Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
        
 
 

 

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

  CHƯƠNG TRÌNH PHỐI HỢP THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN SỐ-KHHGĐ


Tăng cường thực hiện công tác truyền thông về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Công tác vận động đồng bào các tôn giáo thực hiện chính sách DS-KHHGĐ ở Phú Thọ

Lương Bằng với công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình

Hạnh phúc từ CLB “Gia đình hạnh phúc”

Điểm sáng công tác DS-KHHGĐ khu 5, xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa

Những kết quả đạt được trong công tác DS-KHHGĐ ở Tân Sơn

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thái Bình tuyên truyền, thực hiện chính sách dân số KHHGĐ trong đồng bào công giáo

Tổ dân phố 12 năm không có người sinh con thứ ba

Phú Thọ đồng hành thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về DS/SKSS

Ngày Dân số Thế giới: 11/7/2012: Tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trấn Yên (Yên Bái): Tăng cường giải pháp cho công tác dân số

Nhân rộng mô hình Câu lạc bộ vì sức khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên

Công tác Dân số- KHHGĐ ở Ba Bể

Yên Mỹ làm tốt công tác dân số - KHHGĐ

Mô hình CLB không sinh con thứ 3 ở Hưng Yên góp phần nâng cao chất lượng dân số

Trưởng thành từ công tác Dân số ở xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Các gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Cao Bằng tăng cường đưa công tác Dân số vào hương ước, quy ước thôn, xóm

Nỗ lực nâng cao chất lượng dân số ở Vĩnh Linh, Quảng Trị

Ghi nhận công tác dân số KHHGĐ ở Hồng Sơn

Cánh chim đầu đàn trong công tác DS - KHHGĐ

Thôn 22 năm không có người sinh con thứ 3

Đắk Lắk phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới

Đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ: Mặt trận và các thành viên cùng vào cuộc

“Điểm sáng” về dân số ở bon Sê Rê A, xã Đắk Som,  huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông  

Xã Tát Ngà tăng cường công tác DS-KHHGĐ 

Công tác truyền thông dân số TP.Tam Kỳ - Quảng Nam: Cần sự chia sẻ từ nam giới

Đắk Nông đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ: Mặt trận và các thành viên cùng vào cuộc

Điện Biên nâng cao chất lượng dân số để phát triển bền vững

Cần những giải pháp đồng bộ Nâng cao chất lượng công tác dân số - KHHGĐ ở Nam Định

Về Tân Sơn, Phú Thọ nghe chuyện “làm” dân số

Tiền Giang xây dựng nông thôn mới

MTTQ tỉnh Thái Bình với công tác tuyên truyền, thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ

Lai Châu: Triển khai điểm chương trình mục tiêu quốc gia gắn với cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”

Hoàng Su Phì (Hà Giang) xây dựng nông thôn mới 

Hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ cho các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu tại các tỉnh phía Nam

Hỗ trợ các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi về SKSS tại cộng đồng

Gia đình tín hữu Công giáo xứ Đông Thành xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.

Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Chức sắc tôn giáo xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Chiến lược truyền thông DS/KHHGĐ trên địa bàn huyện Quỳ Hợp

Hoàn thành vượt mức kế hoạch chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ

Vũ Thư (Thái Bình): Dấu ấn cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

 Khu dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư không có người sinh con thứ 3

Năm đầu tiên thực hiện Tháng hành động quốc gia về dân số

Sự sáng tạo trong hoạt động tuyên truyền vận động của các chức sắc trong công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ở Thái Bình và Hưng Yên

Xóm Xuân Đám gắn thực hiện cuộc vận động với xây dựng nông thôn mới  

Đông Minh - Tiền Hải (Thái Bình) tích cực thực hiện đề án dân số vùng biển

 Hội nghị tổng kết 15 cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và 10 năm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”  tỉnh Hòa Bình

Mô hình “Gia đình đồng bào Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại Thái Bình

Kết quả thực hiện mô hình điểm DS-KHHGĐ ở xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình


|Trang trước| | Về đầu trang|


Sự sáng tạo trong hoạt động tuyên truyền vận động của các chức sắc trong công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ở Thái Bình và Hưng Yên

Qua các con số thống kê và ý kiến của người dân cho thấy, nhiều người dân quan tâm về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh và hưởng ứng việc triển khai các mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục tình trạng Mát cân bằng giới tính khi sinh”. Việc triển khai các mô hình là nhu cầu cấp thiết và biện pháp hữu hiệu cho việc giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức triển khai thí điểm tại địa bàn 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình là phù hợp.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đặt ra trong cả nước nói chung và tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh tại Hưng Yên và Thái Bình cùng với nhu cầu ứng dụng mô hình nói riêng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) tiến hành khảo sát, xây dựng mô hình. Từ đó phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cùng Giáo hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên, tại Thái Bình là vận động sự ủng hộ của tòa Giám mục Thái Bình để triển khai thực hiện mô hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại các xã điểm Đại Đồng và Chỉ Đạo của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại xã Đông Cường (Đông Hưng), Nam Hải (Tiền Hải), tỉnh Thái Bình. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò của các chức sắc tôn giáo trong việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Cụ thể, tại Hưng Yên, trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô hình, Ban Thường trực, Ban Chỉ đạo các Tăng Ni đã có những cách làm sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ (trụ trì chùa Nôm, xã Đại Đồng) đã chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hưng Yên về giảng dạy trực tiếp những nội dung liên quan đến vấn đề mất cân bằng giới tính cho các tín đồ Phật tử. Tại buổi tuyên truyền đã có 150 Phật tử tham gia nghe giảng. Bên cạnh đó, trụ trì của các Chùa cũng thường xuyên lồng ghép nội dung về mất cân bằng giới tính vào các buổi thuyết pháp, giảng đạo cho tín đồ trong các ngày lễ.  “Thầy Huệ rất nhiệt tình. Tiếng nói của thầy rất có uy tín. Thầy bận nhiều việc nhưng báo trước thì thầy cũng đi cùng “Các vị chức sắc ở xã hiện giờ mới có chùa vân Ổ là sư Tiến, chùa Đại Từ có sư Giang, chùa Lộc Thượng thì có sư Từ nhưng sư Từ thì cũng chưa được nhập khẩu ở chùa, cũng toàn đi học. Còn sư Tiến, sư Giang và thầy Huệ đây thì rất tích cực. Như hôm buổi lễ Vu Lan trên Vân Ổ, các sư cũng lồng ghép tuyên truyền, và còn tặng cho mỗi Phật tử một quyển sổ có những lời nói của Chùa dạy, cũng hay lắm. Còn ở chùa Nôm này thì thầy Huệ tổ chức vào ngày mùng 4 nói chung Phật tử cũng đông, có thể tuyên truyền. Các vị chức sắc nhiệt tình, thầy Huệ chỉ đạo thì mọi người đều nghe theo. Kể cả Phật tử lẫn các chức sắc thuộc quản lý của thầy. Tại Thái Bình, những buổi thuyết giảng không chỉ được lồng ghép tại các buổi sinh hoạt do UBMTTQ đề nghị mà còn thuyết giảng tại các lễ hôn phối cho các vợ chồng trẻ sau khi xây dựng gia đình. Linh mục Vũ Công Phước đã tổ chức thuyết giảng tại các lễ hôn phối. Ở các buổi lễ trọng như vậy thu hút người dân tham gia rất đông đảo. Việc các vị linh mục tổ chức lồng ghép thuyết giảng các kiến thức về mất cân bằng giới tính sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao.

“Các kiến thức liên quan đến mất cân bằng giới tính được lồng ghép vào các buổi lễ khá nhiều, kết hợp so sánh với các giáo lý giáo luật, kiến thức đời như vậy thì mình là con cái của chúa cần phải hiểu sâu hơn. Số lượng người vào những ngày đông nhất thì phải hơn 1000 người đến dự. Khi vào phần quan trọng thì có linh mục được nói. Giáo dân phải tuân theo buộc phải nghe. Ngày chúa nhật chính là ngày học đạo, lời chúa muốn nói với từng người một. Mỗi một tuần có chủ đề riêng đều có nội dung, ví dụ về hôn nhân đều có chúa nhật riêng về hôn nhân. Sự chuẩn bị bài giảng rất vất vả đòi hỏi phải có sự cập nhật thường xuyên. Giáo lý hôn nhân thì chủ yếu là hôn phối. Còn vào ngày chúa nhật thì nói trước buổi lễ 15-20 phút. Bài giảng là rất quan trọng. Có những bài giảng thì được ghi băng, nhưng không bán rộng rãi, chỉ bán ở các cơ sở chính như các nhà thờ lớn”

Tại các xã thí điểm mô hình trên địa bàn 2 tỉnh và các chức sắc tôn giáo nhận thức và nắm bắt được rõ ràng mục tiêu của việc thực hiện mô hình. Căn cứ vào mục tiêu của chương trình, thực tế tình hình địa phương và mục tiêu của Đại hội Đảng bộ địa phương về công tác dân số, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc của 2 Tỉnh Hưng Yên và Thái Bình đã phối hợp với các Tăng Ni trụ trì các chùa (ở Hưng Yên), và các linh mục chánh xứ kết hợp với các chức việc, trùm trưởng các giáo xứ, họ lẻ (tại Thái Bình) để tổ chức thực hiện.

Phải khải định rằng hoạt động tuyên truyền Kế hoạch hoá gia đình của các chức sắc đã tạo sự đồng thuận, ủng hộ và cam kết của các vị chức sắc tôn giáo trong việc giáo dục, thuyết phục các tín đồ về khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đạt hiệu quả cao thông qua tổ chức hoạt động của mô hình và tăng cường năng lực tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, đặc biệt là những vùng có đông đồng bào là tín đồ tôn giáo nhằm chuyển biến nhận thức của nhân dân về vấn đề này.

Về đầu trang


Mô hình “Gia đình đồng bào Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng với diện tích tự nhiên 1.537,8 km2. Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách Hà Nội 110km về phía đông nam, cách Hải Phòng 70 km về phía tây nam. Thái Bình tiếp giáp 5 tỉnh, thành phố: Phía bắc giáp Hải Dương, phía Tây Bắc giáp Hưng Yên, phía Đông Bắc giáp Hải Phòng, phía Tây giáp Hà Nam, phía Tây và Tây nam giáp Nam Định, phía Đông là biển Đông. Thái Bình có dân số khoảng 1.780.954 người (919.833 nữ) với 542.465 hộ, tập trung ở 8 huyện. Thành phố, mật độ gần 1.200 người/km2. Mật độ dân số 1152 người/km2. Áp lực dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn. Tỷ số giới tính khi sinh là 111,6/100.

Thái Bình cũng là một tỉnh có nhiều tôn giáo, đồng bào có đạo chiếm 11% dân số toàn tỉnh. Với mô hình “Đồng bào Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” được triển khai thí điểm tại 2 xã: Đông Cường (huyện Đông Hưng) và xã Nam Hải (huyện Tiền Hải).

Nam Hải có diện tích đất tự nhiên 701 ha, cách trung tâm huyện 12 km có dân số đông, có khoảng 2.782 hộ với 11.021 nhân khẩu được chia thành 9 thôn. Tổng số sinh 6 tháng đầu năm 2010: 88 cháu. Tỷ lệ sinh 1,6%. Nhân dân trong xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, xã có 2 làng nghề dệt chiếu cói và đan mây tre. Ngoài ra còn một số nghề đánh bắt cá biển và chế biến nước mắm. Tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 102,24 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,2%, thu nhập bình quân đầu người đạt 9,2 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trong tiểu thủ công nghiệp, xây dựng (29,7%), dịch vụ thương mại (18,8%), giảm tỷ trọng nông nghiệp (49,4%). Hiện nay Nam Hải có 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo chiếm 25% dân số trong xã, có 2 nhà thờ xứ, 3 nhà thờ họ lẻ và 1 đền khấn Vi Xen Tê, 1 nhà phước, có 1 linh mục quản 2 xứ. Đạo Phật có 5 chùa (Chùa Đông, Chùa Trung, Chùa An Tứ, Chùa Tây và Chùa An Hạ), 3 đền, có một đại đức kiêm nhiệm và 4 sư thầy, 4 sư bác, 4 tiểu. 

Đồng Cường là địa phương là sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,1%. Cơ cấu kinh tế đang hướng đến giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp, tăng tỷ trọng kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Giá trị sản xuất bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 16,6 triệu đồng/ người, tỷ lệ hộ giàu và khá tăng, hộ nghèo giảm xuống còn 11,6%. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo chiếm 28% dân số xã với 421 hộ giáo dân với 2029 nhân khẩu. Có 1 giáo xứ, 6 nhà họ lẻ, 1 nhà thờ xứ. Đạo Phật có 5 chùa 2 đền. 

Thực trạng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam, ở địa phương, hậu quả của việc mất bình đẳng giới và những lời khuyên của giáo hội công giáo với bà con tín hữu (cùng với quy định của Luật Bình đẳng giới) để xây dựng gia đình hạnh phúc.

Cả 2 xã đều tổ chức sinh hoạt chuyên đề với 6 nhóm. Đặc biệt, vào Lễ Chúa nhật cuối tháng 3 và tháng 6, tại nhà thờ giáo xứ Đông Thành, Thục Thiện, xã Nam Hải; Nhà thờ xứ Đông Khê, nhà thờ họ Tào Xá xã Đông cường, đã có 1.650 người đến làm lễ và nghe Linh Mục thuyết giảng và tiếp tục tổ chức sinh hoạt định kỳ nhóm thứ 2 của năm 2009. Chủ đề sinh hoạt về Bạo lực gia đình: Thực trạng và ảnh hưởng xấu của bạo lực gia đình, những quy định của pháp luật, Giáo luật về phòng chống bạo lực giao đình cũng như trách nhiệm của mỗi người  trong việc thực hiện xây dựng gia đình không có bạo lực.

Qua tổ chức sinh hoạt nhóm định kỳ lần thứ 3 trong năm 2009 về  tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam và một số nước, nguyên nhân, hậu quả của nó. Kèm theo là những tham vấn, lời khuyên của Giáo hội đối với đồng bào Công giáo nói riêng, những quy định của pháp luật và lời khuyên của cộng đồng nói chung về khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Ban điều hành đã đưa  ra những phương án và lời khuyên để thực hiện tốt vấn đề dân số vấn đề gia đình, hành vi bạo lực gia đình, tình hình mất cân bằng giới tính của mỗi quốc gia, những việc làm góp phần giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và lồng ghép vào cuộc vận động  “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào thi đua yêu nước xây dựng xứ họ đạo 4 gương mẫu của đồng bào Công giáo.

Qua các buổi sinh hoạt đã vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách dân số, gia đình trong đó có việc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính tại khu dân cư, xứ và họ giáo. Việc triển khai mô hình vào 4 nhóm đồng bào không là công giáo tại các địa bàn triển khai là sự linh hoạt hiệu quả của Ban điều hành MTTQ tỉnh Thái Bình, không chỉ gây tác động tốt trong dư luận quần chúng mà còn tạo sự so sánh, nhìn nhận hiệu quả trong việc rút kinh nghiệm cũng như bổ sung trong quá trình hoàn thiện các phương pháp thực hiện. Đối với nam nữ thanh niên bên Công giáo thì Giáo lý quy định trước khi kết hôn phải tham gia lớp học về Giáo lý hôn nhân, sau khi kiểm tra, đánh giá và được xét cấp chứng chỉ thì mới được phép kết hôn. Trong cộng đồng Thiên chúa giáo việc giáo dục đạo đức cũng như quy định về hôn nhân được tiến hành chặt chẽ nên tỉ lệ ly hôn rất ít. Trong công tác tuyên truyền vận động dân số- kế hoạch hóa gia đình cần có sự tham khảo cách làm hiệu quả này. Các lớp về giáo lý hôn nhân được tiến hành thường xuyên, linh mục phụ trách chuẩn bị tài liệu, cập nhật thông tin phục vụ cho quá trình học.

Hơn 1 năm thực hiện mô hình, Ban Thường trực Ủy Ban MTTQ Thái Bình đã tổ chức được 6 lần sinh hoạt định kỳ với những nội dung khác nhau, có sự linh hoạt và phong phú. Trước mỗi kỳ sinh hoạt, Ban Thường trực đã trực tiếp trao đổi, mời các vị linh mục đảm nhiệm, nhiệm vụ mục vụ ở xứ, để họ thuyết giảng tại các nhóm đồng bào Công giáo,  hợp đồng với giảng viên cán bộ Hội phụ nữ, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và MTTQ tỉnh thuyết trình tại các nhóm còn lại. Trong quá trình thực hiện có sử dụng tài liệu do các giảng viên biên soạn, Ban Thường trực Ủy Ban MTTQ tỉnh in, phô tô gửi cho hội viên theo kỳ sinh hoạt cùng với tài liệu của Trung ương cấp trên 2000 cuốn tài liệu và hàng nghìn tờ rơi phát cho hội viên. Công tác thực hiện mô hình của Ban Điều hành dự án đã có hiệu quả và từng bước đi vào chiều sâu.

UBMTTQ ngoài việc lồng ghép các hoạt động vào mô hình “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của khu dân cư”, còn có sự  lồng ghép việc thực hiện mô hình hiệu quả vào phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Lồng ghép vào 2 phong trào thi đua xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu và Xứ họ đạo 4 gương mẫu. Mô hình giảm thiểu tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh của đồng bào Công giáo được lồng ghép vào cuộc thi đua này là một thành công lớn và tạo thuận lợi căn bản cho việc thực hiện.

Qua công tác triển khai đã có 100 % các cơ sở tôn giáo đăng ký xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu, Xứ họ đạo 4 gương mẫu. Đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề, hạn chế thấp nhất người sinh con thứ 3. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc sinh con có trách nhiệm và bình đẳng giới tính khi sinh. Sự lồng ghép linh hoạt vào các phong trào thi đua đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu quả trong việc tác động tới nhận thức của nhân dân nói chung và nhóm đồng bào theo đạo nói riêng.

Một điểm sáng tạo mới tại Thái Bình đó là lồng ghép vào cuộc vận động thi đua xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu và Xứ họ đạo 4 gương mẫu trong phong trào thi đua  Dân Vận Khéo của tỉnh, nội dung thi đua có đưa các tiêu chí để góp phần làm giảm tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh tại địa phương, việc lồng ghép có sự linh hoạt và hiệu quả.

Về đầu trang


Công tác triển khai mô hình điểm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tại Hưng Yên

Tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, Hưng Yên có 23 km quốc lộ 5A và trên 20 km tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng chạy qua. Ngoài ra Hưng Yên có quốc lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua thị xã đến quốc lộ 1A qua cầu Yên Lệnh và quốc lộ 10 qua cầu Triều Dương, là trục giao thông quan trọng nối các tỉnh Tây- Nam Bắc bộ (Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa…) với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh. Hưng Yên có diện tích 923 km². 

Theo số liệu Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 01/04/2009, Hưng Yên có 1.128.702 người với mật độ dân số 1.223 người/km² bao gồm 1 thành phố và 9 huyện: Thành phố Hưng Yên; các huyện: Ân Thi, Khoái Châu, Mỹ Hào, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ. Hưng Yên có 3 Tôn giáo: Đồng bào theo Công giáo chiếm 15%, theo Đạo  Phật giáo 82% và theo đạo Tin Lành 0,3%. Công giáo trên địa bàn có 11 linh mục, chịu sự chỉ đạo của 4 Toà Giám mục (Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình); về Đạo Phật có 1 Ban Trị sự Hội Phật giáo tỉnh. Mỗi huyện, thành phố có 1 Ban Đại diện Hội Phật giáo huyện.

