ chị em có điều kiện kinh tế khá để giúp cho chị em
có hoàn cảnh khó khăn được trên 9,2 tỉ đồng; 1,3 tấn giống; 311 con
gia súc và hàng chục ngàn ngày công.
Cùng với nỗ lực
vươn lên phát triển kinh tế gia đình, phụ nữ vùng ven biển của tỉnh
còn tích cực tham gia với chính quyền và các ngành chức năng vào
công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn. Theo Hội LHPN tỉnh, thời gian qua các cấp hội đã vào cuộc tuyên
truyền phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS được 10.380 buổi, với
570.944 lượt cán bộ hội, hội viên phụ nữ tham gia. Các cấp hội tổ
chức truyền thông phòng chống AIDS cho hơn 2.100 nữ tiếp viên, chủ
nhà hàng, tụ điểm karaoke; vận động 155 chủ quán giác ngộ làm ăn
đúng pháp luật, hàng trăm tiếp viên bỏ nghề, gái mại dâm hoàn lương,
cai nghiện ma tuý tại cộng đồng. Có thể nói rằng, với phụ nữ các
vùng ven biển ngày nay, họ tuy không trực tiếp truy bắt các đối
tượng phạm tội, dẹp bỏ các tụ điểm tệ nạn xã hội, nhưng qua công tác
vận động, tuyên truyền, đã giúp ích cho xã hội về nhiều mặt. Có chị
còn dám đứng ra tố giác với chính quyền, cơ quan chức năng những sai
trái, vi phạm pháp luật của các đối tượng mà qua tinh thần cảnh giác,
các chị phát hiện được. Điển hình là hai chị Trần Thị Hiệu (Đức
Chánh - Mộ Đức), Nguyễn Thị Vân (Bình Châu - Bình Sơn) cung cấp cho
Bộ đội Biên phòng bắt và xử lý nhiều vụ buôn bán, tàng trữ, vận
chuyển và sử dụng trái phép chất nổ.
Thời gian qua
các cấp hội phụ nữ còn làm tốt công tác hậu phương quân đội, đền ơn
đáp nghĩa. Thông qua việc quyên góp, đóng góp của hội viên, phụ nữ
Quảng Ngãi đã thường xuyên tổ chức thăm hỏi, động viên các gia đình
thương binh liệt sĩ, gia đình có công cách mạng, các Bà Mẹ Việt Nam
Anh hùng, với số tiền, quà hơn 1 tỉ đồng, 105 sổ tiết kiệm (trị giá
45,6 triệu đồng) và hàng ngàn ngày công lao động. Đặc biệt trong
những đợt thanh niên lên đường nhập ngũ; dân quân, lực lượng dự bị
động viên tham gia công tác huấn luyện... phụ nữ các vùng ven biển
luôn sát cánh động viên và tặng quà cho gia đình, người thân, để
cha, anh của họ an tâm trong công tác. Thời gian qua các cấp hội phụ
nữ còn đứng ra đỡ đầu cho 3 con liệt sĩ, 16 Mẹ Việt Nam Anh hùng neo
đơn, nhận 43 thương binh nặng nuôi dưỡng và giới thiệu hàng trăm con
cháu các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình chính sách đi học
nghề miễn phí tại các trung tâm dạy nghề trong và ngoài tỉnh.
Với những đóng
góp của mình với biển, đảo quê hương, Hội LHPN nữ tỉnh Quảng Ngãi
luôn được trung ương, tỉnh tặng nhiều bằng khen, cờ thi đua xuất sắc.
Đây là phần thưởng xứng đáng, động viên kịp thời, giúp cho chị em
tham gia ngày càng tích cực hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
vùng biển đảo của tỉnh nhà.
P.V
Về đầu trang
Mười năm phối hợp "Vận
động phụ nữ biên giới vùng biển"
Từ năm 1992, Hội LHPN tỉnh và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên
phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị đã triển khai chương trình phối hợp "Vận
động phụ nữ biên giới, vùng biển". Mục đích của chương trình là
triển khai các hoạt động xây dựng và bảo vệ chủ quyền an ninh biên
giới, vùng biển của Tổ quốc.
Mặt khác tăng cường các hoạt động hỗ trợ của Bộ đội
Biên phòng đối với phong trào phụ nữ ở những nơi trọng yếu, góp phần
tích cực trong công cuộc giữ vững chủ quyền an ninh biên giới, bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Hơn 17 năm qua, đặc biệt 10 năm lại đây (1999-2009)
việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác vận động chị em vùng
biên giới, vùng biển tham gia phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ chủ
quyền an ninh biên giới , giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội đã được Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh và Bộ Chỉ huy bộ đội Biên
phòng tỉnh phối hợp thực hiện và mang lại hiệu quả xã hội thiết thực.
Hội Liên hiệp Phụ nữ và Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh
Quảng Trị đã phối hợp chặt chẽ làm tốt công tác tuyên truyền, vận
động phụ nữ chấp hành nghiêm túc Hiệp định và Quy chế biên giới,
tham gia chống xâm canh, xâm cư ở biên giới, bảo vệ đường biên cột
mốc; ngăn ngừa, tố giác các đối tượng vượt biên trái phép, đấu tranh
chống các loại tội phạm.
Phụ nữ các xã biên giới tích cực góp phần cùng Bộ đội
Biên phòng tuần tra kiểm soát , đấu tranh phòng chống tội phạm bảo
vệ độc lập độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới. Hai ngành
đã phối hợp tổ chức hàng ngàn buổi tập huấn, tuyên truyền phòng,
chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Triển khai xây dựng mô hình điểm
"Chi hội Phụ nữ không có hội viên, chồng con nghiện ma tuý và vi
phạm pháp luật"; thành lập Câu lạc bộ "Phòng , chống ma tuý. Các cấp
hội đã phối hợp cảm hoá, giáo dục hàng trăm thanh, thiếu niên hư
hỏng; vận động chị em bài trừ các hủ tục lạc hậu, giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hoá truyền thống. Từ việc khi đau ốm người dân
chỉ đến thầy mo để cúng thì nay đã đến Trạm xá điều trị. Phụ nữ
không đẽ ngoài chòi. Chị em đã biết lo cái chữ cho con, chính vì thế,
trẻ em trong độ tuổi đến trường ngày càng nhiều. Thanh niên hăng hái
lên đường nhập ngũ.
Những hũ tục, tập quán lạc hậu giảm dần đồng nghĩa
với nỗi gian truân của những người mẹ, người chị, người em ở đây
cũng được vơi đi. Nụ cười của chị em càng thêm rạng rỡ. Đó cũng là
điều kiện để chị em tham gia các hoạt động xã hội.
Trong 10 năm qua, chị em đã gián tiếp, hoặc trực tiếp
phát hiện, báo cho BĐBP hơn 500 tin về các đối tượng vượt biên trái
phép, các vụ lưu thông tiền giả và các tội phạm khác; phát hiện và
đấu tranh với 3 nhóm đối tượng hút hít cần sa và chất gây nghiện ở
tuyến biên giới; đấu tranh xoá bỏ 5 tụ điểm karaoke mại dâm trá hình;
đưa 11phụ nữ bị bán sang Lào làm gái mại dâm trở về Việt Nam và giúp
đỡ Bộ đội Biên phòng phá nhiều đường dây tội phạm nguy hiểm khác.
Ở tuyến biển, chị em đã phối hợp với Bộ đội Biên
phòng vận động bà con không dùng xung điện, thuốc nổ để đánh, bắt
cá..bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ, hải sản; tổ chức cứu hộ,
cứu nạn, huy động chị em cùng với các chiến sĩ khắc phục hậu quả sau
lũ, lụt. Chị em đã động viên chồng, con trong độ tuổi tham gia lực
lượng dân quân tự vệ, các tổ tự quản, làm tốt công tác hậu phương
quân đội.
Cùng với chương trình phối hợp bảo vệ an ninh biên
giới, hai ngành đã tích cực tham gia chương trình phát triển kinh
tế-xã hội mà trọng tâm là xoá đói giảm nghèo. Với tinh thần đó, Hội
LHPN các cấp đã phối hợp với lực lượng BĐBP tỉnh tiến hành khảo sát
các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nghèo.. để có hướng tạo điều
kiện giúp đỡ. Hai ngành đã phối hợp tổ chức tập huấn cho 163.89o
lượt hội viên phụ nữ về kiến thức khoa học kỹ thuật. Vận động chị em
bỏ tập quán du canh, du cư “phát, cốt, đốt, trĩa” để định canh, định
cư ổn định cuộc sống. Với sự hướng dẫn của BĐBP, nhiều chị em đã
biết lập dự án và sử dụng đồng vốn vay có hiệu quả. Không những thế,
nhiều chị em đã mạnh dạn chuyển đổi cây, con, xây dựng nhiều mô hình
kinh tế, tạo ra nguồn thu ổn định "đổi đời"cho nhiều gia đình.
Không chỉ phát triển kinh tế, Hội LHPN và BĐBP tỉnh
rất quan tâm các lĩnh vực xã hội. Đó là: kiến thức nuôi, dạy con,
xây dựng gia đình hoà thuận, công tác kế hoạch hoá gia đình...Vận
động chị em dời truồng trại chăn nuôi ra xa khu vực nhà ở, ý thức tự
chăm lo sức khoẻ...Vận động học sinh bỏ học trở lại trường. Nhiều
gia đình, đã có con vào đại học, cao đẳng, hoặc các trường trung học
chuyên nghiệp...Qua các hoạt động nói trên mối quan hệ làng bản, xóm
làng ngày càng bền chặt.
Từ việc làm cụ thể của hai ngành, đã góp phần đẩy
mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư". Đến nay, đã có 70 % làng, bản
trong khu vực biên giới, vùng biển phát động làng, bản văn hoá.
Trong đó, 50 % đã được công nhận đạt chuẩn văn hoá các cấp. Nhiều
phong trào quần chúng như "kết nghĩa, đở đầu", "áo ấm chiến sĩ biên
phòng" được khơi dậy. Đến nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã trong khu
vực biên giới, vùng biển đã kết nghĩa với 10 đơn vị BĐBP. Phong trào
kết nghĩa bản-bản biên giới Việt -Lào ngày càng được đẩy mạnh.
Cũng thông qua việc thực hiện chương trình phối hợp,
Hội LHPN và BĐBP tỉnh đã đưa cuộc vận động"Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh" đến với bà con vùng sâu, vùng khó. Thông
qua, cuộc vận động nhiều nghĩa cử cao đẹp đã được khơi dậy làm cho
cuộc sống thêm tươi đẹp. Đặc biệt, với chương trình phối hợp đã góp
phần nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Hội, bồi dưỡng năng lực lãnh
đạo của chị em, giúp chị em đảm đương vai trò lãnh đạo chủ chốt ở cơ
sở.
Với những kết quả đã đạt được, mối quan hệ quân dân
đã được thắt chặt. tình đồng chí, nghĩa đồng bào thêm gắn bó. Đó
không chỉ là điều kiện để phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo đời
sống bà con vùng khó mà còn là sức mạnh để chúng ta bảo vệ vững chắc
chủ quyền an ninh biên giới, hải đảo của chúng ta.
(Theo Báo ĐTĐCSVN)
Về đầu trang
Chung tay bảo vệ
biên giới biển, đảo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Khu
vực biên giới biển, đảo do Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu quản lý gồm 20 đơn vị hành chính, trong đó có 19 phường, xã, thị
trấn thuộc 4 huyện, thành phố (huyện Xuyên Mộc, Long Điền, Đất Đỏ,
TP. Vũng Tàu) và huyện Côn Đảo. Thực hiện Nghị quyết số 12/NQ-ĐU của
Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về “Tăng cường công tác vận động quần
chúng trong thời kỳ mới”, 5 năm qua, Đảng ủy BĐBP tỉnh không ngừng
tăng cường công tác lãnh đạo, đổi mới công tác vận động quần chúng (VĐQC),
góp phần đẩy mạnh các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh biên giới
quốc gia, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh.