Huyện Văn Lâm nằm ở phía Bắc tỉnh Hưng Yên, phía Bắc huyện giáp tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, phía Nam giáp huyện Mỹ Hào và huyện Yên Mỹ, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp thành phố Hà Nội và huyện Văn Giang. Có 11 đơn vị hành chính, gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 74,42 km2. Huyện Văn Lâm có tổng diện tích tự nhiên là 74,42km2, trong đó: đất nông nghiệp 4.674,68 ha (chiếm 62,81%), đất chuyên dùng 1.740,83 ha (chiếm 23,39%), đất ở 709,02 ha (chiếm 9,53%), đất chưa sử dụng 317,66 ha (chiếm 4,27%). Văn Lâm đang phát triển các khu công nghiệp, đây cũng là huyện có kinh tế đang ngày càng phát triển.

Xã Đại Đồng có diện tích 8,03km2, dân số của xã khoảng 9.400 nhân khẩu với 2.400 hộ. định cư ở 9 thôn, trong đó có 2 thôn đông dân cư là Văn Ổ và Đại Từ. Mỗi năm dân số tăng khoảng 1,2%, đặc biệt số bé trai sinh ra tăng nhiều và tỷ lệ người sinh con thứ 3 tăng, chủ yếu tập trung ở những hộ có kinh tế khá giả hoặc chưa có con trai.

Đại Đồng về cơ bản vẫn là một xã nông nghiệp, phần đa người dân là làm ruộng. Diện tích canh tác toàn xã có khoảng 419,16 ha. Theo báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng đầu năm 2010 cho biết: tổng giá trị thu nhập của xã đạt 40.720 triệu đồng; tăng 4.520 triệu đồng so với năm 2009. Trong đó thu từ nông nghiệp chiếm 40,6%; từ tiểu thủ công nghiệp 27,4% và từ thương mại, dịch vụ chiếm 32%. Như vậy cơ cấu kinh tế đang có bước dịch chuyển, không chỉ là thuần nông như trước.

Phần lớn người dân trong xã theo đạo Phật. Đại Đồng có 6 ngôi chùa, trong đó có một chùa được xếp hạng di tích lịch sử, các ngôi chùa mới xây đều do nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng. Ngoài ra có một thôn theo Công giáo toàn tòng (thôn Đình Tổ) với 345 tín đồ. Đặc trưng ở xã Đại Đồng là sự lớn mạnh của 13 dòng họ. Mỗi dòng họ đều có nhà thờ họ riêng. Vai trò của người trưởng họ có ảnh hưởng rất lớn đến mỗi thành viên trong việc ra quyết định của các thành viên trong dòng họ.

Xã Chỉ Đạo có dân số khoảng 7449 nhân khẩu với 1995 hộ là một xã lao động nông nghiệp với 350,90 ha diện tích đất canh tác. Song trong những năm gần đây, nhiều người dân đã hướng đến những hình thức lao động khác như: làm công nhân trong các xí nghiệp, công ty trong khu công nghiệp mới xây dựng; một số người ra thành phố lao động (sáng đi tối về); nhiều gia đình làm nghề tái chế...Kinh tế của người dân có phần khá hơn trước. Chỉ Đạo chỉ có một tôn giáo duy nhất là Phật giáo, chịu sự chỉ đạo của Ban Đại diện Hội Phật giáo huyện Văn Lâm. Xã có 4 thôn và cả 4 thôn đều có chùa riêng, có 2 khu: Cát Linh và Đông Mai là chùa có sư trụ trì. Đây cũng là một yếu tố thuận lợi cho việc triển khai mô hình.

Sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở Hưng Yên đang là vấn đề nổi cộm và được chính quyền đặc biệt quan tâm, và là một trong những vấn đề nóng của công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình. Việc mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai về giới tính. Những tác động của nó ảnh hưởng tiêu cực không chỉ tới cơ cấu dân số mà còn làm nảy sinh những vấn đề xã hội phức tạp.

Mặc dù đã có một hệ thống văn bản đầy đủ từ Trung ương đến địa phương và các chương trình, hoạt động về dân số được triển khai, song cơ cấu dân số của tỉnh Hưng Yên những năm gần đây vẫn có những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đang trong tình trạng báo động. Theo báo cáo về tình hình dân số của tỉnh Hưng Yên, trong quý I năm 2010, tỷ số giới tính của tỉnh là 130/100. Tỷ lệ sinh con thứ 3 năm 2009 chiếm 9,1% (1.618 người), phần lớn con thứ 3 là con trai. Trường hợp này chủ yếu rơi vào những gia đình có kinh tế khá giả và chưa có con trai. Điều đó đã góp phần khiến cho sự chênh lệch giới tính khi sinh của tỉnh càng cao hơn.

Cụ thể đối với huyện Văn Lâm – địa bàn triển khai mô hình – tỷ số này là 120/100. Trong 6 tháng đầu năm 2009, tại 2 xã được chọn thí điểm mô hình, tỷ số giới tính như sau: xã Đại Đồng 161/100 và xã Chỉ Đạo là 138/100. Như vậy con số thực tế cho thấy sự mất cân bằng về giới tính ở Hưng Yên nói chung và 2 xã thí điểm nói riêng đang ở mức rất cao.

Với tình hình trên Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hưng Yên đã họp và chỉ đạo các ban chuyên môn khảo sát về tình hình thực hiện chương trình Dân số của tỉnh. Căn cứ vào mục tiêu chương trình và kết quả khảo sát này, Ban Thường vụ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh thống nhất chọn 2 xã Đại Đồng và Chỉ Đạo thuộc huyện Văn Lâm để thực hiện mô hình. Sau khi khảo sát Mặt trận Tổ quốc tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện mô hình. Thành phần Ban Chỉ đạo bao gồm: Về phía Giáo hội Phật giáo có 2 vị Phó ban Trị sự Giáo hội tham gia; về phía Mặt trận có 2 đồng chí lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc tỉnh, cán bộ uỷ viên thường trực Mặt trận Tổ quốc huyện cùng các cán bộ trong Hội phụ nữ, Sở Y tế, Chi cục Dân số.

Sau khi được sự chỉ đạo triển khai của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và huyện Văn Lâm, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc 2 xã Chỉ Đạo, Đại Đồng đã cùng với thường trực Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã ra quyết định thành lập ban chỉ đạo cấp xã gồm 10 người, trong đó có các cán bộ trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, Đảng ủy, cán bộ Tư pháp, Dân số, Hội phụ nữ, Y tế và 2 chức sắc tôn giáo (trụ trì chùa Đông Mai và chùa Cát Lư).

Ban Chỉ đạo xã Đại Đồng hướng dẫn các ban vận động, các nhóm tổ chức cho hơn 1570 hộ gia đình đăng ký cam kết thực hiện 6 nội dung do Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên xây dựng và xã Đại Đồng, tại xã Chỉ Đạo, các khu dân cư thành lập các nhóm tuyên truyền, tổ chức triển khai cam kết xuống các hộ gia đình Phật tử (1584 gia đình ký cam kết) và lồng ghép hoạt động mô hình vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng gia đình văn hóa của các khu dân cư” trong các ngày lễ kỷ niệm tại các khu dân cư. Lồng ghép tuyên truyền mất cân bằng giới tính vào các buổi chuyển giao Khoa học kỹ thuật, phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo vệ sinh môi trường, xây dựng mô hình nông thôn mới ...

Ban Chỉ đạo mô hình tổ chức tọa đàm, kiểm tra các hoạt động, truyền thông ở các lớp an cư, kiết hạ của các Tăng Ni nhằm mục tiêu để các Tăng Ni hiểu, từ đó phối hợp với công tác tuyên truyền. Các chức sắc xã đã tổ chức được 6 buổi thuyết giảng cho các tín đồ Phật tử trong độ tuổi 18-60, mỗi buổi có 45-55 tín đồ Phật tử tham gia. Các chức sắc Phật giáo tổ chức truyền thông về vấn đề mất cân bằng giới tính cho các tín đồ thông qua các ngày lễ, ngày rằm, mồng một hoặc những ngày lễ lớn của phật giáo như: Lễ Phật đản, lễ Vu Lan... Công tác tuyên truyền được thực hiện dựa trên sự phối hợp lồng ghép linh hoạt thông qua các hội nghị của các tổ chức liên quan như: Thanh niên, Phụ nữ, Người cao tuổi, Dân số, Đài truyền thanh; đặc biệt phối kết hợp với các chùa.

Một trong những hình thức để tuyên truyền mang lại tác động hiệu quả là nêu gương điển hình: những gia đình sinh con một bề nhưng cuộc sống gia đình hạnh phúc, con cái ngoan, thành đạt... Mục đích nhằm góp phần tác động thay đổi quan niệm của người dân về việc phải sinh con trai, con gái trong gia đình. Đồng thời cũng đưa ra nội dung, chương trình, mục tiêu của mô hình để làm căn cứ chấm điểm hàng tháng. Hoạt động chấm điểm, xếp loại thi đua và lồng ghép các nội dung vào thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư

Nhìn chung hoạt động mô hình triển khai tại hai xã đa dạng về nội dung: tổ chức tuyên truyền tại tuyến xã (có mời cán bộ); truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng như loa phát thanh của thôn, truyền thanh xã; phổ biến tuyên truyền lồng ghép vào những ngày lễ lớn của Phật giáo và các buổi hội nghị của các ngành; cung cấp tài liệu phát tay cho người dân cũng như các chức sắc tìm hiểu; tư vấn cho các gia đình và cá nhân về vấn đề mất cân bằng giới tính; ngoài ra còn sử dụng hình thức văn nghệ, kịch để truyền thông. Tất cả các hoạt động này đều được phần lớn người dân đánh giá ở mức độ thường xuyên.

Về đầu trang


Năm đầu tiên thực hiện Tháng hành động quốc gia về dân số

 “Kiểm soát, giảm thiểu mất công bằng giới tính khi sinh - Trách nhiệm của chúng ta” là chủ đề của Tháng hành động quốc gia về dân số được thực hiện năm đầu tiên sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2161/QĐ-TTg lấy tháng 12 hằng năm là “Tháng hàng động quốc gia về Dân số”.

Sáng 6-12, tại quảng trường Công viên Thống nhất, UBND thành phố Hà Nội và Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động quốc gia về dân số 2010” với sự tham gia đông đảo những người làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình và đoàn diễu hành, cổ động của bốn quận: Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai và Hai Bà Trưng.

Bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội phát biểu: Trong những năm qua, Hà Nội luôn xác định công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển Thủ đô, là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và cộng đồng. Trong những năm qua thành phố đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác này: tốc độ gia tăng quy mô dân số được kiểm soát thành công trong thập niên 2001-2010, mô hình gia đình có một hoặc hai con đang dần được tự nguyện chấp nhận và trở thành một chuẩn mực xã hội thông qua hương ước, quy ước và các thỏa ước lao động tập thể. Người dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình trở thành hành động tự giác…

Tuy nhiên, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đang phải đối mặt với những thách thức mới khi dân số Thủ đô đã có hơn 6,7 triệu người, mật độ dân số 1.918 người/k2, gấp tám lần bình quân cả nước. Mỗi năm có hơn 100 nghìn trẻ em được sinh ra; Hà Nội đang phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số ở các quận nội thành; tỷ lệ trẻ em dưới năm tuổi bị suy dinh dưỡng tập trung ở vùng xâu, vùng nghèo và địa bàn khó khăn; tỷ lệ nạo phá thai, đặc biệt là nạo phá thai vị thành niên chiếm tỷ trọng khoảng 30%; Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh đáng báo động. Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1-4-2009 cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh của Hà Nội là 113,2 trẻ trai/100 trẻ gái. 

Các chuyên gia quốc tế đã nhận xét, sự mất cân bằng giới tính chỉ xuất hiện ở những nước có nền văn hóa tương đồng (ưa thích con trai hơn con gái) như Việt Nam nhưng chưa có nước nào có tốc độ gia tăng nhanh và diễn biến phức tạp như ở nước ta. Nếu tình trạng này không có những giải pháp tích cực, sự mất cân bằng này sẽ để lại những hệ lụy nặng nề và gây khó khăn trong việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai và tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội. 

Vì vậy, với chủ đề “Kiểm soát, giảm thiểu mất công bằng giới tính khi sinh - Trách nhiệm của chúng ta”, Tháng hành động Quốc gia về dân số 2010 nhằm đạt hai mục tiêu chính: Sức khỏe, hạnh phúc của mỗi con người, mỗi gia đình và tăng cường sự tham gia phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, ngành, đoàn thể, xã hội nhằm giảm thiểu sự mất cân bằng giới tính. Ngoài ra đây là cơ hội nhằm kêu gọi sự giúp đỡ hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế đối với công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam. 

 THANH HÀ

Về đầu trang


Đông Minh - Tiền Hải (Thái Bình) tích cực thực hiện đề án dân số vùng biển

Là xã ven biển của Tiền Hải, với dân số gần 9000 người. Cũng như những vùng ven biển khác, đặc điểm địa lý, tập quán sinh sống của cư dân vùng biển đã trở thành những khó khăn đặc trưng cho công tác dân số-KHHGĐ. 

Năm 2009, khi Thái Bình được triển khai “Đề án biển”, chính quyền và nhân dân xã Đông Minh đã nồng nhiệt đón nhận đề án.

Bà Nguyễn Thị Dùng, cán bộ chuyên trách công tác Dân số-KHHGĐ xã cho biết những năm gần đây, tỷ lệ sinh của Đông Minh khoảng 1,4%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 16%. Không chỉ có tỷ lệ sinh con thứ ba cao, trình độ dân trí, chất lượng cuộc sống của một bộ phận nhân dân trong xã còn nhiều hạn chế.

Vì vậy, đội ngũ lãnh đạo và phần lớn bà con trong xã đều rất phấn khởi khi địa phương được tiếp nhận đề án. Ngay sau khi nhận được hướng dẫn của Sở Y tế, Chi cục Dân số-KHHGĐ, Đảng ủy chính quyền xã đã tích cực chỉ đạo triển khai các hoạt động. Ban dân số lập kế hoạch, trình UBND xã phê duyệt đồng thời tham mưu cho UBND xã triển khai, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành thành viên.

Không chỉ đội ngũ lãnh đạo Đảng, chính quyền mà lãnh đạo các ban, ngành đoàn thể cũng được quán triệt đầy đủ về tầm quan trọng và ý nghĩa của đề án đối với công tác dân số địa phương. Tổ chức ra quân thực hiện đề án, tại xã, các hoạt động truyền thông được đẩy mạnh. Bám sát vào tài liệu do Chi cục Dân số- KHHGĐ cấp, đài truyền thanh xã thường xuyên tuyên truyền về đề án tới nhân dân..

Hệ thống biển tường, pano, áp phích cũng được làm mới trên các trục đường gửi các thông điệp về dân số, KHHGĐ đến bà con ngư dân. Đội ngũ cán bộ dân số xã cũng tích cực thực hiện truyền thông trực tiếp xuống từng thôn xóm và từng hộ gia đình, quan tâm đến việc tư vấn cho đối tượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, thanh niên trẻ, vị thành niên.

Song song với hoạt động truyền thông, hoạt động cung cấp dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ cũng được quan tâm đầu tư nâng chất lượng. Cùng với nguồn kinh phí từ đề án, xã cũng trích kinh phí hỗ trợ các hoạt động dân số tại địa phương. Một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu đó là nâng chất lượng các dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ.

Từ đầu năm đến nay, triển khai hai đợt chiến dịch mạnh và tổ chức thực hiện dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ định kỳ vào thứ 4 hàng tuần đã thu hút đông chị em phụ nữ đến khám, điều trị các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản. Đến nay, kế hoạch thực hiện các gói dịch vụ tại xã đều đạt và vượt mức kế hoạch trong đó có nhiều gói dịch vụ như khám, điều trị phụ khoa vượt cao trên 200%.

Đặc biệt, tại xã đã triển khai  mô hình điểm cung cấp phương tiện tránh thai trên cơ sở mỗi cộng tác viên dân số thôn là một điểm cung cấp phương tiện tránh thai, xã đã xây dựng được 10 điểm cung cấp, thu hút đông đảo bà con ngư dân, nhất là đối tượng đi biển dài ngày. Từ đầu năm đến nay, các điểm cung cấp phương tiện tránh thai đã cấp 600 vỉ thuốc tránh thai và cung cấp thường xuyên bao cao su cho hơn 100 cặp vợ chồng. Theo dự kiến năm 2010, tỷ lệ sinh trong xã đạt 1,37%, giảm 0,15% so với năm 2009. Đặt ra mục tiêu 100% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránh thai, giảm tỷ lệ sinh 0,25%, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên 2% những năm tới,  Đông Minh đang tiếp tục vận dụng sáng tạo các mô hình mà Chi cục dân số triển khai, đẩy mạnh các hoạt động của đề án biển để không chỉ giảm tỷ lệ sinh con thứ ba mà còn nâng cao chất lượng dân số và cải thiện cuộc sống cho nhân dân trong xã.

 Thu Hương

Về đầu trang


 Khu dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư không có người sinh con thứ 3

 Khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thư hiện có khoảng 15 cặp vợ chồng sinh con một bề, trong đó có 10 cặp sinh con 1 bề là gái, mặc dù vậy các gia đình này đều xác định không sinh con thứ 3.

 Trao đổi với anh Đồng Xuân Sơn - khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thư, anh cho chúng tôi biết về suy nghĩ của mình: "chúng tôi nghỉ rằng con trai cũng được, con gái cũng được miễn sao chúng ta nuôi con cái thành đạt, theo tôi cũng chẳng vấn đề gì cả, hiện con lớn chúng tôi đang học đại học năm thứ 2, con thứ hai đang học lớp 10, nếu chúng tôi có ý đẻ thêm  thì đã đẻ từ lâu rồi"

Nhằm giữ vững danh hiệu khu dân cư tiên tiến, Ban công tác Mặt trận và Ban vận động ngoài việc tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh còn đề ra các biện pháp tuyên truyền, vận động cụ thể. Ban vận động đã giao cho Hội phụ nữ thôn nắm chắc đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, động viên, đả thông tư tưởng các đối tượng sính con một bề để có biện pháp tuyên truyền.  Đồng thời còn duy trì các phong trào văn hoá, văn nghệ để nâng cao chất lượng truyền thông bằng nhiều hình thức như tuyên truyền trực tiếp, họp tổ, nhóm, hội thảo, văn nghệ…qua đó tác động trực tiếp đến nhận thức của người dân, góp phần nâng cao nhận thức về kế hoạch hoá gia đình, trang bị nhưng kiến thức cơ bản về chăm sóc sức khoẻ sinh sản để người dân tự biết cách bảo vệ sức khoẻ cho chính mình.  Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Trưởng ban công tác Mặt trận khu Minh Tiến Thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư chia sẻ kinh nghiệm: "Trước hết chi bộ thường xuyên có nghị quyết lãnh đạo chỉ đạo về công tác dân số, gia đình trẻ em, trong nghị quyết từ chi bộ nhiệm kỳ, chi bộ hàng tháng chúng tôi đều đưa nội dung công tác dân số, gia đình trẻ em để sinh hoạt. Sau khi có nghị quyết chi bộ, chúng tôi triển khai đến tổ chức quần chúng, tới thành viên Ban công tác Mặt trận để thực hiện nghị quyết ở cấp ủy của  chi bộ". Nói về kinh nghiệm tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, Chị Nguyễn thị Hoa - Chi Hội trưởng phụ nữ -cộng tác viên dân số khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thu tâm sự: "Chi hội phụ nữ thường xuyên vận động chị em, nhất là chị em trong độ tuổi sinh đẻ mà sinh con một bề, những người có nguy cơ cao, chúng tôi ở trong ban chấp hành phụ nữ, cộng tác viên dân số thường xuyên gặp gỡ trao đổi nắm bắt tình hình,  tâm tư nguyện vọng của chị em, qua đó động viên chị em kịp thời".    

 Nhờ biết phát huy hiệu quả của cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" và thực hiện tốt pháp lệnh dân số,  khu dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã giữ vững danh hiệu 16 năm liền không có người sinh con thứ 3.

                                                                      Thắm- Hòa

Về đầu trang


Vũ Thư (Thái Bình): Dấu ấn cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Để tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”và các phong trào thi đua, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của Chính quyền và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện cuộc vận động. 

Mười lăm năm qua, cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do ủy ban T.Ư  MTTQ Việt Nam phát động gồm 6 nội dung và các tiêu chí thi đua cụ thể đã trở thành phong trào thi đua rộng khắp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân các khu dân cư huyện Vũ Thư tham gia.

Chỉ tính trong mốc thời gian từ 2005-2009, toàn huyện đã có 293.000 lượt hộ gia đình đăng ký thực hiện xây dựng “Gia đình văn hóa”; trong đó 237.000 lượt hộ gia đình đạt hàng năm (tỷ lệ 80,1%). Có 1055 lượt khu dân cư đăng ký thực hiện xây dựng “Khu dân cư tiên tiến”; qua bình xét có 235 lượt đạt, trong đó 132 lượt khu dân cư đạt năm thứ nhất, 43 khu dân cư đạt từ 3- 7 năm liên tục.

Năm 2010, Vũ Thư có 85% số hộ gia đình đăng ký xây dựng Gia đình văn hóa, 56% thôn làng đăng ký xây dựng và giữ vững “ Đơn vị văn hóa”. Thực hiện cuộc vận động đã góp phần khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết cộng đồng, lấy sức dân chăm lo cho dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ở khu dân cư.

Nhân dân đã cho nhau vay hàng ngàn tấn thóc, hàng chục tỷ đồng thông qua phường họ với lãi suất thấp, tạo điều kiện cho các hộ gia đình có vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống còn 10,39%. 5 năm qua, toàn huyện đã quyên góp xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được trên 1,3 tỷ đồng, xây mới và tu bổ sửa chữa được 153 căn nhà tình  nghĩa cho đối tượng chính sách với tổng giá trị 1,224 tỷ đồng. 

Các xã, thị trấn phối hợp với các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; Vận động quyên góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị thiên tai, quỹ “ nạn nhân chất độc màu da cam”, mua áo ấm tặng người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn với số tiền hàng tỷ đồng.

Đặc biệt quyên góp xây dựng quỹ “Vì người nghèo” 2 cấp được gần 2 tỷ đồng, cùng với các nguồn vốn khác, xây dựng được 844 căn nhà tình thương tặng hộ nghèo với tổng giá trị là 11,680 tỷ đồng.

Thông qua thực hiện cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, góp phần  thực hiện tốt Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở, đảm bảo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. 5 năm 2005-2009, đã có 146 khu dân cư không có tội phạm hình sự, 75 khu không có ma túy và tệ nạn xã hội, 162 khu không có vi phạm về trật tự an toàn giao thông.

MTTQ các cấp trong huyện đã phối hợp với ngành công an và Ban ATGT xây dựng được 78 tổ tự quản an ninh trật tự, 79 tổ tự quản về ATGT. Nhân dân phối hợp với công an triệt phá nhiều tụ điểm tội phạm, ma túy, tệ nạn phức tạp. Hàng năm, các Ban công tác Mặt trận đã hòa giải thành hàng ngàn vụ mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp trong nội bộ nhân dân góp phần củng cố, giữ vững sự bình yên của thôn xóm.

Đến nay, 100% các khu dân cư trong huyện đều có hương ước, quy ước, xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu mê tín dị đoan. Ban công tác Mặt trận đã vận động nhân dân đóng góp xây dựng đường làng, ngõ xóm, nhà văn hóa thôn làng, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp, thực hiện tốt chính sách dân số và KHHGĐ.

Toàn huyện có 62 khu dân cư không sinh con thứ ba. 146 khu dân cư và 200 dòng họ có quỹ khuyến học. 5 năm qua đã có 89 họ đạo và 153 chùa đạt danh hiệu “ Xứ họ đạo – chùa cảnh 4 gương mẫu” .

Thông qua cuộc vận động, các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở khu dân cư đã có những chuyển biến tích cực phát huy được vai trò hạt nhân lãnh đạo ở khu dân cư. Quyền làm chủ của nhân dân được đảm bảo và phát huy, thể hiện rõ nhất là trong việc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các Nghị quyết, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của cơ sở và trong  các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội,  HĐND các cấp, bầu trưởng thôn và thanh tra nhân dân…

Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri nhân dân được đóng góp ý kiến  và quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình. Thực hiện tốt cuộc vận động góp phần xây dựng củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở khu dân cư trong sạch, vững mạnh.

Qua 5 năm thực hiện cuộc vận động, bên cạnh thành tích, kết quả đã đạt được, Vũ Thư cũng còn những khó khăn, hạn chế sau:  Kết quả thực hiện cuộc vận động hàng năm chưa cao. Số khu dân cư đạt danh hiệu “Khu dân cư tiên tiến” còn thấp và thiếu tính bền vững. Có nơi việc xét duyệt và công nhận còn nặng về hình thức Việc biểu dương khen thưởng các khu dân cư có thành tích chưa kịp thời. Một số nơi chưa quán triệt đầy đủ tinh thần “ Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư” nên còn tổ chức sơ sài cả về nội dung và hình thức. Có xã thực hiện chưa nghiêm việc phân bổ kinh phí cuộc vận động.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”và các phong trào thi đua, Vũ Thư chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của Chính quyền và các tổ chức thành viên  trong việc thực hiện cuộc vận động.

Tiếp tục đẩy mạnh  công tác tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Hàng năm, MTTQ các xã – thị trấn chủ trì xây dựng kế hoạch thực hiện chọn các nội dung tiêu chí thiết thực đưa ra nhân dân bàn bạc, tổ chức đăng ký thực hiện.

Gắn thực hiện cuộc vận động với chương trình xây dựng nông thôn mới, thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, xây dựng  nếp sống tự quản ở khu dân cư, thông qua cuộc vận động để đưa các phong trào thi đua yêu nước vào cuộc sống.  Kịp thời động viên khen thưởng những điển hình tiên tiến và những nhân tố mới thực hiện tốt 6 tiêu chí của cuộc vận động. 

P.V

Về đầu trang


Hoàn thành vượt mức kế hoạch chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ 

Chiến dịch “Tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ đến vùng đông dân, có mức sinh cao, vùng khó khăn” năm 2010 đã được tỉnh ta triển khai làm 2 đợt tại 146 xã, phường, thị trấn, với mục tiêu đảm bảo thực hiện 80% chỉ tiêu kế hoạch năm về các biện pháp tránh thai lâm sàng.

 

Hội viên phụ nữ xã Khánh Công (Yên Khánh) xem tờ rơi phổ biến kiến thức SKSS/KHHGĐ  

Với sự nỗ lực, quyết tâm cao của các cấp, các ngành, chủ lực là Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh, chiến dịch năm nay đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành vi về SKSS/KHHGĐ trong các tầng lớp nhân dân. 

Huyện Yên Mô là một trong những đơn vị vượt chỉ tiêu kế hoạch các biện pháp tránh thai lâm sàng (triệt sản, đặt dụng cụ tử cung, cấy, tiêm tránh thai) trong chiến dịch cao nhất tỉnh. Rút kinh nghiệm của những đợt chiến dịch trước, Yên Mô đã có cách làm khá hiệu quả là giao cho cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số rà soát phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) và giao chỉ tiêu, kế hoạch cho các địa phương triển khai chiến dịch rất sớm, đồng thời chú trọng công tác tập huấn cho cán bộ nhằm nâng cao kỹ năng tuyên truyền, vận động, tư vấn đối tượng lựa chọn biện pháp tránh thai; cách ghi chép sổ sách…  

Xác định công tác truyền thông, vận động để mọi tầng lớp nhân dân hiểu và thực hiện nghiêm túc chiến dịch là một trong những yếu tố quan trọng, nên trước, trong thời gian diễn ra chiến dịch, các xã, thị trấn đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: thông qua hệ thống đài phát thanh, sinh hoạt nhóm, nói chuyện chuyên đề, tư vấn nhóm đối tượng, tổ chức ký cam kết không sinh con thứ 3 trở lên cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, kẻ vẽ panô, khẩu hiệu… tạo nên không khí sôi động, thu hút sự quan tâm hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân trong những ngày diễn ra chiến dịch. Việc xã hội hóa công tác dân số cũng được đẩy mạnh, nên trong đợt tổ chức chiến dịch truyền thông, hầu hết các xã tham gia chiến dịch đều có sự đầu tư thêm kinh phí, tổ chức đưa đón đối tượng chu đáo.  

Kết thúc chiến dịch, toàn huyện đã khám và chăm sóc sức khỏe cho 5.112 lượt phụ nữ, trong đó phát hiện và điều trị 2.673 người mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục; đã khám thai và tiêm phòng uốn ván cho 575 bà mẹ đang mang thai; có 2.044 cặp vợ chồng thực hiện các biện pháp tránh thai lâm sàng, đạt 189% kế hoạch chiến dịch, đạt 90,8% kế hoạch năm. Kinh phí đầu tư cho chiến dịch của các xã, thị trấn là hơn 100 triệu đồng.  

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Lưu Danh Cung, Phó Giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh cho biết: Hoạt động tuyên tuyền, vận động trực tiếp đối tượng đã được Chi cục hết sức chú trọng. Đặc biệt, trong chiến dịch năm 2010, công tác tuyên truyền đã tập trung hơn vào đối tượng nam nông dân có vợ trong độ tuổi sinh đẻ để nâng cao vai trò của nam giới trong việc chia sẻ trách nhiệm và thực hiện KHHGĐ. Trong chiến dịch, nhiều hoạt động đã được tổ chức như: Mít tinh, cổ động diễu hành đã thu hút được nhiều lực lượng tham gia.  

Nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ, Trung tâm Dân số-KHHGĐ các huyện, thành phố, thị xã phối hợp với Trung tâm Y tế dự phòng và các Trạm y tế xã, phường, thị trấn chuẩn bị lực lượng y, bác sỹ, thuốc men, dụng cụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đối tượng thực sự yên tâm khi tham gia chiến dịch. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo, vào cuộc quyết liệt, đồng bộ nên chiến dịch đã đạt được kết quả khá cao: Tổng số người mới chấp nhận các biện pháp tránh thai lâm sàng toàn tỉnh là 14.362 người, đạt 84,7% kế hoạch năm. Nhiều địa phương đã thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu đặt ra như: Huyện Yên Mô, Gia Viễn, Yên Khánh… 

Kết quả của chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ đã góp phần cải thiện đời sống của người dân, nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe cộng đồng và bản thân, song vẫn còn một số khó khăn tồn tại: Một số xã, phường cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, đầu tư kinh phí cho chiến dịch nên kết quả chiến dịch đạt được chưa cao, đặc biệt một số chỉ tiêu thực hiện các biện pháp tránh thai lâm sàng đạt thấp so với kế hoạch đê ra; công tác tư vấn còn nhiều hạn chế, chưa nắm chắc đối tượng vận động thực hiện biện pháp tránh thai; một số trạm y tế cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu các phòng làm thủ thuật, thiếu trang thiết bị và dụng cụ y tế đã ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả chiến dịch…

Bài, ảnh: Hà Mi

Về đầu trang


Chiến lược truyền thông DS/KHHGĐ trên địa bàn huyện Quỳ Hợp

Trong nững năm qua, cùng với các thành tựu đạt được trên các lĩnh vực đời sống xã hội, công tác DS-KHHGĐ cũng được đánh dấu bằng việc thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược dân số qua các thời kỳ.

Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chính sách DS-KHHGĐ được nâng lên, tỷ suất sinh bình quân giảm 0,5%0/năm. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm rỡ rệt. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm xuống còn 1,05%, cơ cấu dân số của huyện ngày càng trẻ, là điều kiện thuận lợi về nguồn nhân lực để phát triển KT-XH thời kỳ CNH-HĐH. Phong trào khối, xóm, bản không sinh con thứ 3 phát triển rộng khắp trên các xã, thị trấn. Hàng năm có hơn 2/3 khối, xóm, bản thực hiện thành công mô hình không sinh con thứ 3.

Tuy nhiên, tỷ lệ tăng dân số tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao và chưa bền vững, có sự mất cân bằng giữa các vùng, miền và giới tính. Thêm vào đó, những phong tục tập quán lạc hậu “trọng nam, khinh nữ” vẫn còn nặng nề; một số quy định về chính sách DS-KHHGĐ ban hành thời gian gần đây nội dung có chỗ chưa chặt chẽ, thực hiện thiếu đồng bộ.

Cán bộ cơ sở biến động lớn, chưa ổn định, thiếu kỹ năng, kinh nghiệm trong công tác truyền thông giáo dục, tư vấn các đối tượng và chưa thực sự gắn bó, yên tâm với công tác.

Hiện nay, chính sách khen thưởng đối với các cá nhân, tập thể thực hiện tốt KHHGĐ chưa thực sự khuyến khích được các tập thể và cá nhân;  việc xử lý cá nhân vi phạm chính sách DS,KHHGĐ chưa đủ mạnh.

Phương tiện phục vụ cho các hoạt động truyền thông ở cơ sở vừa thiếu vừa chưa thực sự phù hợp với từng vùng miền và các dân tộc, đây là khó khăn lớn nhất cho hoạt động của cán bộ Chuyên trách và Cộng tác viên trong việc thực hiện nhiệm vụ.

Để thực hiện có hiệu quả công tác truyền thông về DS-KHHGĐ, từng bước ổn định quy mô dân số và nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công tác truyền thông về DS/KHHGĐ trong thời gian qua đã tập trung vào các vấn đề:

1. Tập trung tuyên truyền sâu rộng nội dung của Pháp lệnh Dân số và các văn bản, Nghị quyết, chỉ thị của các cấp ủy đảng, chính quyền về công tác DS/KHHGĐ để từ đó nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền, các đại biểu dân cử, những người có uy tín trong cộng đồng, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm chính sách dân số. Xã hội hoá công tác dân số - KHHGĐ, tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực và dư luận xã hội ủng hộ thực hiện chính sách dân số- KHHGĐ của Đảng, Nhà nước.

2. Quan tâm tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng của đội ngũ cán bộ truyền thông. Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng nhu cầu truyền thông của các đơn vị, lựa chọn nhóm đối tượng để có thông điệp truyền thông phù hợp. Đội ngũ truyền thông về DS/KHHGĐ ở cơ sở phải được cập nhật chương trình, nội dung tài liệu về truyền thông chuyển đổi hành vi, tôn trọng sự lựa chọn của người sử dụng dịch vụ.

3. Công tác giáo dục tư vấn đã cung cấp đầy đủ các thông tin về SKSS/KHHGĐ cho mọi nhóm đối tượng, nhất là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, khắc phục tâm lý, tập quán và hành vi không có lợi đối với công tác dân số - KHHGĐ. Nâng cao kiến thức về DS, SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên. Tăng cường tư vấn cho vị thành niên và thanh niên để hạn chế các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Đẩy mạnh sự ủng hộ của xã hội đối với truyền thông giáo dục DS, SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên trong các nhà trường.

3. Đa dạng các hoạt động truyền thông - giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ... cũng được coi là những giải pháp cần thiết. Tại những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao thì việc tăng cường các chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ nhằm tăng nhanh số người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, số người sử dụng các dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng, an toàn và hiệu quả trong thời gian ngắn sẽ góp phần hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch. Quan tâm chú trọng đến hình thức vận động trực tiếp cho nhóm đối tượng có nguy cơ lựa chọn giới tính khi sinh và sinh con thứ 3 trở lên.

4. Phát triển hệ thống cung cấp thông tin có chất lượng và tham mưu thường xuyên, kịp thời về DS/SKSS/KHHGĐ cho lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và những người có uy tín tại cộng đồng, bao gồm cả việc xây dựng mạng lưới truyền thông vận động, chia sẻ thông tin và thống nhất kế hoạch hành động. Tạo nhiều cơ hội cho vị thành niên, thanh niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, người cung cấp dịch vụ KHHGĐ/SKSS được tham gia vào các hoạt động truyền thông.

5. Coi trọng giải pháp huy động đồng bộ, thường xuyên của các kênh truyền thông và nhấn mạnh việc chú trọng truyền thông đại chúng, đảm bảo tính nhất quán về nội dung và thông điệp để nâng cao hiệu quả, tác động của thông tin, thông điệp DS/SKSS/KHHGĐ tới các đối tượng của chương trình. 

Bên cạnh đó, ngành DS/KHHGĐ huyện Quỳ Hợp đã tăng cường công tác nghiên cứu, đánh giá nhận thức, thái độ của người dân về chuyển đổi hành vi DS/SKSS/KHHGĐ. Phối hợp với Trung tâm Y tế có các chính sách phù hợp để khuyến khích, nâng cao kỹ năng truyền thông, tư vấn và trách nhiệm của đội ngũ cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ,nhằm đảm bảo đối tượng nhận dịch vụ theo chuẩn quốc gia về chăm sóc SKSS và được tư vấn đầy đủ. Nâng cao sự hiểu biết, kiến thức và thái độ của họ, góp phần chuyển đổi hành vi bền vững cho các cặp vợ chồng, phụ nữ và nam giới trong độ tuổi sinh đẻ, kể cả người chưa kết hôn, nêu được các vấn đề về SKSS cần ưu tiên và lợi ích của việc thực hiện SKSS/KHHGĐ, tình dục an toàn, phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm …. nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu chung. 