CHÚ
TRỌNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
Qua 5
năm triển khai thực hiện Nghị quyết về “Tăng cường công tác VĐQC
trong tình hình mới”, cấp ủy các chi bộ, Đảng bộ, chính ủy, chính
trị viên và chỉ huy các cấp thuộc BĐBP tỉnh đã nhận thức sâu sắc về
ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác VĐQC. Để tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác VĐQC, Ban Thường vụ Đảng ủy đã bố trí 100%
đồn biên phòng có đủ chính trị viên và chính trị viên phó. Cấp ủy,
chỉ huy các cấp đã quan tâm bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội
ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác VĐQC từ cơ quan đến các đơn vị
nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác VĐQC trong tình hình mới.
Trong
công tác VĐQC, BĐBP tỉnh đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền,
luôn cập nhật những nội dung mới, sát với yêu cầu nhiệm vụ của đơn
vị, của địa phương để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho quần
chúng nhân dân trên địa bàn biên phòng của tỉnh. Bên cạnh đó, quan
tâm lãnh đạo đổi mới phương pháp tuyên truyền, đầu tư trang bị các
phương tiện tuyên truyền cho các đơn vị kết hợp việc sử dụng phương
tiện thông tin của địa phương; in ấn các tờ rơi đẹp về hình thức,
nội dung dễ hiểu, dễ nhớ, sử dụng cho mọi tầng lớp. Phối hợp chặt
chẽ với các ban, ngành địa phương căn cứ vào tình hình nhiệm vu, yêu
cầu và nội dungï cụ thể để phối hợp tuyên truyền trong quần chúng
nhân dân về các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; vai trò của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ bảo vệ chủ
quyền an ninh quốc gia. Qua công tác tuyên truyền, quần chúng nhân
dân và các lực lượng, ban, ngành, đoàn thể đã nâng cao giác ngộ
chính trị, nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ
bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, tích cực tham gia xây
dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới biển, đảo.
Thông qua tuyên truyền, quần chúng đã cung cấp cho các lực lượng
chuyên trách 5.509 tin, trong đó có 2.422 tin có giá trị, nhiều vụ
việc vi phạm về an ninh chính trị, trật tự xã hội được phát hiện,
đấu tranh xử lý kịp thời.
NHỮNG
VIỆC LÀM THIẾT THỰC
Qua 5
năm, BĐBP tỉnh đã tổ chức và phối hợp với các cấp chính quyền, các
đoàn thể địa phương tuyên truyền cho quần chúng nhân dân trên địa
bàn được 653 buổi với 524.123 lượt người tham gia. Riêng trong 2 năm
2006 và 2007, phối hợp với Sở Thủy sản tổ chức tuyên truyền cho ngư
dân 23 buổi/12 xã, phường, có 1.221 lượt người tham dự; in và cấp
phát cho ngư dân 3.000 tờ rơi phổ biến Nghị định 161 của Chính phủ
về Quy chế khu vực biên giới biển; in và cấp cho ngư dân 3.000 tờ
bản đồ hướng dẫn ngư dân về việc phân định vùng biển Việt Nam tiếp
giáp với các nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp nghị Nhà nước ta đã
ký kết với các nước. BĐBP tỉnh cũng phối hợp với Công ty Vận chuyển
khí Đông Nam bộ và Nhà Điều hành đường ống khí Nam Côn Sơn tổ chức
13 buổi tuyên truyền trong ngư dân Nghị định số 03 của Chính phủ về
việc đảm bảo an ninh, an toàn đường ống dẫn khí dưới biển ở 20 xã,
phường, thị trấn khu vực biên giới biển và huyện Côn Đảo, có 5.435
lượt người tham gia. Bên cạnh đó, BĐBP tỉnh còn in 5.000 tờ bản đồ
theo dõi bão và 5.000 tờ rơi phổ biến Nghị định 66 của Chính phủ về
đảm bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động nghề cá trên biển;
đầu tư trang bị 7 bộ thiết bị phát thanh cho 7 trạm kiểm soát biên
phòng. Đặc biệt, trong cơn bão số 9 (năm 2006) và sự cố tàu chở dầu
Đức Trí bị nạn, BĐBP tỉnh đã huy động lực lượng tham gia phòng chống,
khắc phục hậu quả, kịp thời góp phần giảm thiểu thiệt hại về người,
tài sản của Nhà nước và nhân dân, thực hiện chính sách, biện pháp
trợ giúp cho ngư dân khôi phục, ổn định sản xuất.
Từ năm
2004 đến năm 2008, BĐBP tỉnh xây tặng 123 căn nhà “Đại đoàn kết” cho
các hộ nghèo, 1 căn nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách trên địa
bàn, 1 căn nhà “Đồng đội” cho cán bộ thuộc BĐBP tỉnh, với tổng số
tiền 1,133 tỷ đồng. Đồng thời cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng cũng
đóng góp quỹ “Tình nghĩa, tình thương” được 325 triệu đồng gửi về
Ban chỉ đạo xây dựng quỹ của tỉnh…
Qua 5
năm thực hiện Nghị quyết số 12 của Đảng ủy BĐBP về “Tăng cường công
tác VĐQC của BĐBP trong tình hình mới”, qua công tác tuyên truyền
vận động và bằng những việc làm thiết thực, BĐBP tỉnh đã góp phần
nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân khu vực biên phòng
tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển, đảo của tỉnh.
(Theo Lưu Dương – Báo BR-VT)
Về đầu trang
Triển khai công tác
phối hợp tuyên truyền về biển, đảo
Sáng
4/3, tại Hà Nội, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và
Bộ Tư lệnh Hải quân đã tổ chức hội nghị triển khai công tác phối hợp
tuyên truyền về biển, đảo.
Đồng chí Vũ Trọng Kim, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó
Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Thiếu
tướng Nguyễn Cộng Hoà, Chuẩn Đô đốc, Phó Chính uỷ Quân chủng Hải
quân chủ trì Hội nghị.
Tại hội nghị, Chuẩn Đô đốc Nguyễn Cộng Hoà đã thông tin tóm
tắt về tình hình bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong thời gian
qua và kết quả công tác tuyên truyền biển, đảo cũng như triển khai
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc biển đảo của Quân chủng Hải
quân. Chuẩn Đô đốc Nguyễn Cộng Hoà đánh giá cao sự quan tâm của MTTQ
Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận thời gian qua, đã
tích cực hỗ trợ vật chất và tinh thần, góp phần động viên Quân chủng
Hải quân hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Hội nghị đã xác định công tác tuyên truyền về biển, đảo là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, nhằm tiếp
tục thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền
biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, Uỷ ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có văn bản chỉ đạo Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tốt
chương trình phối hợp thống nhất hành động của Uỷ ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó nhấn mạnh nội dung tuyên truyền giữ
vững chủ quyền an ninh biên giới biển, đảo, giữ gìn an ninh trật tự,
an toàn xã hội, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên
và nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng chiến lược của biển,
đảo Việt Nam trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thời gian
vừa qua, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua Báo
Đại đoàn kết, Tạp chí Mặt trận, Thông tin Công tác Mặt trận, Trang
thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tuyên truyền rộng rãi
trong các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt Thông tin Công tác Mặt trận đã
ra số chuyên đề: “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc
gia” phát hành tới xã, phường thị trấn trong toàn quốc với các nội
dung sau: Hướng dẫn Công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2009 của Ban
Tuyên Giáo Trung ương; Những vấn đề sinh thái kinh tế của vùng biển
ven bờ Việt Nam; Tăng cường phát triển kinh tế quốc phòng trên
biển; Một số thông tin về tuyên bố cách ứng xử của các bên ở biển
Đông; Tình hình tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông và Trang thông
tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đăng tải các 24 bài viết và
70 tin và ảnh về hoạt động công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền
biển đảo, biên giới quốc gia; gắn việc tuyên truyền xây dựng các
chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về chiến lược biển, đảo đến
năm 2020 và tuyên truyền định hướng phát triển kinh tế biển, đảo đối
với việc giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ quyền lợi thuỷ sản, môi
trường sinh thái biển và đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ quốc gia thông qua việc thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn
kết, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" do Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam phát động đến nay đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng với 6
nội dung của cuộc vận động.
Sang năm 2009, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh tuyên
truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo
Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng
như các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội
nhập của đất nước, nhấn mạnh những thời cơ, thách thức; thuận lợi và
khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của việc thực hiện chiến lược
biển đối với sự phát triển, ổn định của đất nước trong năm 2009;
tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật
Biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta;
những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các
quần đảo trên biển Đông (đặc biệt 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa),
khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết
tranh chấp; tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực hiện các
văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các nước láng
giềng, các nước có liên quan; tuyên truyền giáo dục cho toàn dân
nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển, đảo của Tổ
quốc, góp phần gìn giữ hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát triển giữa
các quốc gia vùng Biển Đông; giới thiệu những thành tựu phát triển
kinh tế biển, đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước; vai trò
của các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào phát triển kinh tế,
biển, đảo; chú trọng tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến,
các nhân tố mới, nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh - xã hội,
đảm bảo giữ gìn an ninh và chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc;
và các định hướng về điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển;
phát triển khoa học - công nghệ biển; bảo vệ môi trường biển, công
tác dự báo, phòng chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn;
tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các hiện tượng sai
trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên biển, đảo; phê phán các hành vi
đánh bắt có tính chất hủy diệt nguồn lợi thủy, hải sản, phá hoại môi
trường sinh thái biển; tàu thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền,
quyền tài phán vùng biển của nước ta; đấu tranh phản bác các luận
điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch xuyên tạc về chủ
quyền biển, đảo của Việt Nam; Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách
nhiệm, tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với các chiến sĩ, các
lực lượng đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo
vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Vũ Trọng Kim bày tỏ vui mừng
trước sự phối hợp của MTTQ Việt Nam với Bộ Tư lệnh Hải quân triển
khai công tác tuyên truyền về biển, đảo và cho rằng, đây là nhiệm vụ
chính trị quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung
ương 4 khóa X “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” và thời
gian tới Uỷ ban MTTQ Việt Nam sẽ phối hợp với các Tổ chức thành viên
ở Trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch công tác tuyên truyền
về biển, đảo; kịp thời cổ vũ, động viên các lực lượng làm công tác
giữ gìn an ninh và bảo vệ chủ quyền biển, đảo bảo vệ toàn vẹn lãnh
thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Tùng Lâm
Về đầu trang
Quy hoạch sử dụng
tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo
Bảo đảm sự thống nhất, liên ngành, liên vùng,
đồng thời hài hòa lợi ích chung giữa các bên liên quan trong khai
thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; kết hợp
chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, hải đảo với phát triển vùng nội
địa theo hướng CNH, HĐH, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ
môi trường, bảo đảm an toàn trên biển, góp phần bảo vệ an ninh chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
Đó là
một trong những nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển, hải đảo quy định tại Nghị định số 25/2009/NĐ-CP được
Chính phủ ban hành ngày 6-3-2009. Nghị định nêu rõ Quy hoạch sử dụng
tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên nguyên tắc bảo
đảm tính thống nhất, hệ thống và phù hợp đặc điểm, vị trí địa lý,
quy luật tự nhiên của các vùng biển, vùng ven biển và hải đảo; hạn
chế tác động có hại, đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi
trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy chất
lượng môi trường, bảo đảm sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc
đẩy sự phát triển kinh tế biển và hải đảo. Quy hoạch được lập cho
giai đoạn 10 năm và định hướng cho giai đoạn 20 năm tiếp theo. Định
kỳ 5 năm phải đánh giá, điều chỉnh cho phù hợp.
Các tổ
chức, cá nhân có nhu cầu và khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên
biển và hải đảo phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép
theo quy định của pháp luật; việc cấp phép khai thác, sử dụng tài
nguyên biển và hải đảo phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng tài nguyên
và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; quy hoạch chuyên ngành đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành để thực
hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ
môi trường biển, hải đảo đối với các chương trình, kế hoạch quản lý
tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo liên quan
nhiều bộ, ngành và địa phương. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
thực hiện nhiệm vụ là cơ quan thường trực của các Ban Chỉ đạo liên
ngành để điều phối thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp
tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
Về biện
pháp phòng ngừa, ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo, các chủ
cơ sở sản xuất, kinh doanh trên hải đảo, chủ phương tiện nổi trên
biển có trách nhiệm báo cáo về chất thải và phương án xử lý chất
thải cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; nước thải từ các
dàn khoan thăm dò và khai thác dầu khí, phương tiện nổi, nước dằn
tàu của các tổ chức, cá nhân hoạt động tại các vùng biển của Việt
Nam chỉ được phép xả ra biển sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật
về môi trường...