Sau gần 5 năm thực hiện chiến lược truyền thông, được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự phối kết hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể, công tác truyền thông giáo dục thay đổi hành vi về DS, SKSS/KHHGĐ đã tạo được sự thay đổi mạnh mẽ về nhận thức và hành động của toàn xã hội trên phạm vi toàn huyện. Kết quả việc thực hiện KHHGĐ và chăm sóc SKSS đã góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm sinh và nâng cao chất lượng dân số. Qui mô gia đình ít con ngày càng được nhân dân chấp nhận rộng rãi, tốc độ gia tăng dân số được kiểm soát; số cặp vợ chồng chấp nhận sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng tăng. Đặc biệt thông qua các đợt tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ ở vùng có mức sinh cao và khó khăn, số người được hưởng lợi từ các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ngày càng cao. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình tăng sinh trong thời gian gần đây có dấu hiệu xảy ra tại một số xã. Tỷ lệ sinh con lần thứ 3 trở lên có dấu hiệu gia tăng. Đáng quan tâm là các trường hợp sinh con thứ 3 trở lên có dấu hiệu mất cân bằng về giới tính khá rõ. Đây là vấn đề nhạy cảm, tuy chưa dám khẳng định nhưng đã hé lộ vấn đề có hiện tượng lựa chọn giới tính khi mang thai. Kết quả chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ hàng năm cũng cho thấy số đối tượng bị viêm nhiễm và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khá cao. Tính bền vững của các cặp vợ chồng chấp nhận biện pháp tránh thai không ổn định, dẫn đến nhiều trường hợp bị “vỡ kế hoạch”. Hiệu quả tuyên truyền vẫn chưa cao… là những yếu tố không nhỏ làm cho công tác truyền thông thay đổi hành vi gặp khó khăn. Nguyên nhân do mặt bằng dân trí không đồng đều giữa các vùng, miền, nông thôn và thị trấn. Do đó khả năng tiếp cận những thông tin mới về công tác dân số-KHHGĐ, chăm sóc SKSS, vấn đề về giới, bình đẳng giới ...còn rất hạn chế. Bên cạnh đó tư tưởng cho rằng thực hiện dân số - KHHGĐ là trách nhiệm của phụ nữ vẫn còn tồn tại, cho nên sự chia sẻ trách nhiệm của nam giới trong lĩnh vực này còn quá ít. Trong khi đó, quyền quyết định số con trong gia đình, đại đa số vẫn do người chồng và gia đình họ tộc nhà chồng quyết định. Tư tưởng phải có con trai còn rất nặng nề, những gia đình đã có 2-3 con (là con gái) vẫn muốn sinh thêm con trai, do đó gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyên truyền vận động.

Đây chính là mối quan tâm, trăn trở của các ngành các cấp, những người làm công tác dân số. Thiết nghĩ, để giải quyết thực trạng này đòi hỏi phải có sự đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, có sự chung tay góp sức tích cực của nhiều ngành, nhiều cấp, trong đó đòi hỏi sự sáng tạo và lòng nhiệt tình của các lực lượng làm công tác tuyên truyền. Từ thực tiễn sinh động của công tác tuyên truyền về các vấn đề dân số- KHHGĐ trong thời gian qua, rút ra những kinh nghiệm cần quan tâm, đó là:

 - Công tác tuyên truyền phải hướng vào đối tượng cụ thể, nhất là tập trung những đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ và có nguy cơ sinh con thứ 3 trở lên. Tích cực thực hiện các nội dung trong Chiến lược truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số, sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình.

 - Thực hiện “xây” đi đôi với “chống”. Bên cạnh việc biểu dương những gia đình sinh con một bề làm kinh tế giỏi, hạnh phúc, cần chú trọng xử lý bằng hình thức thích hợp những trường hợp vi phạm, nhất là những cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3, đồng thời thông tin công khai đến nơi cư trú, chứ không chỉ thông tin nội bộ. Cần tranh thủ các lực lượng tuyên truyền viên, như trưởng các dòng họ, chi, phái; những gia đình “sinh con một bề” làm ăn phát đạt, hạnh phúc. Cần xem đây là những cộng tác viên không chuyên trách, vì lời nói của họ sẽ có trọng lượng cao, tác động rất lớn đối với công chúng.  

- Tăng cường các thông tin về công tác dân số- KHHGĐ trên báo chí đảm bảo sát thực tiễn, có lý luận sâu sắc. Đồng thời, thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền cho đội ngũ làm công tác dân số- KHHGĐ. 

- Tăng cường tuyên truyền Dân số - KHHGĐ hướng về đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Đây là địa bàn dân trí thấp, điều kiện tiếp cận thông tin về Dân số-KHHGĐ-SKSS còn nhiều hạn chế, việc đi lại của cán bộ truyền thông Dân số - KHHGĐ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, cần phải lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đối tượng, dễ hiểu, hấp dẫn, như hình thức tuyên truyền trực quan, sân khấu hoá, tờ rơi, truyền thanh...

   Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Phương

Về đầu trang


Chức sắc tôn giáo xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh

Xã Đông Cường có khu vực hành chính thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình với tổng diện tích đất tự nhiên là 770 ha có 7.348 khẩu, trong đó có 2.039 khẩu là tín hữu Công giáo, địa giới hành chính được chia làm 5 thôn; nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nghề phụ chậm phát triển. Kinh tế tuy có phát triển nhưng thu nhập bình quân đầu người còn thấp, đời sống của nhân dân còn  gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn chiếm 11,6%.

Tôn giáo có 2 đạo. Đạo Phật có 5 chùa; Đạo Công giáo có 8 họ, 7 nhà thờ (7 họ trên bờ, một họ dưới sông), một họ giáo dưới sông có  124 khẩu, giáo dân làm nghề chài lưới, lấy thuyền làm nhà ngày đêm lênh đênh sông nước. Tuy là địa phương có đồng bào lương giáo sống xen kẽ song luôn có truyền thống đoàn kết tình làng nghĩa xóm gắn bó keo sơn bà con lương giáo đều sống tốt đời, đẹp đạo, luôn có tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau phát triển kinh tế xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và quy định của địa phương.

Trong nhiều năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đông Cường tích cực thực hiện chính sách dân số và gia đình, đã góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh và từng bước nâng cao chất lượng dân số. Tuy nhiên, đối với công tác dân số, nhất là chất lượng dân số vẫn là vấn đề cần được quan tâm thường xuyên, đó là việc sinh con thứ 3 trở lên, cân bằng tỷ lệ nam, nữ khi sinh hiện nay đang có xu hướng tăng, một phần do mặt trái của việc thực hiện mô hình gia đình ít con( mỗi gia đình nên có từ 1 đến 2 con), cùng với nhận thức lạc hậu từ xưa có con trai để nối dõi tông đường vẫn còn in sâu trong suy nghĩ của nhân dân, đa số cặp vợ chồng mong muốn, thậm chí là bắt buộc phải có con trai nên gia đình nào đã có một trai một gái hoặc 2 con trai rồi thì yên tâm, nhưng nếu 2 con gái  thì tìm mọi cách để phải đẻ thêm con trai nữa. Từ nhận thức như vậy, cùng với khoa học hiện đại đang hỗ trợ hành động cho họ như dùng máy siêu âm để xác định thai nhi rất nhiều, nên một số cặp vợ chồng khi đã phát hiệ thai nhi không được như ý muốn đã huỷ thai nhi đó đi (chủ yếu là huỷ thai nhi là giới tính nữ) và phương pháp bắt mạch, chọn khẩu phần ăn, tính ngày thụ thai để đẻ con trai... cho nên hiện nay tình trạng bé trai sinh ra nhiều hơn bé nữ. Đó là nhận thức cục bộ của mỗi gia đình, trong khi đó, do hạn chế của công tác tuyên truyền nhân dân chưa nhận thức được về tác hại của việc mất cân bằng giới tính trong phạm vi quốc gia, khu vực, chưa có tầm nhìn xa mà chỉ nghĩ trước mắt là phải có con trai theo ý muốn của mình, của gia đình, dòng họ. Chính vì lẽ đó ở tầm vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách cần có định hướng tuyên truyền cho nhân dân về chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình, chú trọng  quan tâm đến mất cân bằng giới tính khi sinh là rất đúng, rất phù hợp. Trong công tác tuyên truyền sẽ có nhiều kênh, nhưng theo sáng kiến của Văn phòng UNFA Hà Nội và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQVN chọn mô hình “Chức sắc tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh” để thực hiện là rất hiệu quả.

Từ nhận thức trên, được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, MTTQ xã Đông Cường, sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự phối hợp của các tổ chức, các đoàn thể đã tạo thành một phong trào sôi nổi trong nhân dân, các tổ chức các đoàn thể đều vào cuộc và coi đây là một trong những nhiệm vụ của mình.

Mô hình có nhiều điểm tương đồng và phù hợp với phong tục tập quán của địa phương và phù hợp với giáo lý, giáo luật của giáo hội Công giáo như việc sinh sản một cách tự nhiên, không có sự phân biệt giới tính, không trọng nam, khinh nữ nên nhận được sự tham gia tích cực của các vị chức sắc, chức việc và nhân dân.

Công tác tuyên truyền về chính sách dân số chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã được triển khai tích cực trong những năm qua, giúp cho mỗi người dân đều hiểu rõ được và có hành động tích cực và nội dung tuyên truyền về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và hậu quả của nó trong thời gian tới do mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra rất phù hợp với chính sách dân số và nguyện vọng của nhân dân. Từ đó đã thu hút được sự tham gia tích cực của nhân dân, giúp cho nhân dân từ chỗ chưa biết trở thành hiểu và biết để thảo luận bàn bạc tìm ra những giải pháp khắc phục hữu hiệu.

T.L

Về đầu trang


Kết quả thực hiện mô hình điểm DS-KHHGĐ ở xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

Khi nhận kế hoạch của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và của MTTQ tỉnh Thái Bình, MTTQ xã Đông Cường đã xây dựng kế hoạch tham mưu với Đảng uỷ thành lập Ban chỉ đạo và ra nghị quyết lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể đưa nội dung này vào nội dung hoạt động của đoàn thể mình cùng phối hợp tổ chức thực hiện.

Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã ra quyết định thành lập Ban điều hành mô hình gồm 7 thành viên do Chủ tịch MTTQ xã làm Trưởng ban, một số thành phần làm thành viên như Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, cán bộ dân số, ông Trùm, Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn làm thành viên; đồng thời thành lập nhóm sinh hoạt, mỗi nhóm 100 người. Ban đầu có 2 nhóm là tín hữu Công giáo, mời Linh mục xứ thường xuyên giáo huấn và truyền đạt. Sau khi triển khai, tại cuộc hội thảo đầu tiên do Trung ương MTTQVN chủ trì có sự tham gia của MTTQ tỉnh, huyện, lãnh đạo đại diện cấp uỷ, chính quyền, các ban ngành đoàn thể và các vị chức sắc, chức việc của địa phương, xét thấy cần phải thành lập thêm các nhóm sinh hoạt không là đồng bào Công giáo nhằm giúp cho nhân dân toàn xã được tham gia thực hiện. Do đó, tiếp tục thành lập 4 nhóm do báo cáo viên của tỉnh về truyền đạt. Để nâng cao trách nhiệm của nhân dân tham gia, thực hiện chỉ đạo của MTTQ tỉnh Thái Bình, Ban điều hành đã tiến hành nắm tình hình dân ssố của các nhóm,tiến hành các cuộc hội thảo bàn về cách thức tổ chức, trao đổi nội dung bản cam kết và tổ chức cho nhân dân ký cam kết thực hiện . 100% số thành viên nhóm đã ký kết.

Công tác truyền thông được tiến hành thực hiện từ quý II/2009 đến nay đã tổ chức 7 kỳ sinh hoạt/nhóm. Số thành viên sinh hoạt các nhóm đều đạt yêu cầu, nhiều nhóm là đồng bào Công giáo đông tới gần 600 người.

 Nội dung sinh hoạt do MTTQ tỉnh Thái Bình chỉ đạo gồm: Các chuyên đề liên quan đến việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh như: Phòng chống bạo lực gia đình, chuyên đề về bình đẳng giới, chuyên đề về chăm sóc sức khoẻ thai nhi, hậu quả của việc mất cân bằng giới tính, trách nhiệm của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”. Tình hình dân số và nhà ở (theo Tổng điều tra dân số nhà ở năm 2009)... Thông qua từng chuyên đề được thuyết giảng các nhóm đã tiến hành thảo luận về biện pháp khắc phục. Kết quả thực hiện mô hình năm 2009, tỷ lệ giới tính nam nữ khi sinh ở xã tuy chưa có chuyển biến đáng kể nhưng đây là kết quả bước đầu, xong quan trọng hơn là nhận thức về sự cần thiết phải khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh, cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành,các vị chức sắc và nhân dân được nâng lên, Đảng uỷ đã có Nghị quyết lãnh đạo thực hiện mô hình, UBND xã đã phối hợp tạo điều kiện để tổ chức mô hình, vị chức sắc và các vị chức việc tích cực tham gia, các tổ chức đoàn thể xác ợinh đây là một nhiệm vụ của mình để tổ chức thực hiện , nhân dân nhiều tổ nhóm đã thảo luận bày tỏ sự lo ngại nếu tình trạng này ở Việt nam diễn ra như 1 số nước thì con cháu chúng ta sẽ gặp khó khăn khi đến tuổi lấy vợ...

Từ những thực tế trong quá trình triển khai có thể rút ra một số kinh nghiệm để làm tốt công tác tuyên truyền và phối hợp với các tổ chức thành viên cùng vào cuộc vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả; cần phải thông qua các nhà chức sắc để truyền đạt, giáo huấn gắn với việc thực hiện giáo lý, giáo luật, nêu ra những điểm tương đồng để nâng cao nhận thức cho đối tượng là biện pháp có hiệu quả nhất và Ban điều hành cấp xã và Ban chủ nhiệm nhóm hoạt động tích cực xây dựng được kế hoạch cụ thể, làm tốt công tác tổ chức, thông báo, vận động thành viên nhóm đi dự sinh hoạt. Việc tổ chức sinh hoạt tránh vào lúc mùa vụ. Kinh phí tuy ít nhưng phải tiết kiệm để có chút động viên các thành viên.

T.L

Về đầu trang


Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh 

Nam Hải là xã có số dân 10.800 khẩu, được chia làm 9 thôn, cách trung tâm huyện 12 km, có 2 tôn giáo chính là Đạo Phật và Đạo Công giáo. Đạo Phật có 5 chùa, 3 đền, trong đó có 4 công trình được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Đạo Thiên chúa có: 2 giáo xứ và 3 nhà thờ họ lẻ, 01 đền khấn thánh Vixentê, chiếm 25% dân số cả xã, nhân dân trong xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lương giáo đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm vừa qua, cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận thường xuyên quan tâm đến vận động nhân dân thực hiện chính sách dân số, đã đạt kết quả góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số. Nhưng việc thực hiện chính sách dân số là rất khó khăn, đòi hỏi phải có sự cố gắng, bền bỉ, kiên quyết và rất dân chủ phát huy tính tự giác của người dân vì đây chính là thực hiện chính sách đối với con người, thực tế trong nhiều thập kỷ qua chúng ta mới cơ bản thực hiện được tỷ lệ giảm sinh, đạt mức sinh thay thế. Nhưng cơ cấu dân số, chất lượng dân số và gần đây xuất hiện mất cân bằng giới tính khi sinh đang là vấn đề rất đáng lo ngại. Nhận thức được vấn đề này, được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, Nam Hải phấn khởi tổ chức thực hiện xây dựng mô hình. Ngay sau khi có chỉ đạo của MTTQ tỉnh và được dự hội thảo của Trung ương ở Đà Nẵng, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã đã báo cáo cấp uỷ, thống nhất với chính quyền và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện . Thành lập Ban điều hành của xã, Ban chủ nhiệm các nhóm, mới đầu thành lập 2 nhóm là đồng bào Công giáo sau đó theo đề nghị của cơ sở được MTTQ Trung ương, tỉnh nhất trí tiếp tục thành lập thêm 4 nhóm là lương dân. Quý II/2009 Ban điều hành đã triển khai cho thành viên nhóm ký cam kết tham gia mô hình và tổ chức cho các nhóm vào sinh hoạt đến nay tổ chức được 7 kỳ (mỗi quý 1 kỳ/nhóm), giảng viên do MTTQ mời, 02 nhóm là đồng bào Công giáo được cụ linh mục quản xứ thuyết giảng, 04 nhóm còn lại là báo cáo viên cấp tỉnh, nội dung mỗi kỳ 1 chuyên đề đều gắn với việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh. Các buổi sinh hoạt học viên tham dự khá đông đủ, cùng với nội dung thuyết giảng học viên được nhận tài liệu để tham khảo. Trước mỗi kỳ Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh triển khai, ban điều hành đã tiến hành họp với Ban chủ nhiệm nhóm bàn kế hoạch và tổ chức lớp sau mỗi kỳ có họp rút kinh nghiệm. Kết quả của việc xây dựng mô hình, tuy mô hình mới được triển khai ngắn nhưng đã góp phần nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành ,tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc, chức việc và nhân dân trong xã và có ảnh hưởng tốt đến các xã lân cận. Đảng uỷ xã đã đưa công tác dân số kế hoạch hoá gia đình vào nội dung trong báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2010 – 2015 và có chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực hiện  cho từng quý, từng năm và mục tiêu cho cả nhiệm kỳ giảm sinh bằng mức sinh thay thế, coi trọng chất lượng sinh, bình đẳng giới khi sinh là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình trong cộng đồng dân cư trong xã, đưa mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội để mỗi gia đình có từ 1-2 con, có sức khoẻ tốt có đủ điều kiện học tập lao động thoát khỏi đói nghèo, cải thiện cuộc sống nuôi dạy con thành đạt. Các vị chức sắc, chức việc tích cực tham gia, nhân dân đến học tập đông đủ. Ngoài việc thuyết giảng tại lễ Chúa nhật theo lời mời của Mặt trận, cụ Linh mục còn thuyết giảng nội dung này ở lễ Hôn phối của các đôi vợ chồng đến làm lễ cưới tại nhà thờ, có tác dụng rất tích cực.

Đạt được những kết quả trên có sự chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQVN, hướng dẫn của Uỷ ban MTTQ tỉnh, có sự hỗ trợ tạo điều kiện của chính quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của cán bộ đảng viên và nhân dân và những người có chức sắc, chức việc tôn giáo đồng tình ủng hộ.

Công tác tuyên truyền tổ chức thực hiện mô hình đã gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động xây dựng “Chùa cảnh 4 gương mẫu”, “Xứ họ đạo 4 gương mẫu”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, cuộc vận động “Học tập va làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động thực hiện Pháp lệnh Dân số Kế hoạch hoá gia đình, không còn gnười sinh con thứ 3, sinh con có trách nhiệm và thực hiện bình đẳng giới khi sinh, các cuộc vận động có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, làm chuyển biến nhận thức trong nhân dân và đồng bào có đạo tăng thêm truyền thống kính chúa yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo.

T.H

Về đầu trang


Gia đình tín hữu Công giáo xứ Đông Thành xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh 

Giáo xứ Đông Thành chúng tôi có 1.050 khẩu, trong đó nữ chiếm 55% số khẩu. Nhân dân trong xứ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Năm 2009, chúng tôi được Uỷ ban MTTQVN xã cho đi học tập và triển khai mô hình tín hữu Công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và thành lập ở xứ chúng tôi một nhóm có 100 người trong độ tuổi từ 18-60 tuổi, thành lập Ban chủ nhiệm nhóm 3 người để điều hành công việc.