Bộ Tài
nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức nghiên cứu, điều tra, đánh giá
tình trạng ô nhiễm biển, hải đảo và xác định các vùng ô nhiễm nghiêm
trọng; tiến hành xử lý, khắc phục hậu quả ô nhiễm, phục hồi và cải
thiện chất lượng môi trường biển, hải đảo; ban hành các quy định về
quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo; chỉ đạo và
hướng dẫn UBND các tỉnh ven biển thực hiện các quy định về quản lý
chất thải và kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo.
(Theo
Báo Nhân Dân)
Về đầu trang
Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa
Lập trường của Việt Nam về vấn đề hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa là rõ ràng. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và
pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này
Ngày
12/3/2009, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng
của Việt Nam trước việc Công ty TNHH du lịch quốc tế Châu Giang, Hải
Nam (Trung Quốc) thông báo mở tuyến du lịch ra đảo Phú Lâm thuộc
quần đảo Hoàng Sa, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê
Dũng, tuyên bố: Lập trường của Việt Nam về vấn đề hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa là rõ ràng. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và
pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này.
Việt Nam
hết sức quan ngại và phản đối việc Trung Quốc cho phép Công ty du
lịch quốc tế Châu Giang mở tour du lịch ra đảo Phú Lâm thuộc quần
đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Việc làm này đã vi phạm nghiêm trọng chủ
quyền lãnh thổ của Việt Nam, không có lợi cho tiến trình đàm phán
tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên.
Trước sau
như một, Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua
thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng Luật pháp quốc tế và thực
tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển
năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)
năm 2002 cũng như thỏa thuận chung đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao
Việt Nam - Trung Quốc".
* Về việc
ngày 10/3, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo ký ban hành Luật
đường cơ sở mới của Philippines, trong đó quy thuộc các đảo thuộc
quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ của Philippines, ngày
12/3, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Dũng, tuyên bố:
Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền
của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hành động
của các bên liên quan ở khu vực này mà không có sự đồng ý của Việt
Nam đều là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp
lý.
Việc ngày
10/3, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo ký ban hành Luật đường cơ
sở mới của Philippines, trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo
Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ của Philippines, đã vi phạm
nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, làm phức
tạp thêm tình hình, không phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về cách
ứng xử của các bên ở Biển Đông, đi ngược lại với xu thế hợp tác
trong khu vực.
Việt Nam
phản đối việc làm trên và đề nghị Philippines có thái độ kiềm chế,
không tiến hành những hành động tương tự, tránh làm ảnh hưởng tới
hòa bình, ổn định trong khu vực và quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và
Philippines"./.
Theo VOV
Về đầu trang
Ban hành Nghị
định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hảo
đảo
Theo Nghị định 25/2009/NĐ-CP vừa được
Chính phủ ban hành ngày 6/3/2009, nguyên tắc quản lý tổng hợp tài
nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo phải bảo đảm sự thống nhất,
liên ngành, liên vùng, đồng thời hài hòa lợi ích chung giữa các bên
liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường
biển, hải đảo.
Nghị định cũng nêu rõ nguyên tắc kết
hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, hải đảo với phát triển vùng
nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữa phát triển
kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn trên biển,
góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
Về quy hoạch sử dụng tài nguyên và
bảo vệ môi trường biển, hải đảo, phải bảo đảm tính thống nhất, hệ
thống và phù hợp với đặc điểm, vị trí địa lý, quy luật tự nhiên của
các vùng biển, vùng ven biển và hải đảo; hạn chế tác động có hại,
đồng thời bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm sử dụng
bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy chất lượng môi trường, bảo đảm
sử dụng bền vững tài nguyên biển và thúc đẩy sự phát triển kinh tế
biển và hải đảo. Quy hoạch được lập cho giai đoạn 10 năm và định
hướng cho giai đoạn 20 năm tiếp theo. Định kỳ 5 năm phải đánh giá,
điều chỉnh cho phù hợp.
Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và
khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép theo quy định của pháp luật;
việc cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo phải văn
cứ vào quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải
đảo; quy hoạch chuyên ngành đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt.
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành để
thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo
vệ môi trường biển, hải đảo đối với các chương trình, kế hoạch quản
lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo liên quan
đến nhiều Bộ, ngành và địa phương. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
thực hiện nhiệm vụ là cơ quan thường trực của các Ban Chỉ đạo liên
ngành để điều phối thực hiện chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp
tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
Về biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn,
kiểm soát ô nhiễm biển, hải đảo, các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh
trên hải đảo, chủ phương tiện nổi trên biển có trách nhiệm báo cáo
về chất thải và phương án xử lý chất thải cho cơ quan quản lý nhà
nước về môi trường; nước thải từ các dàn khoan thăm dò và khai thác
dầu khí, phương tiện nổi, nước dằn tàu của các tổ chức, cá nhân hoạt
động tại các vùng biển của Việt Nam chỉ được phép xả ra biển sau khi
đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường...
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì
tổ chức nghiên cứu, điều tra, đánh giá tình trạng ô nhiễm biển, hải
đảo và xác định các vùng ô nhiễm nghiêm trọng; tiến hành xử lý, khắc
phục hậu quả ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường
biển, hải đảo; ban hành các quy định về quản lý chất thải và kiểm
soát ô nhiễm biển, hải đảo; chỉ đạo và hướng dẫn UBND các tỉnh ven
biển thực hiện các quy định về quản lý chất thải và kiểm soát ô
nhiễm biển, hải đảo.
(Theo Báo ĐTĐCSVN)
Về đầu trang
Tiếp sức cho phụ nữ nghèo
tuyến biển
Chung sức giúp phụ nữ nghèo tuyến biển làm ăn, xây dựng cuộc
sống no ấm hạnh phúc, tham gia tích cực vào việc giữ bình yên thôn
xóm và chủ quyền an ninh vùng biển là những hoạt động được chú trọng
trong chương trình phối hợp “Vận động phụ nữ khu vực biên giới biển”.
Chương trình này do Bộ đội biên phòng (BĐBP) và Hội Liên hiệp
Phụ nữ (LHPN) tỉnh Phú Yên triển khai trong nhiều năm qua, đã đưa
hàng trăm gia đình phụ nữ trên tuyến biển thoát khỏi đói nghèo, góp
phần xây dựng vùng nông thôn ven biển ngày càng phát triển, giữ vững
an ninh trật tự trên tuyến biên giới biển.
QUA RỒI GIAN KHÓ
Cùng các cán bộ Hội LHPN tỉnh, chúng tôi về Vịnh Hòa (xã Xuân
Thịnh, huyện Sông Cầu) và được nghe nhiều câu chuyện cảm động từ
những phụ nữ vượt nghèo. Chồng chị Lương Thị Kim Hoa mất sớm vì bệnh
ung thư gan. Khi đó, gia đình chị nghèo lắm, trong nhà không có lấy
một tấm áo lành lặn để mặc cho chồng lúc tẩm liệm. Một mình cáng
đáng gánh nặng gia đình với đàn con gầy gò nheo nhóc, nhiều lúc chị
tưởng chừng kiệt sức. Thế rồi những người lính biên phòng Đồn 344 và
chị em ở Chi hội Phụ nữ thôn Vịnh Hòa đã đến với chị. Chị Hoa nghẹn
ngào kể: Anh em ở đồn biên phòng đã chia sẻ phần ăn, dành hai suất
gạo hàng tháng đem đến cho mẹ con tôi. Chị em ở Chi hội Phụ nữ gom
góp áo quần, rau mắm, đồ ăn, hàng ngày đến an ủi, động viên. Khi Nhà
nước có chủ trương cho hộ nghèo vay vốn làm ăn, Hội Phụ nữ và anh em
biên phòng đã động viên chị vay vốn để làm lồng bè nuôi tôm. Chị rụt
rè nuôi vụ đầu, thấy hiệu quả nên tiếp tục nuôi. Nhờ vậy, đời sống
của gia đình chị dần được cải thiện. Năm 2007, địa phương hỗ trợ 15
triệu đồng, chị đã xây được căn nhà vững chãi và ấm cúng. Không quên
nghĩa tình mà cán bộ chiến sĩ Đồn Biên phòng 344 và chị em ở Hội Phụ
nữ dành cho mình nên dù tuổi đã cao, chị Hoa vẫn tích cực tham gia
các hoạt động xây dựng thôn xóm.
Chúng tôi đến thăm chị Đỗ Thị Thanh Thúy, một phụ nữ vừa
thoát nghèo. Nghẹn đi trong niềm xúc động, chị Thúy kể: “Hai năm
trước, nhà tôi luôn nghèo túng. Cơm thì bữa đói bữa no. Sinh con ra
chẳng có đủ sữa cho con bú. Hội Phụ nữ đã tạo điều kiện cho tôi vay
vốn để mở quán bán hàng. Sau hai năm buôn bán, tôi đã xây được căn
nhà cấp 4 khá vững chắc và nâng cấp quán hàng của mình”. Chồng chị
làm nghề biển. Anh đã nhiều lần giúp đỡ đồn biên phòng trong công
tác hòa giải, giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc của ngư dân lúc
làm ăn trên biển.
HIỆU QUẢ TỪ CÔNG TÁC PHỐI HỢP
Trung tá Trần Anh Đức, Chính trị viên Đồn Biên phòng 344 cho
biết: Hơn chục năm về trước, người dân ở địa bàn ven biển ở Sông Cầu
- nhất là nơi Đồn Biên phòng 344 quản lý - nghèo đói, túng thiếu
quanh năm. Nhiều thôn chưa có điện, đường sá đi lại khó khăn, cách
trở. Nhận thức của nhân dân về việc chấp hành chính sách, quy định
của nhà nước về xây dựng đời sống mới còn hạn chế. Thôn xóm thường
xuyên có lời qua tiếng lại… Cùng với những mâu thuẫn, tranh chấp
trên ngư trường là tình trạng dùng thuốc nổ đánh bắt hải sản diễn ra
thường xuyên. Phần đông chị em phụ nữ quanh năm không ra khỏi địa
bàn. Nhiều chủ trương chính sách của Nhà nước và những diễn biến
trong đời sống xã hội họ gần như không hề hay biết.
Khởi động từ năm 1992, chương trình phối hợp “Vận động phụ nữ
khu vực biên giới biển” giữa Trung ương Hội LHPN và bộ đội biên
phòng đã góp phần nâng cao đời sống, nhận thức của phụ nữ vùng nông
thôn ven biển. Chị Nguyễn Thị Nhung, Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện Sông
Cầu cho biết: Từ chỉ đạo của cấp trên, cán bộ vận động quần chúng
của đồn biên phòng và Hội Phụ nữ cơ sở đã bám sát địa bàn, nắm rõ
thực trạng tình hình đời sống của chị em phụ nữ. Với sự vận động
tích cực của cán bộ chiến sĩ BĐBP và Chi hội Phụ nữ các địa phương,
đã có hàng trăm buổi sinh hoạt và hàng ngàn lượt phụ nữ tham gia,
nghe phổ biến về pháp luật, kiến thức chăm sóc gia đình, nuôi dạy
con, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất. Nhiều
mô hình ra đời như Câu lạc bộ Gia đình hạnh phúc, Câu lạc bộ Phụ nữ
không sinh con thứ ba… đã đưa chị em đến với các sinh hoạt cộng đồng
để mở mang kiến thức, nắm bắt thông tin. Ngoài việc làm ăn, quan tâm
chăm sóc con cái, chăm lo sức khỏe bản thân, chị em còn mạnh dạn
tham gia ngăn ngừa, tố giác các đối tượng phạm tội, khích lệ chồng
con chăm lo làm ăn, chấp hành nghiêm những quy định khi đánh bắt
trên biển.
Những làng biển đang từng ngày thay da đổi thịt, đời sống của
phụ nữ ở đây cũng vơi bớt nỗi gian truân. Hàng trăm hộ gia đình phụ
nữ vùng biển của tỉnh thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làm ăn khá giả
có sự đóng góp không nhỏ từ chương trình phối hợp “Vận động phụ nữ
khu vực biên giới biển”. Tại buổi gặp gỡ giữa cán bộ chiến sĩ Đồn
Biên phòng 344 và bà con làng biển Vịnh Hòa, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh
Phú Yên Cao Thị Hòa An xúc động nói: “Ở nơi đầu sóng ngọn gió này,
cán bộ chiến sĩ BĐBP đã trở thành điểm tựa vững chắc cho phụ nữ
nghèo, cho bà con làng biển để xây dựng cuộc sống ngày càng phát
triển”.
PHƯƠNG OANH
Về đầu trang
Tăng cường tuyên
truyền biển, đảo
Biển,
đảo có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Vì vậy, Ðảng và Nhà nước
đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về phát triển các lĩnh vực
liên quan biển, đảo. Những năm qua, công tác tuyên truyền biển, đảo
đã góp phần làm cho nhận thức của các cấp, các ngành và các tầng lớp
nhân dân về vị trí chiến lược của biển, đảo từng bước được nâng cao.
Nhận thức về tầm quan trọng của biển, đảo đã được thể hiện trong
chính sách phát triển của những ngành liên quan và các địa phương có
biển.
Tuy vậy,
công tác tuyên truyền về lĩnh vực này còn những hạn chế, chưa được
tiến hành một cách đồng bộ, thường xuyên, liên tục. Nội dung, hình
thức tuyên truyền chưa hấp dẫn, chưa hướng mạnh về cơ sở, đến tận
người dân, nhất là khu dân cư vùng biển, đảo và ven biển. Sự hiểu
biết pháp luật về biển và ý thức giữ gìn tài nguyên, môi trường biển
của người dân còn hạn chế.
Vì vậy,
công tác tuyên truyền về biển, đảo phải được tiến hành một cách chủ
động, tích cực, thường xuyên, liên tục. Nội dung và hình thức tuyên
truyền cũng đòi hỏi phải được đổi mới, đa dạng phù hợp từng đối
tượng và từng thời điểm, có sự phối hợp giữa các lực lượng làm công
tác này. Ðể công tác tuyên truyền biển, đảo đạt hiệu quả thiết thực,
thiết nghĩ cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng về vị trí,
vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo nước ta đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như mai sau. Cần tuyên
truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản, phổ thông về Luật Biển quốc
tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta, kết quả thực
hiện các văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã ký kết với các
nước láng giềng, các nước có liên quan. Tuyên truyền giáo dục cho
toàn dân nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển,
đảo của Tổ quốc, góp phần giữ gìn hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát
triển giữa các quốc gia trong khu vực. Nội dung công tác tuyên
truyền cũng cần giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển,
đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước, vai trò của các thành
phần kinh tế tham gia tích cực vào việc phát triển kinh tế biển, đảo.
Tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới,
nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh xã hội, giữ gìn an ninh và
chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Tuyên
truyền về điều tra môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ
biển; bảo vệ môi trường biển, công tác dự báo, phòng chống và cảnh
báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu
tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên
biển, đảo; phê phán các hành vi đánh bắt có tính chất hủy diệt
nguồn lợi thủy, hải sản, phá hoại môi trường sinh thái biển; tàu,
thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của
nước ta; đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực
cơ hội, thù địch xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.
Tuyên truyền nâng cao tinh thần trách nhiệm, tình cảm của mọi tầng
lớp nhân dân đối với các chiến sĩ, các lực lượng đang ngày đêm làm
nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng
liêng của Tổ quốc.
(Theo Báo Nhân Dân)
Về đầu trang
Tỉnh Bình Định: Chú
trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển
Bình
Định có 5 huyện, thành phố ven biển; trong đó, có 27 xã, phường ven
biển, đảo. Những năm qua, tỉnh đã xây dựng được lực lượng dân quân
tự vệ (DQTV) biển, nhằm giữ gìn an ninh, trật tự trên biển và bảo vệ
chủ quyền vùng biển quốc gia. Tuy nhiên, DQTV biển chưa được quản lý,
điều hành chặt chẽ; chính sách, chế độ chưa phù hợp; hiệu quả hoạt
động còn hạn chế. Trước tình hình đó, được sự tham mưu của Bộ Chỉ
huy Quân sự tỉnh, UBND tỉnh đã lập đề án tổ chức, hoạt động của DQTV
biển từ 2008-2010.
Không
phải là tỉnh đầu tiên thực hiện đề án DQTV biển nhưng Bình Định làm
khá bài bản. Rút kinh nghiệm của một số địa phương đi trước trong
Quân khu, Ban DQTV của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã bỏ ra gần ba tháng
đi khảo sát từng xã, huyện, chủ thuyền; đề xuất cách giải quyết
những vướng mắc gặp phải, nhất là tạo sự đồng thuận giữa chủ tàu và
dân quân với phương châm “chủ tàu nơi đâu, dân quân nơi đó”. Sau khi
hoàn chỉnh, đề án đã được thông qua bốn cấp: sở, ban, ngành và Chủ
tịch UBND tỉnh, được các cơ quan chức năng đóng góp ý kiến cụ thể,
tỉ mỉ.
Theo đề
án, biên chế tuyến bờ mỗi tiểu đội có bảy thành viên đi trên 2-3 tàu;
tuyến lộng và tuyến khơi, mỗi tiểu đội tổ chức lực lượng thuyền viên
trên một tàu. Thời gian huấn luyện được bố trí phù hợp với đặc điểm
mùa vụ, có sự phối hợp, giúp đỡ của các đơn vị hải quân, biên phòng,
cảnh sát biển.
Kinh
phí bảo đảm cho hoạt động DQTV biển lên đến gần 1,55 tỉ đồng trong 3
năm (2008-2010). Trong đó huyện chi 1,14 tỉ đồng bảo đảm ngày công,
tiền ăn; huấn luyện cơ bản, nâng cao, thời gian trực sẵn sàng chiến
đấu, kiểm tra, kiểm soát địa bàn và chi phụ trách trách nhiệm cho
tiểu đội trưởng, trung đội trưởng. Tỉnh lo phần mua sắm trang phục
dân quân, tập huấn cán bộ, đầu tư công cụ hỗ trợ, vật chất huấn
luyện… DQTV biển được cấp đầy đủ quân trang (gồm 2 bộ quần áo, giày,
áo mưa); ngày công huấn luyện, trực (từ 50.000 đến 60.000 đồng);
được cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện vay vốn làm ăn, bố trí việc
làm mùa biển động như vào các tổ chế biến thủy sản, sửa chữa tàu
thuyền…
Sau lễ
ra mắt làm điểm của trung đội dân quân biển Cát Tiến (Phù Cát) vào
tháng 11.2008, đến nay, tất cả các đầu mối DQTV biển của tỉnh đã
thành lập xong lực lượng và bắt đầu đi vào hoạt động nề nếp. Các
huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, TP Quy Nhơn đều có từ 7-9 tiểu đội, riêng
huyện Phù Cát có 2 trung đội và 4 tiểu đội (huyện Tuy Phước do bãi
ngang nên không thành lập DQTV biển).
Xác
định quyền lợi đi đôi với trách nhiệm, hiện nay, DQTV biển của tỉnh
rất phấn khởi, yên tâm gắn bó với lực lượng, thực hiện “đi báo cáo
về báo công”, làm ăn ở đâu đều thông báo với chính quyền, Ban Chỉ
huy Quân sự xã. Các dân quân biển đã thể hiện là những công dân
gương mẫu trong khu dân cư, những chiến sĩ có độ chính trị được tin
cậy cao, là lực lượng xung kích góp phần giữ vững an ninh chính trị-
trật tự an toàn ở địa phương, giữ vững an toàn vùng biển, nhiều lần
ngăn chặn việc dùng thuốc nổ đánh bắt thủy sản trên biển hay phát
hiện báo cho địa phương xử lý các vụ dùng xung điện đánh cá trên đầm
Đề Gi.
Theo
Thượng tá Phạm Tiến Dục, Trưởng ban DQTV - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh,
thời gian tới, Bình Định sẽ đẩy mạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng
cho DQTV biển cả về quân sự lẫn chính trị, nâng cao hơn nữa khả năng
phối hợp hoạt động, tác nghiệp trên biển nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới.
(Theo Hồng Vân – Báo Bình Định)
Về đầu trang
Định hướng và giải pháp thực hiện chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020
I.
ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
1- Quan điểm chỉ đạo
Nước ta
phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở
phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề
biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh,
bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.
- Kết
hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng,
an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp chặt chẽ giữa
phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Thu
hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường
biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa. Phát huy đầy đủ, có
hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút
mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi,
bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất
nước.
2-
Mục tiêu
-
Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành
quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền,
quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh.
-
Mục tiêu cụ thể: Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng,
an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển.
Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng
53-55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải
thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Phấn
đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai so với thu nhập bình
quân chung của cả nước. Xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm
cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh. Phát triển mạnh
cả khai thác, chế biến sản phẩm từ biển và phát triển các ngành dịch
vụ biển. Xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ
quan quản lý Nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu
quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.
3-
Định hướng chiến lược phát triển kinh tế -xã hội
Đẩy
mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môi
trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu
hạ tầng biển gắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng
tuyến đường ven biển, trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến
vận tải cao tốc trên biển. Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh
gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế để ra biển, làm động lực thúc
đẩy sự phát triển của đất nước. Tăng cường khả năng quốc phòng, an
ninh trên biển, khả năng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và phòng, chống
thiên tai. Nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và
những người hoạt động trên biển. Đẩy mạnh công tác quản lý Nhà nước
và quan hệ quốc tế về biển, đảo. Đến năm 2020, phát triển thành công,
có bước đột phá về kinh tế biển, ven biển như sau: 1) Khai thác, chế
biến dầu, khí; 2) Kinh tế hàng hải; 3) Khai thác và chế biến hải sản;
4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5) Xây dựng các khu kinh tế, các
khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát
triển các khu đô thị ven biển.
Sau năm
2020, thứ tự phát triển kinh tế biển có sự thay đổi: 1) Kinh tế hàng
hải; 2) Khai thác, chế biến dầu, khí và các loại khoáng sản; 3) Khai
thác và chế biến hải sản; 4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5) Các
khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển
gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Trước mắt, tập trung đầu
tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công
nghiệp đóng tàu, xây dựng đội tàu mạnh, phát triển những ngành dịch
vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều
kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho những người dân sinh
sống ở những vùng thường bị thiên tai; đồng thời, xây dựng các cơ sở
bảo vệ môi trường biển.
4-
Định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Nhiệm
vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản
lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán
vùng biển, thềm lục địa và các quần đảo, đảo thuộc chủ quyền của
nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi
ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hoà bình, ổn định và hợp
tác phát triển.
Định
hướng chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại vùng biển và ven
biển là: Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền,
quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng
trời của Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu
tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản
lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc. Phát triển kinh tế biển
gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo và xây dựng thế
trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng
lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển,
biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư
dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển.
Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ
nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, vừa
phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.
5-
Định hướng điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển
Đẩy
mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển để xác
lập căn cứ khoa học cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên, môi trường
biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc
phòng. Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý, điều hành công tác điều
tra, thăm dò và sử dụng dữ liệu về tài nguyên biển.
6-
Định hướng phát triển khoa học - công nghệ biển
Phát
triển khoa học - công nghệ biển phải trở thành động lực của phát
triển các lĩnh vực liên quan đến biển. Xây dựng tiềm lực khoa học -
công nghệ biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Đẩy mạnh nghiên
cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học - công nghệ,
phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài
nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ cho
nghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai
đoạn phát triển mới của đất nước.
7-
Định hướng bảo vệ môi trường biển và ven biển, phòng, chống thiên
tai
Hạn chế,
ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường biển; bảo vệ và phát triển
bền vững các hệ sinh thái biển và ven biển, tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế, xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững
đất nước. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực phòng, chống
và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, từng bước hiện đại hoá lĩnh
vực này, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm an toàn
đời sống dân cư và các thành phần kinh tế hoạt động trên biển, đảo
và ven biển.