Qua 2 năm tổ chức thực hiện chúng tôi đã tổ chức sinh hoạt được 7 kỳ, các kỳ sinh hoạt đảm bảo yêu cầu đề ra, lồng ghép nhóm là các thôn liền kề, tạo thuận lợi cho việc sinh hoạt trao đổi độ tuổi thành viên của nhóm hầu hết là từ 18 -60, nội dung cam kết được đại diện chủ hộ gia đình ký kết thực hiện nghiêm túc là nhờ có sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban MTTQ xã, ban điều hành mô hình của xã, sự phối kết hợp giữa các đoàn viên, hội viên của các đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của Ban hành giáo, của cha xứ, các vị chức sắc, chức việc của giáo xứ, công tác tuyên truyền triển khai tổ chức thực hiện đã được gắn nhiều phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động lớn như cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động “Quỹ vì người nghèo”, xoá nhà ở dột nát cho hộ nghèo...

Nhóm xứ Đông Thành đã tổ chức cho bà con giáo dân ký vào bản cam kết thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, do MTTQ tỉnh cấp. Dưới sự hướng dẫn của Đức cha quản xứ bà con được học tập 7 chuyên đề liên quan đến giáo lý, giáo luật và lời khuyên để thực hiện tốt việc xây dựng gia đình hạnh phúc làm theo gia đình thánh gia không thực hiện các biện pháp lựa chọn giới tính thai nhi, thực hiện bình đẳng nam nữ. Qua học tập để nâng cao nhận thức cho bà con giáo xứ. Việc Đức cha thuyết giảng rất hiệu quả. Ngoài việc cha thuyết giảng trước giờ lễ của các buổi Chúa nhật, xét thấy cần trao đổi thêm cho các đôi vợ chồng trẻ trước khi hôn lễ nội dung này nên cha xứ đã thuyết giảng thêm tại lễ Hôn phối, có tác dụng rất tích cực cho công tác tuyên truyền.

Qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở rút ra một số kinh nghiệm như sau: Vì người Công giáo phải giữ trọn đức tin thực hiện tốt giáo lý, giáo luật và pháp luật nên việc nâng cao nhận thức cho đồng bào Công giáo thì cùng với các cấp, các ngành, đoàn thể làm công tác tuyên truyền theo tôi việc MTTQ mời các vị chức sắc cùng tham gia truyền giảng cho đồng bào Công giáo trong các buổi lễ là rất đúng và hiệu quả.

T.H

Về đầu trang


Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm 

Thực hiện chỉ đạo của Ban Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam, Kế hoạch của Ban Thường trực UBMTTQ tỉnh Hưng Yên về thực hiện mô hình gia đình phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.

Đại Đồng là một xã thuần nông, nhân dân chủ yếu làm ruộng, cách trung tâm huyện lị 7km, có số dân 9.400 nhân khẩu. Nhân dân đều theo Phật giáo, có 6 ngôi chùa, 1 ngôi chùa xếp di tích lịch sử, 5  chùa còn lại mới xây. 4 ngôi chùa có các nhà sư trụ trì. Có 1 thôn Đình Tổ có 345 nhân khẩu, nhân dân theo đạo công giáo toàn tòng. Diện tích canh tác xã có 419,16 ha, bình quân 1,5 sào/người, chủ yếu sống bằng nông nghiệp, có 1 thôn (Lộng Thượng) có nghề đúc đồng truyền thống, 1 thôn (Bùng Đông) có nghề gia công quỳ. Đảng bộ có 302 Đảng viên sinh hoạt ở 9 Chi bộ nông thôn và 5 Chi bộ trực thuộc.

Những năm gần đây, tình hình phát triển dân số của xã luôn ở mức 1,2%. Đặc biệt tỷ lệ sinh bé trai tăng nhanh và tỉ lệ người sinh con thứ 3 tăng, chủ yếu tập trung ở lứa tuổi 35 - 40, phần lớn những hộ này đều có điều kiện kinh tế khá giả hoặc chưa có con trai. Nên đã làm ảnh hưởng tới tỉ lệ phát triển dân số của xã.

Quí I năm 2009 được TW MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực MTTQ tỉnh Hưng Yên đã chọn xã Đại Đồng để xây dựng mô hình điểm. Sau khi được MTTQ Việt Nam quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung của việc xây dựng mô hình điểm. Ban Thường trực MTTQ xã xác định đây là một mô hình hết sức mới, cần làm chuyển biến nhận thức của nhân dân về những quan niệm con trai, con gái và nhận thức việc bình đẳng giới trong gia đình cộng đồng dân cư, mà tập trung chủ yếu là các tín đồ phật tử. Khi thực hiện mô hình điểm, Ban Thường trực MTTQ xã báo cáo với Ban Thường vụ Đảng uỷ, phối hợp với UBND xã xây dựng kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng quý thành lập ban chỉ đạo gồm 12 thành viên. Đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ tổ chức Đảng làm Trưởng ban, Chủ tịch MTTQ xã làm phó ban thường trực. Đặc biệt có các vị tăng, ni trụ trì các chùa tham gia ban chỉ đạo.

Việc lồng ghép mô hình điểm vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" là một trong những nội dung đổi mới phương thức hoạt động của MTTQ, các ban công tác mặt trận và hướng các hoạt động về các KDC, xây dựng KDC thực sự vững mạnh. Việc lồng ghép mô hình trong cuộc vận động được cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đánh giá cao vai trò của MTTQ trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của địa phương. Cuối năm 2010, mỗi chỉ tiêu đề ra của chi bộ được ban CTMT đánh giá thông qua ngày hội đại đoàn kết toàn dân nhân ngày 18/11.

 Nhìn chung sau 1 thời gian triển khai thực hiện mô hình, các chức sắc tôn giáo đã có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam và xã Đại Đồng nói riêng. Từ đó đã tích cực tuyên truyền cho các phật tử tạo chuyển biến về nhận thức và hành động của các tín đồ phật tử. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô hình, Ban Thường trực, Ban chỉ đạo các Tăng, Ni đã có những cách làm sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục DSKHHĐ tỉnh Hưng Yên về trực tiếp giảng những nội dung: hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp nhằm khắc phục thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam cũng như ở Hưng Yên, kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc cho các tín đồ phật tử đã cung cấp lượng thông tin bổ ích cho các tín đồ phật tử.

 Thông qua hoạt động mô hình thì vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình, xã hội đã được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn. Tư tưởng trọng nam, khinh nữ trong bộ phận không nhỏ người dân đã dần thay đổi và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

T.H

Về đầu trang


Hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ cho các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu tại các tỉnh phía Nam.

Trong hai ngày 19-20/6, tại TP.Hồ Chí Minh, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với Tổng Cục dân số- Bộ Y tế tổ chức  Hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ cho cán bộ Mặt trận, các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu tại các tỉnh phía Nam. Đến dự có đồng chí Lê Bá Trình, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; đồng chí Trần Hoa Mai, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế.

Hội nghị đã nghe các báo cáo viên giới thiệu các chuyên đề về Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020, truyền thông thay đổi hành vi và phương pháp tuyên truyền, vận động khắc phục bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình và mất cân bằng giới tính khi sinh lồng ghép vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết  tốt những vấn đề cơ cấu, phân bổ dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân…

Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận vào các chuyên đề nhằm tìm ra các giải pháp cơ bản để thực hiện công tác DS-KHHGĐ là truyền thông, giáo dục, vận động, chuyển đổi hành vi gắn với cung cấp dịch vụ theo hướng dự phòng tích cực, đảm bảo công bằng, bình đẳng giới và quyền của người dân trong việc tiếp cận thông tin, lựa chọn dịch vụ có chất lượng, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, đặc điểm văn hóa và tập quán của người dân ở các vùng khác nhau.

Đây là những nội dung hết sức cơ bản và thiết thực liên quan đến công tác hàng ngày của cán bộ Mặt trận, các vị chức sắc tôn giáo làm công tác dân số có được những kiến thức nhất định về công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ công tác DS-KHHGĐ hiện nay.

Tùng Lâm

Về đầu trang


Hỗ trợ các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi về SKSS tại cộng đồng

Trong những năm qua, nhằm thay đổi hành vi về chăm sóc SKSS cho người dân vùng cao, Dự án Nâng cao chất lượng và sử dụng dịch vụ SKSS Hà Giang (VNM7PG0001) đã tập trung vào công tác tuyên truyền ở 3 huyện triển khai dự án là Yên Minh, Xín Mần, Đồng Văn, Hà Giang.  

Công tác tuyên truyền được thực hiện sâu rộng bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp nên đạt được kết quả cao, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của người dân đối với vấn đề chăm sóc SKSS cho bản thân và cộng đồng xã hội. 

Trong công tác truyền thông do Dự án triển khai thì hiệu quả nhất vẫn là các hoạt động do các tổ chức hội, đoàn thể phối hợp tổ chức thực hiện, bao gồm Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc. Nguyên nhân các tổ chức hội, đoàn thể thực hiện đạt hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền là do các đơn vị này có đông hội viên và đều thuộc mục tiêu tuyên truyền của dự án. Mặt khác, các tổ chức hội đều có cấp hội cơ sở nên hoạt động truyền thông được tổ chức thường xuyên, liên tục. Về hình thức tuyên truyền, các tổ chức hội thực hiện lồng ghép vào các buổi sinh hoạt tổ, hội hoặc lồng ghép vào hoạt động của các Nhóm SKSS/TDTK. Để công tác tuyên truyền được thực hiện đạt hiệu quả cao, các tổ chức hội đều lựa chọn người tuyên truyền là nhóm trưởng, cán bộ hội ở cơ sở. Khi được lựa chọn, đội ngũ này sẽ được tham gia các lớp tập huấn kiến thức chăm sóc SKSS cũng như kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân. Nhờ được tập huấn, lại biết tuyên truyền bằng tiếng địa phương nên công tác tuyên truyền thông qua đội ngũ này phát huy được hiệu quả. Chính vì vậy, từ khi triển khai cho đến nay, năm nào dự án cũng xây dựng kế hoạch và cấp kinh phí cho các tổ chức hội, đoàn thể thực hiện công tác truyền thông, đồng thời cung cấp cả phương tiện truyền thông như tài liệu, sách, băng đĩa và loa đài. Chỉ tính riêng trong năm 2010, Ủy ban MTTQ tỉnh tổ chức được 160 buổi truyền thông tại 15 xã cho gần 5.000 người tham gia; Hội Phụ nữ tỉnh tổ chức được 237 buổi truyền thông nhóm nhỏ; Hội Nông dân tổ chức được 370 buổi. Ngoài 3 tổ chức hội, đoàn thể thực hiện công tác truyền thông thường xuyên, dự án cũng đã triển khai hoạt động này thông qua hoạt động phối hợp với các đơn vị khác, Báo Hà Giang; Đài PT- TH tỉnh; Chi cục DS/KHHGĐ; Sở Giáo dục- Đào tạo. Trong đó Báo Hà Giang và Đài PT- TH tỉnh đã thực hiện nhiều chuyên mục, chương trình PT- TH đề cập đến những vấn đề về công tác chăm sóc SKSS ở cơ sở. Hàng năm, Báo Hà Giang đã cắt cử phóng viên về cơ sở thu thập tài liệu, đăng tải gần 20 chuyên mục về hiệu quả hoạt động của dự án, những mô hình do dự án đầu từ phát huy hiệu quả ở cơ sở. Với Đài PT- TH, ngoài việc xây dựng và thực hiện các chuyên mục phát sóng về đề tài này thường xuyên còn liên tục cho pháttập kịch (Khát vọng sống) có nội dung về cung cấp kiến thức trong chăm sóc SKSS/DS và phát triển cho lứa tuổi vị thành niên. Chi cục DS/KHHGĐ, Sở Giáo dục- Đào tạo cũng đã tổ chức hàng trăm buổi truyền thông do đội ngũ cộng tác viên dân số và giáo viên cắm bản thực hiện. Cùng với đó, hoạt động truyền thông do Trung tâm Văn hoá Thông tin- Thể thao các huyện Yên Minh, Xín Mần, Đồng Văn thực hiện cũng đạt được kết quả to lớn. Công tác truyền thống được thực hiện thông qua 3 đội thông tin lưu động và được tổ chức tại các phiên chợ. Việc truyền thống tại các phiên chợ được tổ chức theo hình thức vừa tổ chức biểu diễn văn nghệ, vừa tuyên truyền nên thu hút được rất đông người đến xem. Nội dung tuyên truyền được thể hiện bằng tiếng Kinh và tiếng dân tộc nên người đến xem dù không biết tiếng phổ thông vẫn có thể tiếp thu. Tuyên truyền ở chợ nên đối tượng được nghe rất phong phú, có người già, trẻ nhỏ, có nam, có nữ. Trong năm 2010, các Đội thông tin lưu động của 3 huyện đã tổ chức được 131 buổi truyền thông chăm sóc SKSS và có trên 120.000 lượt người đến nghe. 

Có thể khẳng định, việc hỗ trợ cho các hoạt đông truyền thông của Dự án trong những năm qua đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi nhận thức, hành vi của người dân về chăm sóc SKSS.  

TUYÊN BÌNH

Về đầu trang


MTTQ tỉnh Thái Bình với công tác tuyên truyền, thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ  

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đặc biệt là việc triển khai thực hiện các chế độ chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo, đời sống của người dân trong tỉnh ngày càng được cải thiện và nâng cao. Số hộ khá, giàu tăng, không có hộ đói, hộ nghèo ngày càng giảm. 

Cùng với thành tựu về kinh tế, nhận thức của nhân dân về quy mô gia đình ít con đã thực sự có chuyển biến, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt dưới 1%. Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ đã được chú trọng. Tỷ lệ chết mẹ, chết trẻ sơ sinh vào loại thấp nhất so với cả nước. Tỷ lệ học sinh đến trường cao, chỉ số phát triển con người (HDI) 0,714, xếp thứ 8 trong cả nước. Tuy nhiên, trong lĩnh vực DS - KHHGĐ tỉnh ta cũng đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn. Tình trạng di dân tự do tăng, với trên 100.000 lượt người đi lao động xa nhà theo thời vụ gây khó khăn cho việc kiểm soát dân cư, ngoài ra còn kèm theo nhiều hậu quả khác, nhất là các tệ nạn xã hội. Hiện Thái Bình là tỉnh nằm trong nhóm 10 tỉnh thành phố trong cả nước có nhiều người nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS. Tỷ lệ mất cân bằng giới tính những năm gần đây cũng thuộc loại cao, trong đó 6 tháng đầu năm 2008 là 117 nam/100 nữ. Vấn đề giới, bình đẳng giới, bạo hành gia đình gây nhiều bức xúc. Trước thực trang trên, MTTQ các cấp đã tích cực phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ, tuyên truyền vận động toàn dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chủ trương chính sách về lĩnh vực Dân số - KHHGĐ. 

Cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" do TƯ MTTQ phát động được các tầng lớp nhân dân tích cực ưởng ứng, trong đó một trong sáu tiêu chí là khu dân cư không có người sinh con thứ ba và làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Để đạt tiêu chí trên, hàng năm MTTQ phối hợp với các ngành chức năng tổ chức các hội nghị truyền thông trong các khu dân cư với nội dung về dân số, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS; đồng thời tổ chức hội thi Ban công tác mặt trận với vấn đề dân số và CSSK cộng đồng... nhằm làm thay đổi nhận thức của nhân dân. Ngoài ra, MTTQ còn phối hợp với ngành Dân số, Văn hóa, Tư pháp xây dựng hướng dẫn liên ngành về việc đưa chính sách dân số, gia đình, trẻ em vào hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố; vào tiêu chí thôn làng, cơ quan đơn vị đạt danh hiệu "đơn vị văn hóa". Đến nay toàn tỉnh có 1688 thôn làng (chiếm 88,2%) xây dựng được hương ước, quy ước của địa phương, trong đó có những quy định cụ thể về chính sách DS-GĐ và TE, được nhân dân đồng tình và tích cực hưởng ứng. Hai phong trào lớn được triển khai sâu rộng trong đồng bào tôn giáo là phong trào thi đua "xây dựng chùa cảnh bốn gương mẫu", "xứ họ đạo bốn gương mẫu" có bốn nội dung và các tiêu chí cụ thể, phù hợp trong đồng bào có đạo, trong đó tiêu chí về công tác dân số và CSSK nhân dân cũng được đông đảo các vị chức sắc, đồng bào có đạo hưởng ứng, thi đua thực hiện. Hàng năm toàn tỉnh có 100% các xứ họ và nhà chùa đăng ký hưởng ứng phong trào, 40 - 45% các xứ họ và nhà chùa đạt danh hiệu “bốn gương mẫu”. Mỗi dịp sơ kết phong trào tại cơ sở, MTTQ các xã phối hợp với các chức sắc tôn giáo tổ chức khen thưởng kịp thời, qua đó  động viên, nhân rộng các điển hình cá nhân, đơn vị thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ. Ngoài ra MTTQ còn tổ chức các hội nghị biểu dương các xứ họ đạo tiêu biểu thực hiện tốt công tác DS, CSSK cộng đồng và tổ chức 19 cuộc hội thảo cho đối tượng là các vị chức sắc, chức việc, nam nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đồng bào giáo dân với gần 2000 lượt người tham dự nhằm mục đích tuyên truyền, vận động trực tiếp, cung cấp những kiến thức về lĩnh vực DS - CSSKSS cho nhân dân. Gần đây, tháng 9-2008, MTTQ tỉnh  đăng cai tổ chức hội thảo “chức sắc tôn giáo các tỉnh phía Bắc với thực hiện chính sách dân số KHHGĐ” đã thu hút hàng trăm đại biểu đến từ các tôn giáo trong khu vực với nhiều kinh nghiệm quý, cách làm hay trong tuyên truyền, thực hiện chính sách DS-KHHGĐ….  

Để bảo đảm thực hiện tiêu chí về dân số trong các phong trào thi đua do MTTQ phát động trong tình hình xã hội hiện nay không hề đơn giản. Song với nỗ lực của những người làm công tác mặt trận các cấp, sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, công tác dân số KHHGĐ những năm qua vẫn đạt nhiều kết quả. Toàn tỉnh có 420 khu dân cư từ 3 đến 5 năm liền không có người sinh con thứ ba trở lên; hàng năm có từ 30 - 35% các khu dân cư đạt danh hiệu “khu dân cư tiên tiến”. Qua các kênh thông tin do MTTQ và các Hội thành viên tổ chức truyền thông, số người nắm rõ và thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ ngày càng tăng đã góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội toàn tỉnh ngày càng phát triển.

Dung

Về đầu trang


Về Tân Sơn, Phú Thọ nghe chuyện “làm” dân số

“Làm cán bộ, CTV dân số, nhất là ở miền núi thì điều cần nhất là sự nhiệt tình. Vì địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, có nhiều dân tộc sống trên một địa bàn, bên cạnh đó cơ sở vật chất, phương tiện truyền thông thiếu thốn khiến cho công tác tuyên truyền cũng như triển khai các chiến dịch gặp nhiều khó khăn. Nhiều khi phải đến trực tiếp từng hộ nên phải mất công, mất nhiều thời gian hơn”. Anh Tạ Diên Hồng-Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Tân Sơn mở đầu câu chuyện bằng những lời tâm sự như trên. 