8-
Định hướng xây dựng kết cấu hạ tầng
Phát
triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một số cảng
đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế đặc biệt chú trọng các cảng nước
sâu ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, tạo những cửa mở lớn vươn ra biển
thông với quốc tế. Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và
hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật - công nghệ các cảng, tăng
nhanh năng lực bốc xếp hàng hoá, giảm thiểu tối đa chi phí, bảo đảm
có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế. Sớm hoàn chỉnh,
khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xây dựng tuyến
đường Bắc - Nam trên biển. Xây dựng hệ thống cung cấp điện, nước
ngọt bảo đảm cho quá trình phát triển kinh tế biển và phục vụ sinh
hoạt của dân cư ven biển, trên biển và các đảo. Xây dựng hệ thống
thông tin, quan sát biển, hình thành hệ thống nghiên cứu và dự báo
về biển (có trọng tâm, trọng điểm theo lĩnh vực và theo vùng).
9-
Định hướng chiến lược các vùng biển
a) Vùng
biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh - Ninh Bình): Xây dựng khu vực
Hải Phòng - Quảng Ninh thành trung tâm kinh tế mạnh, nòng cốt là
cảng biển, công nghiệp và du lịch biển làm đầu tàu lôi kéo cả vùng
phát triển. Hình thành và phát triển các khu kinh tế tổng hợp, cụm
công nghiệp ven biển. Phát triển các khu kinh tế thương mại gắn với
vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ trên cơ sở xây dựng tuyến
đường ven biển, cảng biển, các khu kinh tế, các thành phố, thị xã,
thị trấn ở dải ven biển.
b) Vùng
biển và ven biển Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá - Bình
Thuận). Xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm phát triển các lĩnh vực
liên quan đến biển của vùng, là một trong ba trung tâm kinh tế biển
lớn của nước ta. Xây dựng hành lang kinh tế trên cơ sở tuyến cao tốc
Bắc - Nam, các cảng nước sâu, sân bay quốc tế, phát triển các đô thị
ven biển. Xây dựng các khu kinh tế tổng hợp; chú trọng phát triển
kinh tế hàng hải, du lịch.
c) vùng
biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa - Vũng Tàu - Thành phố Hồ Chí
Minh): phát triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm hướng ra biển
của vùng. Hình thành các tuyến hành lang kinh tế, các khu công
nghiệp, trong đó quan trọng nhất là tuyến hành lang kinh tế dọc quốc
lộ 51.
d) Vùng
biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang - Cà Mau - Kiên Giang): Xây
dựng Phú Quốc thành trung tâm kinh tế lớn của vùng hướng mạnh ra
biển. Đến năm 2020, cơ bản xây dựng Phú Quốc thành trung tâm du lịch
sinh thái chất lượng cao và trung tâm giao thương quốc tế. Hình
thành và phát triển tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây (Rạch
Giá - Hà Tiên) và tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Đông (Bạc
Liêu - Ghềnh Hào - Cà Mau - Năm Căn) gắn với xây dựng khu công
nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau.
II.
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1-
Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng, có hệ thống trong
nhân dân nhằm nâng cao và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức
của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược
của biển. ý thức về biển phải được thể hiện đầy đủ trong chính sách
phát triển của những ngành có liên quan và các địa phương có biển.
2-
Xây dựng lực lượng mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh
trên biển
Xác
định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương đối với
nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc. Xây
dựng và phát triển kinh tế biển phải gắn chặt với bảo đảm quốc phòng,
an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân gắn
với phát triển kinh tế biển. Thực hiện dân sự hoá trên biển, đảo gắn
với tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất và khai thác biển. Có chính
sách đặc biệt để khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra định cư ổn định
trên đảo và làm ăn dài ngày trên biển. Thí điểm xây đựng các khu
quốc phòng - kinh tế tại các đảo, quần đảo Trường Sa, vùng biển, đảo
ở Đông Bắc... Xác định rõ những khu vực dành riêng cho nhiệm vụ quốc
phòng, còn lại cho phép và khuyến khích phát triển các hoạt động
kinh tế, sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm
chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu
quả các tranh chấp biển, đảo; không để xảy ra các điểm nóng. Xây
dựng đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đấu tranh về quyền điều
hành vùng thông báo bay (FIR) phần phía bắc FIR Hồ Chí Minh và đông
nam FIR Hà Nội. Củng cố và mở rộng hợp tác về quốc phòng với các
nước ASEAN và Trung Quốc với các hình thức thích hợp. Tiếp tục đàm
phán với các nước láng giềng, các nước có tranh chấp thềm lục địa,
vùng chồng lấn, phân chia vùng biển lịch sử và đảo; xây dựng vùng
biển hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển. Sớm triển khai và hoàn
thành việc đặt tên các đảo ở vùng biển quốc gia, xây dựng mô hình tổ
chức hành chính và nâng cao năng lực quản lý các huyện đảo, xã đảo,
nhằm phát triển mạnh kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm
quốc phòng, an ninh.
3-
Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học - công nghệ biển
Xây
dựng hệ thống thông tin cơ sở tin cậy, phục vụ việc hoạch định chủ
trương, chính sách phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển; chủ
trương, giải pháp về khoa học - công nghệ phải được coi là giải pháp
đi trước, mang tính đột phá nhằm phát huy tốt nhất tiềm năng khoa
học cho kinh tế biển, phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo phòng,
chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động trên biển.
4-
Triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả công tác quy hoạnh tổng thể phát
triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Công
tác quy hoạch phải đi trước một bước với tầm nhìn dài hạn, hiện đại
theo những tiêu chuẩn phù hợp với quốc tế và khu vực. Quán trệt quan
điểm coi vùng duyên hải gắn với kinh tế biển là vùng động lực để mở
cửa, thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế. Tập trung phát triển
mạnh những cơ sở công nghiệp chế biến các sản phẩm từ biển, hạn chế
tối đa xuất khẩu sản phẩm thô.
5-
Quản lý Nhà nước có hiệu lực và hiệu quả với các vấn đề liên quan
đến biển
Nghiên
cứu, đề xuất về cơ quan quản lý Nhà nước tổng hợp, quản lý thống
nhất về biển. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển một
cách đầy đủ, làm cơ sở cho việc xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền,
quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền trên các
vùng biển, đảo. Ban hành cơ chế, chính sách bảo đảm cho sự phát
triển nhanh, bền vững các lĩnh vực liên quan đến biển và vùng ven
biển, đặc biệt là bảo đảm phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ biển,
đảo ở vùng biển xa bờ có giá trị chiến lược về kinh tế và quốc phòng,
an ninh.
6-
Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách
khuyến khích đầu tư phát triển
Khuyến
khích mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư dưới mọi hình thức của các thành
phần kinh tế để phát triển kinh tế biển, kể cả các công trình thuộc
kết cấu hạ tầng lớn như cảng biển, đường giao thông, các khu đô thị,
khu công nghiệp... của mọi hình thức sở hữu. Tập trung đầu tư đủ mức,
đồng bộ và dứt điểm nhằm phát huy cao nhất năng lực và hiệu quả khai
thác, đặc biệt là với các khu công nghiệp, cảng biển, các cơ sở sản
xuất và dịch vụ. Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách cho việc
phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh, các khu công nghiệp tập
trung, khu chế xuất gắn với bảo vệ môi trường biển, phát triển hệ
thống cảng biển gắn với hệ thống giao thông ven biển; có chính sách
xây dựng nhà ở kiên cố cho nhân dân vùng ven biển và chính sách
khuyến khích đánh bắt khơi xa, nuôi trồng thuỷ sản trên biển, vận
tải biển...
7-
Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội vùng biển và ven biển
Trên cơ
sở quy hoạch từng ngành, lĩnh vực thuộc kinh tế biển và vùng ven
biển, phát triển mạnh nguồn nhân lực biển bao gồm cán bộ nghiên cứu
khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia và đội ngũ lao động được
đào tạo chuyên sâu về các nghề như: hàng hải, khai thác và chế biến
dầu khí, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, du lịch biển, nghiên cứu
khoa học biển, v.v.. Xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ
chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học và quản lý ra công tác
tại các đảo và vùng ven biển. Khuyến khích việc xây dựng một số cơ
sở đào tạo ngành, nghề về biển (đại học, cao đẳng, dạy nghề) ở các
thành phố biển. Đồng thời với việc phát triển nhân lực biển, phải
coi trọng phát triển các lĩnh vực xã hội ở vùng ven biển, đặc biệt
chú ý đến đời sống và bảo đảm an toàn tính mạng của những người hoạt
động trên biển, đảo và nhân dân ở những vùng bị thiên tai. Có giải
pháp mạnh để sớm giải quyết tốt vấn đề phát triển kinh tế, xã hội ở
các xã ven biển, vùng bãi ngang, như tổ chức lại sản xuất, quy hoạch
lại khu dân cư, xây dựng kết cấu hạ tầng và cải thiện, nâng cao đời
sống nhân dân.
8-
Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển
Tăng
cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển để khai thác có
hiệu quả mọi tiềm năng kinh tế biển, đồng thời, bảo đảm tốt nhiệm vụ
quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, bảo vệ chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia. Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật
trong lĩnh vực đối ngoại về biển theo luật pháp và thông lệ quốc tế,
có tính tới các quan hệ với các nước trong khu vực, đồng thời, tranh
thủ các diễn đàn quốc tế để củng cố vị thế của Việt Nam về biển,
ranh giới biển của quốc gia. Mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường
công tác ngoại giao, đặc biệt với các nước lân cận Biển Đông và
những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học - công nghệ mạnh về biển để
bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, phát triển kinh tế biển và vùng
ven biển, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên biển, trên nguyên
tắc giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh, quốc phòng
trên biển, góp phần gìn giữ hoà bình, hợp tác hữu nghị giữa các quốc
gia vùng Biển Đông.
9-
Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh
Xây
dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh làm lực lượng nòng cốt trong phát
triển kinh tế biển với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế. Các
lĩnh vực cần được đặc biệt chú ý là điều tra, khai thác và chế biến
dầu, khí, khoáng sản, hàng hải, công nghiệp đóng tàu, vận tải biển,
khai thác và chế biến hải sảnr
B.B.T
Về đầu trang
Quá trình hình thành
đường biên giới trên đất liềnViệt Nam - Trung Quốc
1. Công ước Pháp - Thanh 1887 và 1895
Đường biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hình
thành qua quá trình lịch sử và tồn tại một cách tương đối ổn định kể
từ khi Việt Nam thoát khỏi ách Bắc thuộc từ thế kỷ thứ 10. Tạp chí
Geographer số 38 của Vụ Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
ngày 29/10/1964 viết: "Sau hơn 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ
phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập Vương quốc Đại Cồ Việt...
nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình ... một đường
biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc
gia cách đây 10 thế kỷ". Tuy nhiên, biên giới Việt - Trung mang tính
khái niệm biên giới vùng, chưa phải là đường biên giới được phân
giới cắm mốc (PGCM), đánh dấu bằng một hệ thống mốc giới chính xác.
Công ước 26/6/1887 và công ước bổ sung 20/6/1895 giữa Chính phủ Pháp
(nhân danh Việt Nam) và Triều đình Mãn Thanh Trung Quốc là các văn
bản pháp lý quốc tế đầu tiên xác định biên giới giữa Việt Nam và
Trung Quốc đang tồn tại đến ngày nay. Đường biên giới đó đã được cụ
thể hoá trên thực địa bằng một hệ thống mốc quốc giới (314 mốc) từ
Móng Cái đến tận biên giới Lào - Trung.