Qua thực tế tại nhiều địa bàn xã trong huyện, những lần trò chuyện với cán bộ y tế cũng như CTV dân số, tôi đã hình dung và có những cảm nhận ban đầu về công việc thầm lặng của các anh,các chị. Để triển khai tốt các chương trình, hoạt động, Trung tâm DS-KHHGĐ đã phối hợp với các tổ chức xã hội, các ban, ngành, đoàn thể tuyên truyền, giáo dục về chính sách dân số, SKSS-KHHGĐ. Phối hợp với Ủy ban MTTQ huyện, các tổ chức đoàn thể tổ chức chiến dịch lồng ghép cung cấp dịch vụ. Qua đó đã từng bước thay đổi nhận thức, những quan niệm của người dân về dân số cũng như việc chăm sóc SKSS-KHHGĐ. Dân số toàn huyện Tân Sơn tính đến hết 6 tháng đầu năm là gần 80.000 người, trong đó số trẻ em sinh ra là 623 trẻ, (giảm so với cùng kỳ năm 2010 là 13 trẻ); tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1,2%. Qua hệ thống cán bộ và CTV DS-KHHGĐ đã cung cấp và duy trì, quản lý việc sử dụng các biện pháp tránh thai(BPTT). Trung tâm đã phối hợp với Trung tâm y tế huyện tổ chức cung cấp dịch vụ trong chiến dịch tại 7 xã; tổ chức dịch vụ KHHGĐ trong dự án thúc đẩy KHHGĐ biện pháp tránh thai lâm sàng của Mailstopser 5 buổi đợt 1 và 17 buổi đợt 2. Kết quả trong 6 tháng đầu năm, tổng số cặp vợ chồng mới sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 5.029 ca, (đạt 98% kế hoạch năm); tỷ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng BPTT hiện đại đạt trên 70%. Các xã thực hiện dịch vụ có kết quả cao là Tân Sơn, Kim Thượng, Văn Luông, Minh Đài, Tam Thanh. 

Mặc dù đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và qua nhiều năm, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã có chuyển biến tốt, nhưng từ năm 2010 đến nay tư tưởng này lại có chiều hướng quay trở lại. Trong 6 tháng đầu năm 2011, chỉ số giới tính là 144 bé trai/100 bé gái, tăng so với cùng kỳ năm 2010 là 12. Tỷ lệ chênh lệch này đã trở thành vấn đề đáng lo ngại đối với việc lựa chọn giới tính khi sinh của các cặp vợ chồng. Lý giải điều này, anh Hồng cho biết: “Hiện nay, với sự phát triển về công nghệ, việc lựa chọn giới tính trở nên dễ dàng hơn khiến cho việc các cặp vợ chồng muốn có con trai trở nên phổ biến. Điều này  kéo theo tỷ  lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3  tăng so với cùng kỳ là 6 trẻ”. Trong 6 tháng đầu năm 2011, có 6/17 xã không có người sinh con thứ 3 trở lên là: Tân Sơn, Lai Đồng, Kiệt Sơn, Đồng Sơn, Tam Thanh, Văn Luông. Trong đó xã Tân Sơn đã duy trì 11 năm không có người sinh con thứ ba. Trao đổi với chúng tôi, chị Hà Thị Hồi, cán bộ dân số xã Tân Sơn cho biết: “Có được kết quả đó là nhờ sự tuyên truyền quyết liệt đến từng hộ gia đình. Mặc dù trình độ dân trí chưa cao, nhưng qua việc triển khai các chiến dịch truyền thông, người dân   hiểu việc sinh ít con sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo và có điều kiện tham gia lao động sản xuất hơn. Chính vì thế nên trong nhiều năm xã đã duy trì không có người sinh con thứ ba”. Một khó khăn nữa đó là việc triển khai các biện pháp tránh thai hiện đại. Do địa bàn đông, người dân dù đã được tuyên truyền, hướng dẫn nhưng do tâm lý e ngại khiến cho việc áp dụng gặp nhiều trở ngại. Đây cũng là trăn trở của các cán bộ, CTV dân số trong nhiều năm trở lại đây khi thấy rõ thay đổi nhận thức phải đi liền với việc thay đổi trong hành động. 

Là huyện mới thành lập, hiện nay Trung tâm DS-KHHGĐ có 4 biên chế, 17 cán bộ DS-KHHGĐ cấp xã và 202 CTV. Địa bàn rộng, dân cư thưa, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế khiến cho mỗi cán bộ, CTV dân số càng phải cố gắng nhiều hơn, vì có làm tốt công tác dân số mới góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề môi trường, giáo dục. Với quyết tâm như vậy, nhân dịp kỷ niệm ngày dân số thế giới 11/7 năm nay, Trung tâm DS-KHHGĐ sẽ triển khai chương trình truyền thông gắn với các hoạt động mít tinh hưởng ứng, tư vấn hướng dẫn thực hiện các dịch vụ. Mục tiêu phấn đấu duy trì mức sinh thay thế, giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, góp phần cải thiện sức khỏe sinh sản và thực hiện được các nội dung trong chiến lược DS-KHHGĐ.  

Thu Hà

Về đầu trang


Cần những giải pháp đồng bộ Nâng cao chất lượng công tác dân số - KHHGĐ ở Nam Định

Những năm qua, công tác dân số - KHHGĐ tỉnh Nam Định được các cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo và đầu tư nguồn lực, triển khai các biện pháp thực hiện. Đến nay, tỉnh ta đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu về chiến lược dân số. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt gần 80%, tỷ suất sinh từ 18,6 phần nghìn năm 2000 giảm xuống còn 15,69 phần nghìn năm 2010, dân số tự nhiên tăng khoảng 1%, cặp vợ chồng sinh con thứ ba trở lên giảm từ 18,7% năm 2000 xuống còn 13,72% năm 2010. Tuy nhiên, công tác dân số - KHHGĐ vẫn còn nhiều bất cập. Kết quả giảm sinh chưa thực sự vững chắc, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên còn cao, tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh. Sáu tháng đầu năm 2011, số người sinh con thứ ba trở lên trong toàn tỉnh là 1.687 người, tỷ số giới tính khi sinh là 115 bé trai/100 bé gái. Riêng huyện Trực Ninh tỷ số giới tính khi sinh 134 bé trai/100 bé gái. Đây là thách thức không nhỏ đối với công tác dân số - KHHGĐ, làm biến đổi cơ cấu dân số, nảy sinh các vấn đề về an sinh xã hội, vấn đề về hôn nhân, làm mất cân bằng tâm, sinh lý giới tính và gia tăng nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em, tệ nạn mại dâm...

Để nâng cao chất lượng công tác dân số - KHHGĐ, thời gian qua, các hoạt động truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi, bình đẳng giới với nội dung, hình thức phong phú và chọn cách tiếp cận phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng được tăng cường. Hằng năm, nhân Ngày Dân số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12) các địa phương trong tỉnh đều tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan, nói chuyện chuyên đề, tư vấn trực tiếp cho các đối tượng về công tác dân số - KHHGĐ, lồng ghép với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/KHHGĐ ở tất cả các xã, phường, thị trấn, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi người dân trong việc thực hiện KHHGĐ. Công tác dân số - KHHGĐ được các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội xác định là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi tập thể, đơn vị, cá nhân. Công tác dân số - KHHGĐ ở khu vực biên giới biển cũng được Bộ đội Biên phòng tỉnh tích cực tham gia tuyên truyền thông qua các đợt sinh hoạt của tổ tự quản an ninh đầm bãi, tổ tự quản trên biển và 18 CLB “Phụ nữ vì sự phát triển và bình yên tuyến biển” do các đồn Biên phòng và Hội Phụ nữ các xã, thị trấn ven biển thành lập. Hội Nông dân tỉnh thực hiện truyền thông lồng ghép dịch vụ KHHGĐ với chuyển giao tiến bộ KHKT, hỗ trợ vốn, giống, vật tư, kinh nghiệm làm ăn đến các hội viên. Hội LHPN tỉnh duy trì thường xuyên hoạt động của các CLB: Phụ nữ không sinh con thứ 3, gia đình hạnh phúc, bà mẹ có con tuổi vị thành niên, đối tượng tuổi vị thành niên. Tỉnh Đoàn thành lập đội kịch tuyên truyền các vấn đề về giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, biểu diễn hàng trăm buổi, kết hợp cấp phát tài liệu, sách báo về phòng chống HIV/AIDS, các tệ nạn xã hội tại 62 xã, thị trấn, thôn xóm, trường học ở 2 huyện Mỹ Lộc và Nam Trực.

Bên cạnh việc phát huy vai trò của các ban, ngành, đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện KHHGĐ, nhiều đề án, dự án nhằm từng bước cải thiện chất lượng dân số được tích cực triển khai như: “Truyền thông nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về quyền trẻ em”, “Kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân”, “Lồng ghép dân số với phát triển gia đình bền vững”, “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận động, phát hiện, can thiệp sớm tật, bệnh thai nhi, trẻ sơ sinh”… Đặc biệt, đề án “Kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020” đã và đang triển khai hiệu quả, góp phần tăng cường kiểm soát dân số, tập trung hỗ trợ các hoạt động nhằm nâng cao cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ của nhân dân các xã, thị trấn ven biển. Đề án “Can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh” năm 2010 được triển khai tại 5 huyện, thành phố, gồm: Nam Trực, Mỹ Lộc, Trực Ninh, Ý Yên và Thành phố Nam Định nhằm hạn chế tình trạng chênh lệch giới tính, phá vỡ sự phát triển bền vững của xã hội. Cùng với việc tiếp tục thực hiện và mở rộng triển khai các mô hình, đề án, công tác kiểm tra, thanh tra các cơ sở siêu âm, sử dụng kỹ thuật cao, hướng dẫn sinh con theo ý muốn, nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính thai nhi được tăng cường, góp phần khống chế sự chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh. 

Để nâng cao hiệu quả công tác dân số - KHHGĐ, Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh tiếp tục thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số để đưa thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ đến người dân. Ngoài ra, cùng với việc động viên, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, vận động và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ, các địa phương cần xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân, cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách dân số. Có như vậy, công tác dân số - KHHGĐ mới thực hiện tốt mục tiêu giảm sinh vững chắc, tiến tới ổn định quy mô dân số./. 

Lâm Hồng

Về đầu trang


Điện Biên nâng cao chất lượng dân số để phát triển bền vững

Thực hiện tốt công tác DS - KHHGĐ là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và xã hội. Những năm qua, UBND tỉnh Điện Biên luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống DS - KHHGĐ triển khai có hiệu quả các mục tiêu của chương trình. Trên cơ sở hướng dẫn của các bộ, ngành TW, UBND tỉnh đã chỉ đạo và ổn định tổ chức hệ thống DS - KHHGĐ thống nhất từ tỉnh đến cơ sở, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp, ngành; kiện toàn ban chỉ đạo về công tác dân số các cấp. Qua việc tổ chức triển khai, quán triệt chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác DS - KHHGĐ đã tạo được nhận thức đúng đắn về chính sách DS - KHHGĐ của cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ và các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Từ nhận thức này, quan niệm về hôn nhân và sinh đẻ của nhân dân đã có chuyển biến tích cực theo hướng ngày càng nhiều người kết hôn muộn, sinh thưa, sinh ít để nuôi con khỏe, dạy con ngoan, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội.

Từ sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành, đoàn thể, nỗ lực của đội ngũ cán bộ làm công tác DS - KHHGĐ, những năm qua, công tác DS - KHHGĐ đã đạt những kết quả quan trọng. Đặc biệt là trong giai đoạn 2005 - 2010. Cụ thể như: Tỷ lệ sinh giảm từ 25,9%o năm 2005 xuống 22,88%o năm 2010 (bình quân mỗi năm giảm 0,61%o); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm trung bình mỗi năm 0,64%; tổng tỷ suất sinh năm 2005 là 3,45 con/bà mẹ, đến năm 2010 giảm xuống còn 2,5 con/mẹ...

Tuy vậy, công tác DS - KHHGĐ vẫn còn những hạn chế. Hạn chế lớn nhất là chất lượng dân số trên địa bàn tỉnh thấp. Cụ thể là tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn còn cao. Đáng chú ý là tình hình lây nhiễm HIV/AIDS đang có chiều hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở lứa tuổi lao động chính là từ 20 - 39 - lứa tuổi có sức lao động và sáng tạo dồi dào nhất (chiếm 85,7% số người lây nhiễm HIV). Cơ cấu dân số cũng có biểu hiện mất cân đối: Tỷ lệ dân số trẻ tăng, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 tuổi cũng tăng nhanh, tiềm ẩn nguy cơ tăng tỷ lệ sinh. Đặc biệt, tỷ số giới tính khi sinh đang ở mức báo động. Thống kê của Chi cục DS - KHHGĐ, tỷ số giới tính khi sinh năm 2010 là 115 nam/100 nữ, quý I/2011 tăng lên 129 nam/100 nữ. Mới đây, UBND tỉnh và quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (Unicef) công bố báo cáo phân tích tình hình trẻ em Điện Biên đến năm 2010. Theo đó, Điện Biên là một trong những tỉnh có tỷ lệ trẻ sơ sinh và thấp còi cao nhất nước. Ước tính 1.000 trẻ sinh ra thì có 33 trẻ tử vong trong năm đầu tiên. Trong 100 trẻ, có 35 trẻ bị thấp còi. Điện Biên cũng là tỉnh có có tỷ lệ trẻ nhập học cấp trung học thấp nhất trong cả nước, với số học sinh theo học bậc trung học đạt 70 - 84%...

Chất lượng dân số thấp do nhiều nguyên nhân. Như đánh giá của Chi cục DS - KHHGĐ, do những năm qua, đặc biệt qua 10 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về DS - KHHGĐ, các cấp, ngành tập trung chủ yếu vào mục tiêu giảm sinh mà chưa đầu tư nhiều cho việc nâng cao chất lượng dân số. Về khách quan, do xuất phát điểm KT   XH của tỉnh thấp, trình độ dân trí hạn chế, thu nhập của người dân chưa cao, dịch vụ xã hội phát triển chậm, tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn cao cùng với tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi, trẻ suy dinh dưỡng cao nên người dân chưa có niềm tin để chấp nhận mô hình gia đình có từ 1 - 2 con. Cùng với đó, quan niệm muốn đông con và sinh con trai để nối dõi tông đường còn nặng nề. Cơ cấu dân số trẻ và số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ hàng năm lớn cũng là nguyên nhân phức tạp và lâu dài trong việc thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con, bảo đảm cân bằng giới tính và nâng cao chất lượng dân số. Về chủ quan, do đội ngũ cán bộ làm dịch vụ KHHGĐ ở tuyến cơ sở còn mỏng. Những năm qua, lực lượng này đã được bổ sung về số lượng song chất lượng còn hạn chế. Hiện nay, toàn tỉnh mới có 44/112 xã thực hiện được dịch vụ KHHGĐ thường xuyên. Thiếu bác sỹ sản khoa ở các huyện vùng sâu, vùng xa nên việc phẫu thuật triệt sản tại huyện và giải quyết các vấn đề cấp cứu sản khoa găp nhiều khó khăn. Trong việc xây dựng và thực hiện chính sách về DS - KHHGĐ, chưa hình thành được cái nhìn toàn diện về dân số và phát triển; trong quá trình triển khai thực hiện chính sách về DS - KHHGĐ, tỉnh chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp, nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động công tác DS - KHHGĐ hạn chế.

Để phát triển bền vững, nâng cao chất lượng dân số là đòi hỏi bức thiết. Giai đoạn từ nay đến 2015, tỉnh Điện Biên được hỗ trợ từ chương trình đề án Nâng cao chất lượng dân số giai đoạn 2007 - 2020. Các giải pháp nâng cao chất lượng dân số được UBND tỉnh xây dựng. Trong đó, nhóm giải pháp hoạt động truyền thông giáo dục, chuyển đổi hành vi để tạo sự cam kết ủng hộ của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội về chương trình nâng cao chất lượng dân số được đặc biệt quan tâm. Cùng với đó là tăng cường tuyên truyền tư vấn, hỗ trợ nâng cao sức khoẻ, thể chất, trí tuệ và tinh thần cho các nhóm đối tượng đặc biệt; triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ và vận động để tăng sự chấp nhận sàng lọc sơ sinh tại cộng đồng... Việc xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần, tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng dân số cũng là các giải pháp được quan tâm. Mục tiêu là vậy song nguồn lực thực hiện trong điều kiện của tỉnh còn hạn chế. Do vậy, rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đồng lòng nâng cao chất lượng dân số để phát triển bền vững.

Đạt Thương

Về đầu trang


Đắk Nông đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ: Mặt trận và các thành viên cùng vào cuộc

Ổn định quy mô dân số, thực hiện kế hoạch hóa gia đình để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương phát triển. Vì vậy, thời gian qua, Mặt trận và các tổ chức thành viên trong tỉnh cũng đã tích cực đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân về dân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) với những việc làm thiết thực và hiệu quả.

Theo ông Nông Văn Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Đắc Nông thì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn hóa ở khu dân cư” với một số tiêu chí thi đua cụ thể liên quan đến DS-KHHGĐ đã đòi hỏi các gia đình, khu dân cư phải chú trọng vào vấn đề này. Mỗi gia đình, mỗi khu dân cư để được công nhận văn hóa thì trước hết cần phải đảm bảo được hai yếu tố là xóa đói giảm nghèo và thực hiện KHHGĐ.

Trong số các tổ chức thành viên của Mặt trận thì Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên hiện là lực lượng chủ công trong công tác này. Với Hội Phụ nữ, hàng năm, các cấp Hội phụ nữ đều phối hợp với các trung tâm, trạm y tế phổ biến các kiến thức cần thiết về chăm sóc sức khỏe sinh sản, DS-KHHGĐ, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em và thực hành dinh dưỡng cho đông đảo hội viên. Nhân kỷ niệm Ngày Dân số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12), Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh cũng chỉ đạo các cơ sở Hội tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức về chuẩn mực người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, kiến thức về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi con theo khoa học... Việc vận động chị em khám và điều trị bệnh, nhất là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, KHHGĐ, đưa trẻ đi tiêm phòng… nhằm thực hiện quy mô gia đình ít con, khỏe mạnh, hạnh phúc cũng được quan tâm hàng đầu. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, các cấp Hội đã vận động được 20.076 chị tham gia khám phụ khoa phòng tránh các bệnh lây nhiễm, khám thai theo định kỳ và đưa con đi tiêm phòng đầy đủ. Thông qua công tác truyền thông, giáo dục nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã giúp cho hội viên, phụ nữ thay đổi nhận thức, hành vi trong chăm bản thân, chủ động hơn trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai, KHHGĐ. Tương tự, thời gian qua, các cấp Đoàn trong tỉnh cũng đã tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh niên về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Cùng với việc truyền thông qua các buổi sinh hoạt định kỳ, lồng ghép trong những đợt về nguồn làm công tác xã hội, các cấp Đoàn đã tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của giới trẻ về DS-KHHGĐ. Đặc biệt, hiện nay, tình trạng nạo phá thai trong giới trẻ ngày càng nhiều, thì việc phát huy vai trò của Đoàn trong truyền thông, nâng cao nhận thức cho giới trẻ về tác hại, cách phòng tránh những hậu quả đáng tiếc càng quan trọng. Bên cạnh đó, các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tìm hiểu về giới, kiến thức sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới… luôn thu hút được nhiều bạn trẻ tham gia. Cùng với việc duy trì hoạt động hiệu quả hơn 300 câu lạc bộ “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” với 12.386 thành viên ở 20 xã, phường trọng điểm thì các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và đạo đức lối sống, nhằm xây dựng người thanh niên có bản lĩnh, lý tưởng, sống an toàn, lành mạnh.