Đường biên giới do hai Công ước 1887 và 1895 xác lập cơ bản là dựa
trên đường biên giới lịch sử vốn có đã tồn tại từ lâu đời giữa hai
nước Việt Nam - Trung Quốc trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, điều đó
phản ánh một trong những thành quả lịch sử của cuộc đấu tranh giữ
nước và dựng nước hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam. Pháp và Nhà
Thanh đã vận dụng một số nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế
cũng như tập quán quốc tế và thiết lập đường biên giới quốc gia để
xác lập đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
bao gồm các bước hoạch định, phân giới và cắm mốc cùng các hồ sơ thủ
tục pháp lý cơ bản. Vì vậy, về mặt pháp lý ta cần nói đầy đủ là: Hai
Công ước 1887, 1895 cùng các biên bản và bản đồ hoạch định, các biên
bản và bản đồ phân giới và cắm mốc thực hiện hai Công ước đó từ 1886
đến 1887, là một thể thống nhất các văn bản pháp lý bổ sung cho nhau,
cung cấp những yếu tố về đường biên giới, cho phép thể hiện tương
đối trên bản đồ cũng như nhận biết trên thực địa. Việc hoạch định,
phân giới và cắm mốc cũng như việc ký kết hai Công ước 1887, 1895
xác lập đường biên giới quốc gia trên đất liền giữa Việt Nam và
Trung Quốc cũng không thể tách khỏi bối cảnh chính trị lúc bấy giờ
là sự bành trướng truyền thống của Trung Quốc phong kiến ở khu vực
này với việc mở rộng xâm nhập thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông
Dương và Anh ở vùng ấn Độ - Miến Điện vào cuối thế kỷ 19, việc ký
Công ước về biên giới vì thế đã không tách khỏi việc ký Công ước về
thương mại Pháp - Trung. Do có nhu cầu tranh thủ nhà Thanh, thực dân
Pháp đã có nhượng bộ ở một vài khu vực như Tụ Long; Giang Bình - Pak
Lung... để đổ lấy việc giao thương Pháp - Trung. Do điều kiện khách
quan và chủ quan đường biên giới được xác lập bằng hai Công ước 1887
- 1895 còn rất nhiều hạn chế về chất lượng; về số lượng (314 mốc/1.400
km đường biên giới) và nhiều sơ hở trong các văn bản, bản đồ và việc
cắm mốc trên thực địa (vị trí các cột mốc chỉ được mô tả và không có
toạ độ kèm theo, lời văn về hướng đi của đường biên giới ở một số
chỗ không rõ ràng. Theo kết quả khảo sát đơn phương năm 1992, trong
tổng số 314 mốc có 18 mốc bị mất, 71 mốc bị hỏng); nhiều mốc cũ đã
bị mất, hư hại do thời gian, chiến tranh nên đã bộc lộ ra rất nhiều
tranh chấp phức tạp mà ngày nay chúng ta cần giải quyết với Trung
Quốc để xây dựng một đường biên giới mới bền vững, hữu nghị đảm bảo
cho sự yên ổn thuận tiện cho việc quản lý biên giới của hai quốc gia.
Quá trình hình thành đường biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung
Quốc với hai Công ước 1887, 1895 đã phải mất 12 năm. Điều đó chứng
tỏ công việc xác định biên giới với Trung Quốc là công phu và phức
tạp ngay cả trong trường hợp giữa hai nước đã có sẵn một đường biên
giới truyền thống.
Tuy có những hạn chế trên, nhưng hai Công ước 1887, 1895 lần đầu
tiên đã xác lập được một đường biên giới có tính pháp lý quốc tế duy
nhất đầu tiên ở Việt Nam và về cơ bản gần giống với đường biên giới
truyền thống vốn có trong lịch sử và đang tồn tại hiện nay. Quá
trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt - Trung là sự hoàn
thiện lại chất lượng đường biên giới, trên cơ sở của đường biên giới
theo hai Công ước 1887 và 1895 giải quyết những đoạn còn tranh chấp,
những đoạn chưa rõ ràng hoặc những khu vực mà hai Công ước trên chưa
giải quyết; ký Hiệp ước biên giới mới và cắm lại toàn bộ hệ thống
mốc giới mới. Đây là một quá trình đàm phán rất gay go và phức tạp,
song có thể giải quyết được nếu hai Bên đều có thiện chí.
2. Thời kỳ từ 1945 đến khi ký kết Hiệp ước biên giới 1999
Trong những năm 1950 - 1960, quan hệ Việt Nam -Trung Quốc là quan hệ
hữu nghị vừa là đồng chí vừa là anh em. Đường biên giới Việt - Trung
là một đường biên giới hoà bình, hữu nghị. Sau năm 1954, lần đầu
tiên nhân dân Việt Nam ở biên giới được sống trong khung cảnh hoà
bình và yên tâm sản xuất. Hai Bên chủ yếu quản lý đường biên giới
theo tập quán và theo các bản đồ của Pháp hoặc Trung Quốc xuất bản
trong giai đoạn này. Ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc,
ngày 2/11/1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi
thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị
hai Bên tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai Công ước Pháp -
Thanh 1887 và 1895 để lại và giải quyết mọi tranh chấp bằng đàm phán.
Bức thư nhấn mạnh: "Vấn đề quốc giới là một vấn đề quan trọng cần
giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đương có hoặc được xác định
lại do Chính phủ hai nước quyết định". Tháng 4/1958, Trung ương Đảng
Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam,
tôn trọng hiện trạng đường biên giới lịch sử được các Công ước 1887
và 1895 xác lập. Lập trường này thể hiện sự tôn trọng luật quốc tế
theo đó các Hiệp ước về biên giới không chấm dứt hiệu lực ngay cả
khi hoàn cảnh thay đổi. Trung Quốc và Việt Nam đã thừa nhận tính hợp
lý của hai Công ước 1887 và 1895. Trên thực tế, trong những năm 1958
- 1959, địa phương hai Bên còn tiến hành trao trả cho nhau ruộng đất,
rừng cây hỗn canh. Năm 1963, hai Bên ký Hiệp định hiệp đồng bảo vệ
an ninh khu vực biên giới. Năm 195 5 và 1971 ký Hiệp định đường sắt
biên giới Việt - Trung. Do nhận thức về đường biên giới ở một số chỗ
còn khác nhau, nên ngay trong giai đoạn này, đã xuất hiện những
tranh chấp, thậm chí căng thẳng cần giải quyết.
Sau khi Hiệp định paris ngày 27/1/1973 về chấm dứt chiến tranh và
lập lại hoà bình tại Việt Nam được ký kết, Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà bắt đầu đặt kế hoạch khôi phục lại đất mrớc, mà vấn đề
đầu tiên là xác định lại đường biên giới.
Đàm phán Việt - Trung về biên giới lần thứ nhất đã được bắt đầu tại
Bắc Kinh ngày 15/8/1974. Cuộc đàm phán lần thứ hai bắt đầu từ
7/10/1977 đến tháng 6/1978 ở cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Đàm phán
bị gián đoạn bởi cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Ngày
18/4/1979, đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung
Quốc được nối lại tại Hà Nội. Phía Việt Nam đã ra đề nghị 3 điểm,
trong đó điểm 3 nêu rõ: "3. Việc giải quyết các vấn đề biên giới,
lãnh thổ giữa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng
đường biên giới do lịch sử để lại và đã được hoạch định bởi các Công
ước 1887 và 1895 do
Chính phủ Pháp và nhà Thanh ký, và đã được phía Việt Nam và phía
Trung Quốc đồng chấp nhận.
Các cuộc đàm phán trên đạt được kết quả rất hạn chế do lập trường
của hai bên còn khác nhau. Sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ,
đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam - Trung Quốc lần thứ tư
bắt đầu từ tháng 10/1992. Đây là cuộc đàm phán dài nhất (7 năm) trên
nhiều diễn đàn nhất (cấp Chính phủ - 6 vòng, cấp chuyên viên - 16
vòng,...) với kết quả là ký Hiệp ước ngày 30/12/1999.
Thành công có thể coi là lớn nhất của giai đoạn này chính là việc
Việt Nam đã bảo vệ thành công lập trường của mình là: hai bên chấp
nhận sử dụng các Công ước Pháp - Thanh làm cơ sở để xây dựng Hiệp
ước hoạch định mới.
VĨNH KIỀU
Về đầu trang
Thông tin chi tiết việc phân giới, cắm mốc
trên tuyến biên giới Việt - Trung
Trước sự quan tâm của dư luận về kết
quả phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc
tại các khu vực: Cửa khẩu Hữu Nghị, Thác Bản Giốc và cửa sông Bắc
Luân, vừa qua, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Dũng đã cung
cấp thêm thông tin xung quanh việc phân giới cắm mốc tại các khu vực
này.
Thứ
trưởng Vũ Dũng nêu rõ, đây
là những khu vực nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời và dư luận
hai nước Việt Nam, Trung Quốc quan tâm. Các khu vực này đã được đưa
ra bàn bạc trong nhiều vòng đàm phán của Ủy ban liên hiệp phân giới
cắm mốc (UBLH PGCM) nhưng chưa giải quyết được.
Đến đầu năm 2008, hai bên đã nhất trí giải quyết tổng thể các
khu vực tồn đọng trong đó có 3 khu vực này bằng giải pháp “cả gói”
trên cơ sở các nguyên tắc: phù hợp với lời văn và bản đồ Hiệp ước
1999; giải quyết tất cả các khu vực trong một gói theo cùng một tiêu
chí; công bằng hợp lý, hai bên đều có thể chấp nhận được; tôn trọng
các dấu tích lịch sử và ưu tiên ổn định đời sống cư dân biên giới.
Về khu vực cửa khẩu Hữu Nghị, Thứ trưởng Vũ Dũng nhấn mạnh:
Đây là cửa khẩu lâu đời nhất trên tuyến biên giới Việt -Trung, đã
được đề cập trong Đại Nam nhất thống chí, Vân Đài loại ngữ của nhà
bác học Lê Quý Đôn và một số thơ văn của Nguyễn Du và Mạc Đĩnh Chi.
Tại khu vực này có 3 vị trí rất quan trọng liên quan đến
đường biên giới, đó là Ải Nam Quan, các mốc cũ do Pháp và Nhà Thanh
cắm cuối thế kỷ thứ 19 và điểm nối ray của tuyến đường sắt Đồng Đăng
- Bằng Tường.
Về Ải Nam Quan, các sử sách ta còn lưu giữ đều khẳng định Ải
Nam quan do các triều đại phong kiến Trung Quốc xây dựng và tồn tại
cho đến ngày nay. Về các mốc Pháp – Thanh, mốc 19 vẫn còn tồn tại và
nằm đúng vị trí cũ. Mốc 18 đối diện với mốc 19, do yếu tố thời gian,
hai bên đều không thể xác định được. Về điểm nối ray, do có bị lệch
về phía Việt Nam so với đường biên giới lịch sử, hai bên đồng ý điều
chỉnh.
Kết quả giải quyết: Đường biên giới đi qua Km 0 rồi đến mốc
19 cũ và đến điểm cách điểm nối ray 148 mét về phía Bắc. Hiện nay ta
đã cắm mốc 1116 và 1117 đối xứng với nhau qua quốc lộ 1A của Việt
Nam, và mốc 1118 trùng vị trí mốc 19 (cũ). Như vậy, đường biên giới
lịch sử tại khu vực này không những đã được tôn trọng mà còn được cụ
thể hóa bằng một hệ thống cột mốc mới hiện đại.
Về
khu vực Thác Bản Giốc, Thứ trưởng cho biết: Các bản đồ Pháp – Thanh
đã khẳng định sông Quây Sơn là sông biên giới và Thác Bản Giốc là
thác chung của Việt Nam và Trung Quốc.
Khi ký Hiệp ước 1999, hai bên chỉ chưa
giải quyết được cồn Pò Thoong nằm trên thác, có diện tích khoảng 2,6
hécta. Theo luật pháp quốc tế và Hiệp ước 1999, tại khu vực này,
đường biên giới đi theo trung tuyến dòng chảy chính. Về kỹ thuật,
dòng chảy chính được xác định nằm ở phía Nam cồn Pò Thoong, cồn Pò
Thoong quy thuộc Trung Quốc.
Qua nhiều vòng đàm phán, hai bên thỏa
thuận giải quyết khu vực thác Bản Giốc kết hợp giải pháp chính trị
và giải pháp kỹ thuật. Kết quả là: Đường biên giới đi từ mốc 53 (cũ)
lên cồn Pò Thoong rồi đến điểm giữa của mặt thác chính. Như vậy,
toàn bộ thác phụ và 1/2 thác chính quy thuộc Việt Nam. Hai bên cũng
thoả thuận sẽ bàn bạc việc hợp tác phát triển tiềm năng du lịch tại
thác Bản Giốc.
Khu vực cửa sông Bắc Luân kéo dài từ thượng lưu bãi Tục Lãm
đến điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc Bộ, có độ dài khoảng 14
km. Khu vực này đã được Pháp - Thanh hoạch định và cắm mốc, nhưng
vào thời điểm đó các cồn bãi Tục Lãm, Tài Xẹc, Dậu Gót đều chưa xuất
hiện trên bản đồ hoạch định.