Hoàng Bảo 

Về đầu trang


Xã Tát Ngà tăng cường công tác DS-KHHGĐ   

Xã Tát Ngà, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang nằm cách trung tâm huyện lỵ Mèo Vạc 20km với 3.231 nhân khẩu, 90% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở 13 thôn bản. Với đặc thù là xã miền núi cao, dân cư phân bố không đồng đều, nhiều thôn, bản còn nằm cách xa trung tâm xã, đường sá đi lại khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều nên việc tiếp cận các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những trở ngại lớn trong công tác dân số KHHGĐ. 

Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ sở, sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Dân số gia đình huyện cùng với sự nhiệt tình của các cộng tác viên và sự phối hợp chặt chẽ của Trạm y tế, xã đã tập trung vào việc tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ đến vùng đông dân, vùng có mức sinh cao và vùng sâu, vùng xa. Ngay từ đầu năm, Ban dân số xã đã phối hợp với các ban ngành thường xuyên tổ chức công tác giáo dục, tuyên truyền Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, chương trình hành động vì trẻ em chiến lược quốc gia về dân số, chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS. Bên cạnh đó, Ban dân số xã còn duy trì và kiện toàn đội ngũ công tác viên thôn bản để nắm bắt kịp thời những diễn biến về công tác dân số, cung cấp biểu mẫu báo cáo, thống kê cho 100% cộng tác viên dân số. Cộng tác viên dân số phối hợp với Trưởng thôn xuống các thôn bản xa trung tâm giúp đồng bào nâng cao nhận thức về KHHGĐ và các phương pháp phòng, chống các căn bệnh xã hội, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về các biện pháp tránh thai hiện đại, phụ nữ từ 15-49 tuổi khám phụ khoa và phụ nữ mang thai đi khám thai định kỳ. Nhờ vào ý thức của người dân, sự nỗ lực của cấp uy, chính quyền, nhân dân trong xã, trong 6 tháng đầu năm 2011 đã vận động được 441 cặp vợ chồng tham gia khám và áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, trong đó: đặt thuốc tử cung là 63 người, uống thuốc tránh thai 21 người, sử dụng bao cao su 6 người, tỷ lệ phụ nữ từ 15-49 tuổi khám phụ khoa cao hơn so với năm trước. Bên cạnh đó, xã còn tích cực giám sát, chỉ đạo đội ngũ công tác viên dân số ở các thôn, bản thường xuyên đi xuống hộ dân nắm bắt tình hình gia tăng dân số, có báo cáo tình hình cụ thểđể có biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ gia tăng dân số.  

Để đạt được các mục tiêu năm 2011, trong đó giảm tỷ lệ sinh con thứ 3, tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, Tát Ngà đã, đang tập trung thực hiện các nhóm giải pháp về công tác tổ chức tuyên truyền để làm thay đổi hành vi; công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản KHHGĐ; để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và chiến lược giảm sinh trên địa bàn toàn tỉnh. 

TRẦN THỊ HIỀN

Về đầu trang


Công tác truyền thông dân số TP.Tam Kỳ - Quảng Nam: Cần sự chia sẻ từ nam giới  

Trong tổng số 210 cộng tác viên dân số ở TP.Tam Kỳ hiện nay chỉ có 20 nam giới là trưởng thôn khối phố kiêm nhiệm. Điều này phần nào cho thấy nam giới vẫn chưa vào cuộc cũng như chưa chia sẻ với phụ nữ trong các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình (SKSS-KHHGĐ). Thực tế này còn thể hiện ở kết quả đối tượng tham gia các chiến dịch truyền thông chăm sóc SKSS và thực hiện các biện pháp KHHGĐ 100% là nữ. 

Chị Phan Thị Nguyệt Nga - chuyên trách dân số xã Tam Thanh cho biết: “Cả xã chỉ có một cộng tác viên dân số là nam giới, ở đây mọi người đều nghĩ công việc này là của phụ nữ nên đàn ông không tham gia”. Cũng theo chị Nga, nam giới né tránh làm cộng tác viên dân số vì họ cho rằng đó là việc phụ nữ tự nói với nhau, phần khác là do mức phụ cấp quá thấp (50 nghìn đồng/tháng - NV).  

Thiếu nam giới làm cộng tác viên dân số đồng nghĩa với việc thiếu người tuyên truyền tác động đến nhận thức của nam giới về vấn đề dân số. Thế là bao năm qua chỉ có những phụ nữ vẫn âm thầm tự nói cho nhau nghe về SKSS-KHHGĐ. Chị Nguyễn Thị Hưởng - cộng tác viên dân số lâu năm ở xã Tam Thanh chia sẻ: “Đàn ông ở đây đi biển cả ngày nên không tuyên truyền gì được, mỗi lần có chiến dịch truyền thông thì chỉ có chị em phụ nữ quan tâm”. Không chỉ vùng nông thôn, ngay cả ở những phường nội thị vấn đề dân số - KHHGĐ cũng gần như khoán trắng cho phụ nữ. Những gia đình lao động nghèo, thu nhập bấp bênh, người chồng lo bươn chải kiếm sống còn vợ phải lo việc nội trợ, con cái nên không có người đàn ông nào quan tâm đến việc chăm sóc SKSS cho vợ hay thực hiện KHHGĐ. Ngay cả gia đình công chức cũng có quan niệm lệch lạc như thế. Chị Nguyễn Thị Lài - cán bộ chuyên trách dân số phường An Mỹ kể: “Nhiều khi đi xuống từng gia đình để tuyên truyền gặp lúc không có người vợ ở nhà thì các ông chồng cũng từ chối không trò chuyện. Họ nói đó là việc của vợ”. 

Một khi tình trạng bất bình đẳng vẫn còn tồn tại thì chất lượng dân số vẫn chưa thể đảm bảo, hạnh phúc gia đình vẫn mong manh. Đã có nhiều chị em chia sẻ rằng do không muốn sinh nhiều con nên họ phải tự thực hiện các biện pháp tránh thai. Vừa phải lao động kiếm sống vừa phải chăm sóc các con và tự lo kế hoạch hóa gia đình đã trở thành gánh nặng quá lớn cho những người vợ. Chị Bùi Thị Lệ Thủy - Phó Giám đốc Trung tâm Dân số-KHHGĐ TP.Tam Kỳ cho biết: “Vận động nam giới thực hiện kế hoạch hóa gia đình rất khó, suốt 10 năm nay Tam Kỳ không có ca đình sản nam giới nào; 100% đối tượng được tư vấn chăm sóc SKSS-KHHGĐ là phụ nữ”. 

“Một mái ấm hạnh phúc cần có sự bình đẳng chia sẻ giữa các thành viên trong gia đình. Một điều tưởng chừng rất đơn giản trong cuộc sống hiện đại nhưng chúng ta vẫn chưa đạt được bởi nhận thức còn lệch lạc của nam giới” - các chị cộng tác viên dân số nói. 

THANH XUÂN

Về đầu trang


Đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ: Mặt trận và các thành viên cùng vào cuộc

Ổn định quy mô dân số, thực hiện kế hoạch hóa gia đình để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương phát triển. Vì vậy, thời gian qua, Mặt trận và các tổ chức thành viên trong tỉnh cũng đã tích cực đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân về dân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) với những việc làm thiết thực và hiệu quả.

Theo ông Nông Văn Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Đắk Nông thì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn hóa ở khu dân cư” với một số tiêu chí thi đua cụ thể liên quan đến DS-KHHGĐ đã đòi hỏi các gia đình, khu dân cư phải chú trọng vào vấn đề này. Mỗi gia đình, mỗi khu dân cư để được công nhận văn hóa thì trước hết cần phải đảm bảo được hai yếu tố là xóa đói giảm nghèo và thực hiện KHHGĐ.

Trong số các tổ chức thành viên của Mặt trận thì Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên hiện là lực lượng chủ công trong công tác này. Với Hội Phụ nữ, hàng năm, các cấp Hội phụ nữ đều phối hợp với các trung tâm, trạm y tế phổ biến các kiến thức cần thiết về chăm sóc sức khỏe sinh sản, DS-KHHGĐ, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em và thực hành dinh dưỡng cho đông đảo hội viên. Nhân kỷ niệm Ngày Dân số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12), Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh cũng chỉ đạo các cơ sở Hội tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức về chuẩn mực người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, kiến thức về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi con theo khoa học... Việc vận động chị em khám và điều trị bệnh, nhất là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, KHHGĐ, đưa trẻ đi tiêm phòng… nhằm thực hiện quy mô gia đình ít con, khỏe mạnh, hạnh phúc cũng được quan tâm hàng đầu. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, các cấp Hội đã vận động được 20.076 chị tham gia khám phụ khoa phòng tránh các bệnh lây nhiễm, khám thai theo định kỳ và đưa con đi tiêm phòng đầy đủ. Thông qua công tác truyền thông, giáo dục nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã giúp cho hội viên, phụ nữ thay đổi nhận thức, hành vi trong chăm

bản thân, chủ động hơn trong việc áp dụng các biện pháp tránh thai, KHHGĐ. Tương tự, thời gian qua, các cấp Đoàn trong tỉnh cũng đã tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh niên về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên. Cùng với việc truyền thông qua các buổi sinh hoạt định kỳ, lồng ghép trong những đợt về nguồn làm công tác xã hội, các cấp Đoàn đã tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của giới trẻ về DS-KHHGĐ. Đặc biệt, hiện nay, tình trạng nạo phá thai trong giới trẻ ngày càng nhiều, thì việc phát huy vai trò của Đoàn trong truyền thông, nâng cao nhận thức cho giới trẻ về tác hại, cách phòng tránh những hậu quả đáng tiếc càng quan trọng. Bên cạnh đó, các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tìm hiểu về giới, kiến thức sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới… luôn thu hút được nhiều bạn trẻ tham gia. Cùng với việc duy trì hoạt động hiệu quả hơn 300 câu lạc bộ “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” với 12.386 thành viên ở 20 xã, phường trọng điểm thì các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và đạo đức lối sống, nhằm xây dựng người thanh niên có bản lĩnh, lý tưởng, sống an toàn, lành mạnh.

Hoàng Bảo

Về đầu trang


“Điểm sáng” về dân số ở bon Sê Rê A, xã Đắk Som,  huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông  

Bằng những cách làm hay, phù hợp với điều kiện thực tế, trên địa bàn tỉnh hiện nay, không chỉ có các thôn người Kinh mà đã có nhiều buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số trở thành những “điểm sáng” trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ). 

Tuyên truyền gắn với hướng dẫn làm kinh tế 

Là một bon nằm ở vùng sâu, vùng xa, với 100% là đồng bào dân tộc thiểu số, những năm gần đây, bon Sê Rê A, xã Đắk Som (Đắk Glong) luôn đạt và vượt mức các chỉ tiêu đề ra và được công nhận 3 năm liền không có trường hợp sinh con thứ 3. Anh K’Loan, chuyên trách công tác dân số của xã cho biết: “Để đạt được những kết quả như ngày hôm nay là nhờ sự quan tâm sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền. Việc tuyên truyền, vận động thực hiện KHHGĐ luôn được tiến hành cùng với việc hướng dẫn những cách thức làm kinh tế như chọn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để dần cải thiện đời sống cho bà con. Chất lượng đời sống được nâng cao đã làm thay đổi nhận thức của bà con trong việc thực hiện KHHGĐ cũng như duy trì bền vững những kết quả đạt được trong công tác dân số”. Anh K’Sạt, người dân trong bon tâm sự: “Nghe theo cán bộ, vợ chồng mình cũng học cách chọn các giống cây trồng cho năng suất cao để đưa vào sản xuất nên thu nhập của gia đình ngày càng tăng, không còn phải lo thiếu ăn, thiếu mặc như trước nữa. Vợ chồng mình lại có thêm điều kiện chăm lo cho con cái được học hành đầy đủ”. Tương tự, nhiều gia đình khác như K’Tem, K’Danh, K’Ba… cũng nhờ sinh ít con nên có điều kiện làm kinh tế, thoát khỏi cảnh nghèo đói. 

“Đi từng ngõ, gõ từng nhà” 

Bon Bu Sốp ở xã Đắk Nia (Gia Nghĩa) hôm nay đã thay đổi trong mọi lĩnh vực đời sống. Điều dễ nhận thấy nhất là các cặp vợ chồng trẻ đều sinh ít con, không còn cảnh gia đình nào cũng “con đàn, cháu đống” như trước đây nữa. Nhiều nhà cũng nhờ đó có điều kiện làm kinh tế nên có của ăn của để, con cái được học hành đến nơi, đến chốn. Người phụ nữ có điều kiện để chăm sóc bản thân và tham gia các hoạt động xã hội ngày càng nhiều. Theo chị H’Sen, cộng tác viên dân số của bon thì chỉ cách đây ít năm, việc sinh nhiều con trong bon còn là chuyện bình thường. Nhà đông thì có từ 5 đến 9 con, nhà nào ít nhất thì cũng phải 4 con. Vì đông con nên nhiều gia đình không lo nổi cho con đi học, làm cho tình trạng kết hôn sớm càng phổ biến hơn. Để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó, địa phương đã đề ra phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” để tuyên truyền, làm cho bà con hiểu rõ ý nghĩa của việc thực hiện KHHGĐ và những lợi ích khi sinh ít con. Bên cạnh đó, địa phương còn chú trọng đưa các dịch vụ KHHGĐ đến tận nơi để tất cả các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận. Chính vì vậy, số lượng người dân thực hiện các biện pháp tránh thai ngày càng tăng. Đặc biệt, hàng năm đều có từ 3 đến 4 trường hợp tự nguyện đi đình sản; 100% phụ nữ mang thai được quản lý tại trạm và các cơ sở y tế khác. Tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh hầu như không còn. Chị H Ngen, một người dân trong bon tâm sự: “Sau khi sinh đứa con thứ hai thì cán bộ dân số đến vận động nên vợ chồng mình đã quyết định không sinh thêm nữa. Cũng nhờ nghe theo cán bộ dân số nên vợ chồng mình có thêm điều kiện về thời gian cũng như sức khỏe để mở rộng việc làm ăn, buôn bán”. 

Huy động cả cộng đồng vào cuộc 

Bon Đắk Blao, thị trấn Kiến Đức (Đắk R’lấp) hiện có trên 70% là đồng bào dân tộc tại chỗ. Trước đây, việc sinh đẻ được bà con xem là tạo hóa ban cho nên tỷ lệ dân số của bon cũng theo đó ngày càng tăng nhanh. Vì vậy, chính quyền địa phương đã đặt ra mục tiêu phải giảm tỷ lệ sinh để góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Để làm được điều đó, địa phương đã xác định, công tác DS-KHHGĐ không chỉ là việc của riêng cán bộ dân số mà là trách nhiệm của tất cả mọi người. Ban dân số xã đã huy động những người có uy tín, nhất là già làng và những người cao tuổi trong bon cùng “làm dân số”, đồng thời thu hút thành viên của các đoàn thể trở thành những cộng tác viên dân số thường xuyên. Nhờ đó, thông qua bất kỳ cuộc họp bon hay sinh hoạt văn hóa nào cũng có thể lồng ghép để tuyên truyền các chính sách về DS-KHHGĐ cho bà con. Đối với lứa tuổi thanh, thiếu niên, cán bộ dân số chú trọng vận động tham gia vào các câu lạc bộ chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên do thị trấn thành lập. Việc tham gia vào các câu lạc bộ này không chỉ cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản để có thể tự chăm sóc mình mà còn truyền đạt lại những kiến thức đó cho các thành viên khác trong gia đình. Đặc biệt, những cặp vợ chồng sinh từ 1 đến 2 con luôn được nêu gương điển hình trong các cuộc họp bon, bình xét gia đình văn hóa… Đồng thời, cán bộ dân số cũng thu hút các cặp vợ chồng này trở thành những “cộng tác viên” dân số nhiệt tình của bon để thuyết phục những cặp vợ chồng khác thực hiện KHHGĐ.  

Có thể nói, với những nỗ lực của ngành Y tế trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền nên nhận thức của xã hội, cộng đồng về công tác DS-KHHGĐ ngày càng được nâng cao. Nhờ đó, mức giảm sinh trên địa bàn tỉnh cũng đã giảm đáng kể từ 28,1%o năm 2004 xuống chỉ còn 22,9%o. Đặc biệt, nhận thức của bà con đồng bào dân tộc thiểu số về chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng như thực hiện KHHGĐ đã có những bước chuyển biến tích cực. Chỉ cách đây vài năm, hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số không mấy quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ, nhưng đến nay đã có trên 58% cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai; trên 60% phụ nữ đến các cơ sở y tế để sinh đẻ, khám và điều trị phụ khoa. Nam giới tham gia thực hiện KHHGĐ ngày càng tăng, thể hiện qua số lượng các ca đình sản nam và tỷ lệ sử dụng bao cao su hàng năm… Những kết quả trên là tín hiệu vui để ngành Y tế dần thực hiện thành công mục tiêu nâng cao chất lượng dân số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.    

Bài, ảnh: Nguyễn Hiền 

Về đầu trang


Ghi nhận công tác dân số KHHGĐ ở Hồng Sơn

Ngay từ đầu năm 2011, xã Hồng Sơn, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận đã chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền DS – KHHGĐ mạnh mẽ bằng nhiều hình thức nhằm tác động sâu sắc trong nhân dân. Công tác truyền thanh được thực hiện thường xuyên trên 9 cụm loa FM trong các bản tin thường ngày, nhất là tuyên truyền lưu động, băng rôn, khẩu hiệu trong các đợt chiến dịch được thực hiện trên địa bàn xã. Chi, tổ hội ở các khu dân cư tổ chức sinh hoạt lồng ghép trong các buổi sinh hoạt nhóm, tổ phụ nữ, đồng thời tổ chức tư vấn chị em trong độ tuổi sinh đẻ tại nhà về các kiến thức DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Nhờ đó người dân hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa tích cực của mô hình gia đình ít con, có ý thức tốt hơn trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, có điều kiện chăm lo phát triển kinh tế gia đình.

Ngoài đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ngay từ đầu năm xã tiến hành củng cố kiện toàn đội ngũ CTV dân số ở các thôn. Qua vận động tìm hiểu, thuyết phục, đến nay đã củng cố được 21 CTV, đảm bảo hoạt động ở các địa bàn 5 thôn trên toàn xã. Cán bộ chuyên trách xã và các CTV hầu hết làm việc rất nhiệt tình, trách nhiệm vì cộng đồng nên công tác này được duy trì tương đối đều và thường xuyên. Các đơn vị liên quan như trạm y tế, mặt trận và các đoàn thể, Ban điều hành thôn luôn tạo mọi điều kiện và có sự phối hợp tích cực trong công tác DS- KHHGĐ. Nhất là trong 2 đợt chiến dịch tổ chức tại xã đã phối hợp vận động đạt và vượt chỉ tiêu, được huyện đánh giá là xã có kết quả chiến dịch khá nhất trong toàn huyện. Các chế độ thù lao cho CTV, bồi dưỡng cho đối tượng thực hiện đình sản, đặt vòng đều được chi trả kịp thời. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng UBND xã quan tâm bồi dưỡng thêm 150.000 đồng cho mỗi ca đình sản, góp phần động viên khuyến khích đối tượng tham gia thực hiện.