Khi ký Hiệp ước 1999, hai bên cũng chưa thống nhất được
phương án giải quyết khu vực này. Vào ngày đàm phán cuối cùng
31/12/2008, hai bên thống nhất giải quyết khu vực cửa sông Bắc Luân
bằng giải pháp chính trị: Đường biên giới đi lên bãi Tục Lãm, 3/4
bãi Tục Lãm thuộc Việt Nam, 1/4 bãi Tục Lãm thuộc Trung Quốc sau đó
đi tiếp lên hòn Dậu Gót (1/3 hòn Dậu Gót thuộc Việt Nam 2/3 hòn Dậu
Gót thuộc Trung Quốc) rồi đi đến điểm đầu của đường phân định Vịnh
Bắc Bộ.
Thứ trưởng Vũ Dũng cho biết thêm: hai bên đã thỏa thuận không
xây dựng công trình nhân tạo tại các khu vực này đồng thời nhất trí
thiết lập khu vực đi lại tự do cho cư dân biên giới tại cửa sông.
Thứ trưởng khẳng định, như vậy, những kết quả trên hoàn toàn
phù hợp với nguyên tắc “cả gói” mà hai bên đã nhất trí. Đây cũng là
kết quả của quá trình kiên trì đàm phán của hai Đoàn đại biểu PGCM
dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo hai nước và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn
của nhân dân các địa phương biên giới.
Kim
Lan
Về đầu trang
Mặt trận các cấp tỉnh Quảng Ngãi
với việc bảo vệ an ninh biển đảo
Những năm qua,
Mặt trận các cấp đã có sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng biên phòng
tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước đến với quần
chúng nhân dân vùng biển đảo; phát triển kinh tế- xã hội; xây dựng
thế trận an ninh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân; tăng cường mối
quan hệ "quân với dân như cá với nước".
Quảng Ngãi hiện
có bờ biển dài hơn 130 km, gồm 25 xã biển, đảo của 6 huyện. Trong đó
huyện đảo Lý Sơn là một trong những điểm tiền tiêu có vị trí quan
trọng trong bảo vệ an ninh biên giới biển đảo. Những năm qua kết hợp
với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu
dân cư", Mặt trận các cấp trong tỉnh đã phối hợp với Bộ đội Biên
phòng đóng quân trên địa bàn tuyên truyền đường lối chủ trương của
Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhân dân; phát động phong trào
toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng thế trận toàn dân gắn với
an ninh nhân dân vững chắc, bảo vệ chủ quyền vùng biên giới an ninh
biển đảo. Đến nay toàn tỉnh đã xây dựng hơn 1.000 tổ tàu thuyền tự
quản ở các xã ven biển, hải đảo. Việc thành lập các tổ tự quản này
đã cung cấp cho Bộ đội Biên phòng và các lực lượng hơn 20.000 nguồn
tin có giá trị, để nắm chắc tình hình hoạt động của các đối tượng,
đề ra các giải pháp xử lý ngăn chặn có hiệu quả, góp phần bảo vệ
vững chắc độc lập chủ quyền an ninh biên giới, giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo nên những thuận lợi cho đầu
tư phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở khu vực
biển đảo của tỉnh.
Một trong những
nét nổi bật trong công tác phối hợp của 2 tổ chức này là lực lượng
biên phòng luôn sát cánh với dân, giúp dân phát triển kinh tế - xã
hội. Mỗi khi có thiên tai bão lụt thì hình ảnh anh Bộ đội mang quân
hàm xanh lại rõ nét hơn, càng thắt chặt thêm tình quân- dân. Đó là
các chiến sĩ Biên phòng không ngại gian khó, đưa dân sơ tán ra khỏi
vùng nguy hiểm, giúp dân khắc phục thiệt hại do thiên tai gây ra...
Bộ đội Biên phòng đã đóng góp hàng ngàn ngày công để giúp dân làm
đường giao thông nông thôn, nạo vét kênh mương, luồng lạch cho tàu
thuyền ra vào dễ dàng…
Phổ Thạnh (Đức
Phổ) là một trong những xã ven biển điển hình trong việc thực hiện
bảo vệ an ninh biển đảo. Có được kết quả này là nhờ cấp ủy đảng,
chính quyền, đoàn thể ở địa phương phối hợp chặt chẽ với lực lượng
Biên phòng. Trong đó vai trò của Mặt trận được phát huy. Xã Phổ
Thạnh hiện có gần 700 tàu thuyền, hơn 65% sống nghề biển. Đến nay,
toàn xã thành lập 54 tổ tàu thuyền tự quản cung cấp nhiều nguồn tin
có liên quan đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, giúp
lực lượng biên phòng và công an điều tra triệt phá nhiều vụ án
nghiêm trọng. Mặt trận và các đoàn thể ở xã Phổ Thạnh đã vận động 8
đối tượng có lệnh truy nã ra đầu thú. Ngoài ra, Mặt trận còn xây
dựng 9 tổ hòa giải, 1 CLB trợ giúp pháp lý. Ông Nguyễn Kỳ - Chủ tịch
UBND xã Phổ Thạnh cho biết, đối với địa phương luôn kết hợp chặt chẽ
với Đồn Biên phòng 304 trong công tác bảo vệ an ninh biển đảo và xây
dựng phát triển kinh tế -xã hội.
Có thể nói,
những năm qua bằng nhiều hình thức, biện pháp, Mặt trận các cấp đã
phối hợp với địa phương và các lực lượng tích cực tuyên truyền vận
động nhằm nâng cao nhận thức của người dân, nhất là nhân dân khu vực
vùng biển đảo về chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước;
nâng cao nhận thức của nhân dân về quốc gia, biên giới về chủ quyền
lãnh thổ. Từ đó, quần chúng tích cực tham gia cùng Bộ đội Biên phòng
bảo vệ chủ quyền biển đảo; đã huy động được sức mạnh tổng hợp của
các sở, ngành, đoàn thể, đơn vị, địa phương có nhiều hành động thiết
thực hướng về biên giới, hải đảo. Ngoài việc vận động nhân dân tích
cực xây dựng biên giới biển đảo vững chắc, Mặt trận và lực lượng
biên phòng còn vận động nhân dân thực hiện cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"; Bộ đội Biên phòng
đã hỗ trợ xây dựng, sửa chữa gần 870 nhà đại đoàn kết trị giá hơn
3,3 tỷ đồng. Hàng năm, các Đồn biên phòng đã phối hợp với Mặt trận
và các đoàn thể tổ chức tốt “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc" ở
các khu dân cư vùng biển đảo. Bộ đội Biên phòng cùng với Mặt trận
tặng hàng trăm suất quà cho gia đình chính sách, các gia đình nghèo
neo đơn, các học sinh nghèo vượt khó học giỏi và tổ chức các hoạt
động văn hoá, thể dục- thể thao; mở một số lớp xóa mù chữ cho đồng
bào vùng biển đảo. Ông Hoàng Lưu - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh
cho biết, trong thời gian đến Mặt trận các cấp sẽ phối hợp chặt chẽ
hơn nữa với Bộ đội biên phòng trong việc giữ gìn an ninh biên giới
biển đảo; đồng thời tích cực huy động mọi nguồn lực để thực hiện
phong trào "Mái ấm cho người nghèo biên giới".
(Theo Báo Quảng Ngãi)
Về đầu trang
Phát động Cuộc thi tìm hiểu “Biển,
đảo Việt Nam”
Chiều
30/3, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo TW đã tổ chức họp báo về Cuộc thi
tìm hiểu “Biển, đảo Việt Nam”.
Cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo Việt Nam” lần
thứ nhất do Ban Tuyên giáo Trung ương khởi xướng, với thành phần
Ban tổ chức gồm Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Tài nguyên và
Môi trường, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ tư
lệnh Biên phòng, Bộ tư lệnh hải quân, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt
Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, Đài Truyền hình
Việt Nam, Báo Tài nguyên & Môi trường, Báo Quảng Ninh, Báo Bà Rịa –
Vũng Tàu, Báo Tiền Phong, được chính thức phát động tại Hà Nội ngày
30 tháng 3 năm 2009.
Các ông Đào Duy Quát, Chuyên gia cao cấp Ban
Tuyên giáo TW, Tổng biên tập Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,
Trưởng ban tổ chức; ông Nguyễn Văn Đức, Thứ trưởng thường trực Bộ
Tài nguyên và Môi trường cùng ông Trần Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ
Văn hóa Thể thao du lịch kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Phó
trưởng ban thường trực; đông đảo các vị trong ban tổ chức, lãnh đạo
các Bộ, ngành; đại diện hơn 60 cơ quan báo đài TW và địa phương cùng
đông đảo khán thính giả quan tâm tới Cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo
Việt Nam” đã đến dự.
Tại buổi họp báo, ông Đào Duy Quát cho biết: Cuộc
thi nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền biển, đảo, tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp, các
ngành và các tầng lớp nhân dân về vị trí chiến lược của biển, đảo
nước ta. Phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở
thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ
quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc. Cuộc thi
góp phần đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện thắng lợi Nghị quyết TW4 (Khóa
X) về Chiến lược biển, đảo Việt Nam tới năm 2020.Ban Tổ chức hy vọng
thông qua cuộc thi này, đông đảo người dân Việt Nam có hiểu biết đầy
đủ và toàn diện hơn về vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển,
đảo Việt Nam; những kiến thức cơ bản phổ thông về Luật biển quốc tế
và hệ thống pháp luật về biển đảo nước ta; về nhiệm vụ phát triển
kinh tế biển; bảo vệ môi trường biển; kế hoạch ứng phó với biến đổi
khí hậu ở vùng biển và hải đảo; các vấn đề xã hội biển đảo...
Theo thể lệ cuộc thi, người dự thi có thể thi
trắc nghiệm trên mạng internet qua việc truy cập vào các trang web
của các báo điện tử như Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, Tiền
Phong, Quân đội nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình
Việt Nam, website Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch đồng thời có thể vừa thi trắc nghiệm vừa tham gia thi
viết với các thể loại báo chí trên các tờ báo bảo trợ thông tin cho
cuộc thi (xem cụ thể ở Thể lệ cuộc thi).
Đối tượng dự thi bao gồm tất cả các thí sinh là
người Việt Nam trong và ngoài nước, người nước ngoài, quan tâm tìm
hiểu biển, đảo Việt Nam.
Về cơ cấu giải thưởng, có giải thưởng hàng tuần
cho những người dự thi trắc nghiệm (16 tuần) và giải thưởng cho
những người tham gia thi viết trao vào cuối cuộc thi. Mỗi hệ thống
giải sẽ có 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 1 giải Ba mỗi tuần, với giá trị
giải thưởng tương đương 1,5 triệu đồng, 1,0 triệu đồng, 0,5 triệu
đồng, cho cuộc thi trắc nghiệm. Cuộc thi viết sẽ có 3 giải Nhất, 7
giải Nhì, 10 giải Ba và 20 giải Khuyến khích cho các tác phẩm dự thi.
Giá trị: Giải Nhất: 7 triệu đồng, Giải Nhì: 5 triệu đồng, Giải Ba: 4
triệu đồng, Giải Khuyến khích: 2 triệu đồng.
Từ 8 giờ ngày 31 tháng 3, các trang web của các
Báo điện tử như Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân
dân.. sẽ có các câu hỏi của Cuộc thi tuần đầu tiên. Tiếp theo trên
các báo in sẽ đăng tải thông báo về cuộc thi này và nhận bài viết
gửi về.
Thời hạn nộp bài dự thi đến hết ngày: 1 tháng 8
năm 2009.
Thí sinh dự thi có thể gửi bài dự thi về bất cứ
tòa soạn nào đồng tổ chức Cuộc thi,Các tòa soạn sẽ lựa chọn để đăng
tải bài viết trên báo mình. Bài dự thi được đăng báo, tác giả sẽ
được hưởng nhuận bút theo chế độ hiện hành.
Lễ trao giải cuộc thi sẽ được tổ chức tại Hà Nội
vào trung tuần tháng 8/2009 và được truyền hình trực tiếp trên VTV1
Đài Truyền hình Việt Nam và trực tuyến trên Báo Điện tử Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Chủ tịch Hội đồng giám khảo cuộc thi 2009 là
PGS.TS Đào Duy Quát. Các thành viên Hội đồng giám khảo là các nhà
quản lý, các chuyên gia đầu ngành của các Bộ, các Viện nghiên cứu,
các nhà báo nổi tiếng, đại diện các cơ quan thông tin truyền thông
tại Việt Nam.
Các thông tin về cuộc thi được đăng tải đầy đủ
trên website chính thức của cuộc thi tại địa chỉ:
www.dangcongsan.vn;
www.vovnews.vn;
www.vtv.vn;www.tienphong.com.vn;www.qdnd.vn;www.monre.gov.vn;
www.cinet.gov.vn;
www.mofa.gov.vn;
www.baobariavungtau.com.vn;
www.baoquangninh.com.vn;
Liên hệ trực tiếp với Ban tổ chức thông qua số điện thoại:
091.48.68.456, số máy bàn: 080.48905 hoặc email:
trongcpv2004@gmail.com hoặc
email:banthukycpv@yahoo.com.vn
(Bộ phận Thư ký Cuộc thi – Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam).
(Theo Báo ĐTĐCSVN)
Về đầu trang
Tổ chức “Tuần lễ biển và
hải đảo Việt Nam”
Theo tinh thần Nghị định 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 của
Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển,
hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới (8/6), Tổng cục biển và hải đảo
Việt Nam đã phối hợp với Vụ Thi đua Khen thưởng (Bộ Tài nguyên và
Môi trường) xúc tiến việc tổ chức “Tuần lễ biển và hải đảo Việt
Nam”.
Tuần lễ gồm nhiều hoạt động, sự kiện như Triển lãm ảnh “Vùng, bờ và
cộng đồng ven biển”, Đêm giao lưu ca nhạc “Biển đảo quê hương”… Đặc
biệt, buổi toạ đàm “Biển Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu” sẽ
được tổ chức vào Ngày Đại dương Thế giới (08/6/2009) với sự tham gia
của các nhà khoa học và đại diện một số địa phương có biển. Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam cũng có kế hoạch làm việc để nắm bắt tình
hình và thúc đẩy quản lý tổng hợp về biển và hải đảo tại một số địa
phương ven biển miền Bắc, miền Trung, miền Nam.
Bắt đầu từ năm 2009, “Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam” sẽ được tổ
chức thường niên từ 01-08/6 hàng năm.
PL
Về đầu trang
Vai trò của biển, đảo đối với quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc
Các hải đảo và quần đảo đã tạo thành một bộ phận
thống nhất của lãnh thổ Việt Nam có vai trò quan trọng trong thực
hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Việt Nam có
bờ biển dài hơn 3.260km. Diện tích biển thuộc chủ quyền, quyền tài
phán quốc gia bao gồm: vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng
đặc quyền kinh tế, thềm lục địa gấp hơn 3 lần lãnh thổ trên đất liền
với diện tích khoảng một triệu km2; có trên 3.000 hòn đảo
ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông; có
12 quần đảo. Các vùng biển, đảo nằm trên địa giới hành chính thuộc
28 tỉnh, 125 huyện ven biển, trong đó có 12 huyện đảo.
Chỉ tính
riêng các hải đảo, quần đảo thì Việt Nam có hơn 1.656 km2,
trong đó có 66 đảo thường xuyên có dân làm ăn sinh sống, với hơn
155.000 người.
Đảng, Nhà
nước Việt Nam đã sớm quan tâm đến các vùng biển đảo và khẳng định
phấn đấu “Trở thành một nước mạnh về biển là một mục tiêu chiến lược
xuất phát từ các yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”.
Năm 1990-
1992 đã đề ra chương trình Biển Đông- Hải đảo; tiếp sau là các chủ
trương của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển, đấu tranh bảo vệ
chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, về chương trình Biển Đông-
Hải đảo đã mở rộng phạm vi đầu tư cho các ngành, các địa phương, các
dự án trọng điểm nên đã đưa nhanh công trình vào sử dụng, đáp ứng
những nhu cầu quan trọng, cấp bách.
Chúng ta đã
chủ động xây dựng và từng bước hoàn thiện thế trận quốc phòng - an
ninh trên biển. Thông qua nhiều biện pháp tổ chức giáo dục cho toàn
dân về giá trị của biển, đảo trong quá trình thực hiện 2 nhiệm vụ
chiến lược; thành lập “Ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông và Hải
đảo”; triển khai chương trình Biển Đông- Hải đảo; ban hành 7 luật, 6
pháp lệnh, 2 bản tuyên bố, 19 nghị định và 6 quyết định liên quan
đến quản lý và bảo vệ vùng biển, đảo Việt Nam.
Chúng ta
cũng đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo thế đứng chân ổn
định, vững chắc, sẵn sàng đối phó với các tình huống phức tạp xảy ra
trên biển. Xây dựng hệ thống nhà ở, tường, kè chống xói lở trên các
đảo thuộc quần đảo; đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cho xây dựng các
công trình bảo đảm đời sống cho bộ đội và nhân dân huyện đảo Trường
Sa.
Các lực
lượng chuyên trách được xây dựng để từng bước thực hiện quản lý Nhà
nước trên các vùng biển thông qua việc xây dựng các lực lượng
và phương tiện để chỉ huy điều hành cứu hộ, cứu nạn trên biển như:
hệ thống quan sát, trinh sát, cảnh giới từ xa, thông tin liên lạc
hàng hải; thành lập đội tàu tuần tra biên phòng, kiểm ngư, hải quan;
tổ chức xây dựng và trang bị cho lực lượng cảnh sát biển; xây dựng
hệ thống đèn biển. Mới đây lại bổ nhiệm chức Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân huyện đảo Trường Sa.
Nhà nước
đầu tư hỗ trợ phát triển nghề đánh cá xa bờ. Với hàng trăm tỷ đồng
của chương trình Biển Đông- Hải đảo và nguồn vốn phát triển của ngân
hàng Châu Á (ADB) đã đầu tư xây dựng hàng chục công trình
cảng và khu dịch vụ hậu cần nghề cá trên các đảo và một số điểm ven
bờ, đóng mới nhiều tàu dịch vụ hậu cần nghề cá. Đã hỗ trợ
nhiều tỷ đồng đầu tư cho các hoạt động tuyên truyền về chủ quyền
quốc gia, lợi ích dân tộc trên biển đảo; đấu tranh quốc phòng-an
ninh, ngoại giao; nghiên cứu và điều tra cơ bản. Đã từng bước hoàn
chỉnh bộ hồ sơ cơ bản về quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với
các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển...
Trình độ
khoa học về biển, những vấn đề quân sự, quốc phòng - an ninh trên
biển, nhất là về sức chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ
biển của các lực lượng vũ trang trên biển và ven bờ sẽ được nâng
lên. Sự hình thành hệ thống tổ chức Tiểu ban chuyên giải quyết những
vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh theo Nghị định 119/CP, sẽ
từng bước hoàn thiện cơ chế bảo đảm quốc phòng - an ninh trên biển
hoạt động có hiệu quả hơn.
Để phát huy
hơn nữa vai trò kinh tế biển đối với tăng cường quốc phòng - an ninh
bảo vệ Tổ quốc chúng ta có thể và cần phải quân tâm hơn đến các giải
pháp như: Điều chỉnh Chiến lược phát triển kinh tế biển kết hợp với
tăng cường quốc phòng - an ninh trên biển phù hợp với tư duy mới về
biển và đại dương; cụ thể hoá các nội dung chiến lược bằng quy
hoạch, kế hoạch, các dự án và bằng pháp luật, chính sách phù hợp với
tình hình thực tế. Tiếp tục đẩy mạnh giáo dục quốc phòng - an ninh
biển cho toàn dân, coi trọng bồi dưỡng các lực lượng trực tiếp hoạt
động trên biển, đảo; nghiên cứu sâu hơn về chiến lược biển của các
nước trong khu vực và thế giới để đề ra các chính sách phù hợp nhằm
bảo vệ hữu hiệu chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Tích cực hoạt
động ngoại giao để bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu quả của Bộ quy
tắc ứng xử trên Biển Đông có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển
trong khu vực. Tiếp tục xây dựng lực lượng và thế trận quốc phòng -
an ninh, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc
phòng - an ninh trên vùng biển, đảo; xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật, chính sách bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều
hành của Nhà nước và quyền làm của của nhân dân trên vùng biển, đảo
của Tổ quốc./.
Theo
VOV
Về đầu trang
Hơn 2.000 gia đình
nghèo biên giới, hải đảo có nhà Đại đoàn kết
Chiều 15-9, tại Hà Nội, Ban Tổ chức đợt vận động “Mái ấm cho người
nghèo nơi biên giới, hải đảo” đã tổ chức hội nghị sơ kết sau ba
tháng thực hiện giai đoạn II đợt vận động.
Trong
giai đoạn hai, đã có 35 doanh nghiệp đăng ký ủng hộ với số tiền hơn
3,5 tỷ đồng. Tại các địa phương, các cơ quan đơn vị Bộ đội biên
phòng đã phối hợp với cơ quan mặt trận tổ quốc các cấp trích từ quỹ
“Vì người nghèo” từ kinh phí của các chương trình, dự án và vận động
các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân đăng ký ủng hộ được hơn 11 tỷ
đồng; 54 tấn xi măng; 500 viên đá chẻ, 150 khối, cát sỏi.
Bước
vào giai đoạn hai, bắt đầu từ tháng 6 đến giữa tháng 9, Bộ đội biên
phòng cả nước đã khởi công xây dựng 652 căn nhà đại đoàn kết, đã
hoàn thành và bàn giao cho nhân dân sử dụng 577 căn, ước tính trung
bình 35 triệu đồng/căn (bao gồm cả các nguồn kinh phí, vật tư đóng
góp và công sức của bộ đội, bà con thôn bản trị giá khoảng 20 tỷ
đồng).
Cùng
với làm nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, nhiều tỉnh đã đồng thời
khởi công xây dựng các công trình dân sinh như phòng học, nhà bán
trú dân nuôi cho học sinh, trạm xá quân dân y, đường liên thôi, cầu
bê tông nhỏ, sân chơi cho thiếu nhi. Đến nay, Bộ đội biên phòng các
tỉnh đã khởi công xây dựng 37 công trình dân sinh, trong đó đã có 18
công trình được đưa vào sử dụng, tổng trị giá lên tới gần 2,3 tỷ
đồng.
Tính
tới thời điểm này, tính cả đợt I, đã có 2.307 nhà đại đoàn kết với
tổng trị giá lên tới hơn 81 tỷ đồng và 36 công trình dân sinh, trị
giá hơn 5,2 tỷ đồng được hoàn thành và đưa vào sử dụng.
Theo bà
Hà Thị Liên, Uỷ viên thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam, Phó Ban chỉ
đạo: Cứ tính trung bình một gia đình người nghèo có 5 nhân khẩu, thì
đã có hơn 11 nghìn người nghèo nơi biên cương, hải đảo được che chở
trong những ngôi nhà đại đoàn kết.
Bà Hà
Thị Liên cũng đánh giá cao sự chỉ đạo sát sao và kịp thời của Ban
chỉ đạo đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác cụ thể,
biểu dương các đơn vị Bộ đội biên phòng các tỉnh đã có những chuyển
biến tích cực về mặt nhận thức, do vậy, tiến độ xây dựng các công
trình trong giai đoạn II nhanh hơn và chất lượng công trình tốt hơn.
Trung
tướng Võ Trọng Việt, Chính uỷ Bộ đội biên phòng, Trưởng Ban chỉ đạo
cho biết: Trong thời gian tới, các tỉnh, thành cần chủ động gắn cuộc
“Vận động mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo” với các
chương trình của Chính phủ như 176, 135, 30a đặc biết các tỉnh cần
chủ động phối hợp với các đơn vị đã được Chính phủ giao hỗ trợ các
huyện nghèo để triển khai xây dựng các công trình ở khu vực biên
giới.
Trung
tướng cũng đề nghị Uỷ Ban MTTQ Việt Nam chỉ đạo MTTQ các tỉnh, thành
tiếp tục ưu tiên kinh phí từ quỹ “Vì người nghèo” triển khai cho
biên giới, hải đảo.
Theo
Báo Nhân Dân
Về đầu trang
|