Nhờ đó từ đầu năm đến nay, toàn xã vận động được 152/190 ca đặt vòng, đạt 80% kế hoạch, đình sản 5/8 ca đạt 63% kế hoạch. Tỷ lệ giảm sinh hiện nay đạt 0,1% đảm bảo đạt chỉ tiêu đề ra.

Kết quả trên thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của các ngành, các cấp trong việc lãnh, chỉ đạo, vận động đối tượng và nhân dân thực hiện. Theo kế hoạch huyện giao từ nay đến cuối năm, Hồng Sơn phải tiếp tục vận động 38 ca đặt vòng và 3 ca đình sản. Đây là chỉ tiêu phấn đấu không phải khó nếu so với những năm trước đây, nhưng trong tình hình hiện nay chỉ tiêu này là không dễ. Chị Phạm Thị Kiệm - cán bộ chuyên trách DS - KHHGĐ xã cho biết, hiện nay phần lớn chị em trong độ tuổi sinh đẻ đều nhận thức đúng đắn lợi ích của việc KHHGĐ nên cũng chỉ muốn sinh từ 1 đến 2 con để lo làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Thế nhưng khi lựa chọn biện pháp tránh thai, hầu hết đều sử dụng thuốc viên, tiêm cấy dưới da hoặc sử dụng bao cao su là chính. Những đối tượng này rất ngại thực hiện đặt vòng và đình sản nên việc vận động thực hiện biện pháp này là rất khó khăn. Thực tế từ đầu năm đến nay toàn xã đã có 227/210 đối tượng sử dụng thuốc tránh thai đạt 108%, 85/85 đối tượng sử dụng thuốc tiêm đạt 100%.

Nhật Hiền

Về đầu trang


Cánh chim đầu đàn trong công tác DS - KHHGĐ

Với những thành tích và sự nỗ lực của cán bộ làm công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ), nhiều năm qua Trung tâm DS – KHHGĐ huyện Than Uyên , Lao Cai được Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh đánh giá là cánh chim đầu đàn trong công tác DS - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh.

Những năm trở lại đây quy mô dân số trên địa bàn huyện Than Uyên tương đối ổn định, tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên hàng năm giảm từ 1,5 - 2%, số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) hàng năm tăng 2 - 3%.

Hiện nay, huyện Than Uyên có 12 trạm y tế xã, thị trấn. Trong đó có 7 trạm đạt chuẩn quốc gia về y tế, 12 cán bộ dân số, kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) chuyên trách và 175/162 cộng tác viên DS-KHHGĐ ở 100% thôn, bản. Mặc dù tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên địa bàn giảm song vẫn còn cao, ở một số xã vẫn còn tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống...

Để thực hiện tốt kế hoạch đề ra, Trung tâm DS-KHHGĐ huyện chủ động phối hợp với các ban, ngành, địa phương đa dạng hóa công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: lưu động, trên hệ thống loa truyền thanh, cấp phát tờ rơi, truyền thông lồng ghép trong các kỳ sinh hoạt Đoàn, Đội, trong các buổi họp ở các khu dân cư, các ban, ngành, đoàn thể. Đặc biệt trung tâm đã tham mưu đưa tiêu chí thực hiện công tác DS - KHHGĐ vào quy ước, bình xét tiêu chuẩn khu phố, thôn bản văn hóa, chi bộ trong sạch vững mạnh, khen thưởng hàng năm; xử lý, kỷ luật cán bộ, đơn vị vi phạm chính sách DS - KHHGĐ...

Mặt khác, tăng cường tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng truyền thông cho đội ngũ cộng tác viên DS-KHHGĐ ở cơ sở nhằm giúp họ có khả năng tuyên truyền tốt nhất.

Với phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, trong đó chú trọng đến các cặp vợ chồng sinh con một bề, đội ngũ cộng tác viên luôn bám sát các khu dân cư, nắm bắt nguyện vọng, tìm hiểu thực tế, đến từng gia đình trong độ tuổi sinh đẻ, từ đó tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về chính sách DS-KHHGĐ với việc phát triển kinh tế gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản theo phương châm “DS-KHHGĐ vì sức khỏe, hạnh phúc của mỗi gia đình và sự phát triển bền vững của đất nước”. Tăng cường phối hợp với Đội sức khỏe sinh sản, các trạm y tế kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ dân số ở cơ sở, cập nhật thông tin, thống kê báo cáo, theo dõi biến động dân cư...

Cùng với thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ, Trung tâm DS - KHHGĐ huyện thường xuyên phối hợp với trung tâm y tế, trạm y tế các xã, thị trấn tổ chức tốt các đợt chiến dịch đưa dịch vụ KHHGĐ đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và tổ chức giám sát chiến dịch có hiệu quả.

Trao đổi với chúng tôi, bà Trần Thị Oanh - Quyền Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Than Uyên cho biết: "Để thực hiện được mục tiêu giảm sinh và nâng cao chất lượng dân số trong thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục xây dựng kế hoạch, tham mưu cho lãnh đạo huyện đề ra những biện pháp, chế tài xử phạt mạnh hơn nữa nhằm  hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 để bình ổn quy mô dân số, từ đó dần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân".

Với những kết quả và sự nỗ lực của cán bộ làm công tác DS - KHHGĐ, nhiều năm qua Trung tâm được UBND tỉnh, Sở Y tế tặng Bằng khen, Giấy khen…

Nguyễn Thúy

Về đầu trang


Thôn 22 năm không có người sinh con thứ 3

Xác định công tác dân số/kế hoạch hóa gia đình là một nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền thôn Bảo Thịnh, xã Minh Bảo, TP Yên Bái đã tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ.

Để công tác DS-KHHGĐ đạt kết quả cao, lãnh đạo thôn đã cùng với ban công tác Mặt trận và cán bộ y tế thôn, cộng tác viên dân số thường xuyên đến vận động các hộ gia đình, đặc biệt là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện mô hình gia đình ít con. Tập trung  tuyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn, họp đoàn thể. Hàng tháng, cán bộ dân số phối hợp cùng Hội Phụ nữ, Trạm Y tế xã tổ chức sinh hoạt, hướng dẫn chị em áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại để bảo vệ sức khỏe, giữ gìn hạnh phúc gia đình.

Cùng với đó, để giúp người dân hiểu hơn về lợi ích thiết thực của việc thực hiện KHHGĐ, cán bộ y tế, dân số của thôn căn cứ vào các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) từ thành phố triển khai đến xã đều vận động các chị em trong độ tuổi sinh đẻ đi khám, tư vấn, chữa trị các bệnh phụ khoa, hướng dẫn chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai và ý nghĩa của việc xây dựng mô hình gia đình ít con. Vì vậy, hàng năm gần 100% các chị em trong độ tuổi sinh đẻ ở thôn đều tham gia các chiến dịch CSSKSS, 100% các cháu trong độ tuổi đều được tiêm phòng đầy đủ các loại vac xin phòng bệnh. Năm 2010, cả thôn có 2 cháu bị suy dinh dưỡng thì đến năm 2011 không còn trường hợp  nào bị suy dinh dưỡng.

Chị Lương Thị Hương, thôn Bảo Thịnh tâm sự: “Mình sinh 2 con đều là con gái,hiện cháu lớn đã học xong lớp 12, cháu  thứ 2 đang học lớp 7. Được cán bộ dân số và Hội Phụ nữ thôn thường xuyên tuyên truyền về công tác CSSKSS, các chính sách dân số, đã giúp mình nâng cao nhận thức về chính sách dân số, không muốn sinh thêm con để tập trung phát triển kinh tế và chăm sóc con cái học hành tiến bộ. Để công tác DS-KHHGĐ đạt kết quả cao, chi bộ thôn Bảo Thịnh đã chú trọng xây dựng những nghị quyết chuyên đề, định hướng cho các đoàn thể và cộng tác viên dân số, y tế thôn, bản thực hiện. Đồng thời lấy đó làm tiêu chí đánh giá phân xếp loại đảng viên.

Nhờ thực hiện tốt khâu tuyên truyền, vận động, đến nay thôn có trên 90% hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa, thôn nhiều năm liên tục đạt danh hiệu thôn văn hóa, chi bộ, các ban, ngành, đoàn thể thôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hiện thôn có trên 60% người dân có mức sống khá và giàu, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7%.

Đường làng ngõ xóm khang trang sạch đẹp, nhân dân đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển kinh tế. Với những kết quả đạt được, thôn Bảo Thịnh đã và đang trở thành thôn có những đóng góp tích cực vào công tác DS-KHHGĐ  của xã Minh Bảo và xứng đáng là mô hình hay cần được nhân rộng.  

   Lê Hương

Về đầu trang


Các gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Ðể chung tay với ngành dân số giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh nan, từ năm 2009, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Ủy ban MTTQVN tỉnh Thái Bình đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải) và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau 3 năm triển khai, mô hình đã góp phần làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói riêng và cả tỉnh nói chung.

Thái Bình vốn là tỉnh đất chật, người đông, ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, toàn tỉnh đã đẩy mạnh quyết tâm hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số, do đó công tác dân số của tỉnh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh lại có chiều hướng gia tăng. Ðể chung tay với ngành dân số giải quyết bài toán nan giải này, từ năm 2009, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Ủy ban MTTQVN tỉnh đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải) và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau 3 năm triển khai, mô hình đã góp phần làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói riêng và cả tỉnh nói chung.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh là do tư tưởng trọng nam, khinh nữ đã ăn sâu, bám rễ trong suy nghĩ, hành động của nhiều người, để thay đổi không phải một sớm, một chiều là có thể làm được. Sự can thiệp của y học hiện đại ngày nay trong việc xác định giới tính thai nhi vô tình lại càng khiến cho tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trở nên đáng lo ngại hơn…

Khó khăn thì vô vàn, nhưng nhờ có sự chỉ đạo thường xuyên của Ủy ban Trung ương MTTQVN, hỗ trợ kinh phí của Quỹ dân số Liên hiệp quốc (Văn phòng UNFA); MTTQ các cấp có ít nhiều kinh nghiệm trong việc lồng gắn chương trình dân số vào nội dung hoạt động; cán bộ mặt trận vốn gần gũi, thân thiết với các vị chức sắc, chức việc, quan trọng hơn cả là nội dung, ý nghĩa của mô hình phù hợp với giáo lý, giáo luật tôn giáo, thiết thực phục vụ xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo" của gia đình giáo dân nên việc tuyên truyền, vận động diễn ra tương đối thuận lợi, nhanh chóng tạo được sự đồng thuận. Ðảng ủy 2 xã làm điểm đã đưa việc tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh vào nội dung Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ xã, kêu gọi cán bộ, đảng viên, các vị chức sắc, gia đình tín hữu công giáo, lương giáo tích cực hưởng ứng.

Ngay sau khi 2 xã điểm thành lập ban điều hành, 4 nhóm sinh hoạt (mỗi xã 2 nhóm, mỗi nhóm 100 thành viên là người công giáo tuổi từ 18 đến 60) cũng được ra mắt. Ðể tranh thủ tiếng nói của các vị linh mục, trùm trưởng xứ họ đạo, chủ nhiệm các nhóm ít nhất phải có một vị chức sắc tôn giáo tham gia. Theo yêu cầu của cơ sở, mỗi xã tiến hành thành lập thêm 4 nhóm, thành phần là người lương giáo, trước là để thu hút nhiều người tham gia, sau là tránh sự phân biệt giữa các tổ chức giáo hội. Tiếp theo đó, tiến hành tổ chức cho các thành viên ký cam kết thực hiện mô hình và tham gia sinh hoạt định kỳ. MTTQ tỉnh thường xuyên hỗ trợ 2 xã tổ chức sinh hoạt nhóm, cử người xuống đôn đốc, kiểm tra, trực tiếp đứng lên mời các vị linh mục, báo cáo viên cấp tỉnh về truyền giảng tại các nhà thờ và hội trường UBND xã.

Trong 3 năm qua, mỗi nhóm tổ chức sinh hoạt được 9 kỳ. Nội dung sinh hoạt xoay quanh những chủ đề chính là: Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, kèm theo là những lời tham vấn, lời khuyên của Giáo hội, của những người làm công tác dân số, mặt trận với đồng bào giáo dân và lương dân hãy tham gia tích cực ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh để nâng cao chất lượng dân số. Các nội dung: Luật Bình đẳng giới, quy định của giáo luật về bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình, chính sách dân số, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, phương pháp xây dựng gia đình hạnh phúc, trách nhiệm của mỗi người trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư… cũng được truyền tải tới học viên.

Không chỉ có hình ảnh minh họa hấp dẫn, tại lớp truyền thông các học viên còn được trao đổi thẳng thắn, thân mật về nội dung bài giảng với linh mục và báo cáo viên, nên nhiều người không phải thành viên của nhóm cũng đến tham dự, có buổi lên tới 600 người. Các lớp về giáo lý hôn nhân được tiến hành thường xuyên, MTTQ in ấn, phát hàng nghìn tờ tài liệu giúp các học viên hiểu thêm về hậu quả của việc mất cân bằng giới tinh khi sinh và tham gia khắc phục.

Không dừng lại ở các giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thực hiện mô hình, MTTQ các cấp còn gắn kết mô hình với các phong trào "Dân vận khéo", xây dựng chùa cảnh, xứ, họ đạo "4 gương mẫu", cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư"… đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu quả làm thay đổi nhận thức và hành vi sinh đẻ có kế hoạch của nhân dân nói chung, đồng bào theo đạo nói riêng. Bình quân trong 5 năm (2004- 2008), tỷ lệ giới tính khi sinh ở xã Nam Hải là 108,8 nam/100 nữ, đến cuối năm 2011, giảm xuống còn 106 nam/100 nữ. Còn ở Ðông Cường, nếu như năm 2007, cấp ủy, chính quyền, MTTQ lo lắng vì tỷ lệ sinh nam nhiều hơn nữ (48 nam/45 nữ), thì sau 3 năm cố gắng, nỗ lực thực hiện mô hình tình thế đã đảo ngược (26 nam/34 nữ). Với toàn tỉnh, tỷ lệ nam/nữ khi sinh cũng có chiều hướng giảm: từ 115/100 (năm 2008) xuống còn 114/100 (năm 2011). Với kết quả đáng mừng này, Trung ương MTTQVN đã chỉ đạo MTTQ tỉnh nhân rộng mô hình này để góp phần cùng ngành dân số khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số hơn nữa.

Thu Hiền

Về đầu trang


Cao Bằng tăng cường đưa công tác Dân số vào hương ước, quy ước thôn, xóm

Việc đưa một số quy định của chính sách Dân số - KHHGĐ vào hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, xóm là việc làm cần thiết để mọi người dân trong cộng đồng cùng tham gia thực hiện tốt chính sách Dân số - KHHGĐ. Những năm gần đây, cùng với việc đổi mới hệ thống pháp luật phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, các hương ước, quy ước của thôn, xóm, bản, làng đã hỗ trợ không nhỏ trong việc thực hiện pháp luật của Nhà nước, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính tự quản trong cộng đồng xã hội.

Tại Cao Bằng, từ năm 1993 đến nay, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định về công tác Dân số - KHHGĐ, được các phương tiện truyền thông đại chúng, các hoạt động truyền thông cộng đồng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong các cấp, ngành, đoàn thể và toàn thể cộng đồng. Trong đó, có sự lồng ghép trong nội dung các Quy định về nếp sống văn hoá trong cộng đồng dân cư; Quy ước nếp sống văn hoá người Mông ở tỉnh; Quy ước nếp sống văn hoá người Dao... Chính sự lồng ghép này đã phát huy thuần phong, mỹ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lý và đạo đức truyền thống của dân tộc, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho cuộc vận động thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ, thực hiện tốt các mục tiêu giảm sinh, giảm sinh con thứ ba trở lên; giảm tình trạng kết hôn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; tư vấn và khám sức khoẻ tiền hôn nhân..., góp phần xoá đói giảm nghèo.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế, như: việc xây dựng hương ước, quy ước ở một số nơi chưa được tiến hành một cách khoa học, nội dung soạn thảo cùng với các quy định mới chỉ là công việc của một tổ chức hay một nhóm người, chưa có sự bàn thảo, thông tin hai chiều về nội dung các quy định cần có sự sửa đổi hoặc bổ sung cho sát với tình hình thực tế của địa phương. Nội dung hương ước, quy ước còn một số hạn chế, chưa phản ánh đúng tình hình, đặc điểm KT - XH, truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán của từng địa phương. Nhất là việc quy định thực hiện chính sách Dân số -KHHGĐ còn chung chung, chưa cụ thể hoá các tiêu chí cần có trong triển khai thực hiện. Những năm qua, việc triển khai xây dựng hương ước, quy ước ở các làng, bản, thôn, xóm đã được tiến hành với sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, có sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể. Ban chỉ đạo UBND các cấp đã tiến hành rà soát chính sửa, bổ sung cho phù hợp với phong tục, tập quán và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Chính sách Dân số - KHHGĐ được đa số bản làng đưa vào hương ước nhưng tiêu chí còn chung chung, chưa thể hiện đầy đủ và cụ thể các yêu cầu cơ bản, như: Dân số là gì? Gia đình là gì? Tại sao phải thực hiện KHHGĐ và thực hiện như thế nào theo đúng quy định của chính sách Dân số-KHHGĐ trong giai đoạn mới.

Công tác dân số - KHHGĐ về bản chất là một cuộc vận động xã hội có liên quan trực tiếp đến các nhóm: Hộ gia đình; Cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ; Nam giới làm chủ hộ gia đình; Vị thành niên, thanh niên, cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và người có uy tín trong cộng đồng. Do vậy trong thời gian tới những quy định về công tác Dân số-KHHGĐ, đặc biệt là các quy định về chế đô, chính sách trong thực hiện Dân số - KHHGĐ khi lồng ghép đưa vào hương ước, quy ước của làng, bản cần cụ thể hơn để các ban, ngành, đoàn thể và mọi người dân dễ hiểu và dễ triển khai thực hiện.

                                       Khánh Duy

Về đầu trang


Nỗ lực nâng cao chất lượng dân số ở Vĩnh Linh, Quảng Trị

Sinh ra những đứa con khỏe mạnh, từ đó nâng cao chất lượng dân số- chất lượng cuộc sống, là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Đề án “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận động phát hiện can thiệp sớm tật, bệnh ở thai nhi và sơ sinh” (gọi tắt là đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh) được triển khai thực hiện từ năm 2009 ở 5 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong và Hải Lăng (Quảng Trị) có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát hiện thai nhi bị dị tật sớm để có các biện pháp can thiệp, điều trị kịp thời, giảm bớt nỗi đau cho gia đình và giảm gánh nặng cho xã hội.

Qua 2 năm triển khai thực hiện, huyện Vĩnh Linh trở thành điểm sáng trong tuyên truyền, vận động phát hiện sớm tật, bệnh ở thai nhi và sơ sinh, tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng “đầu vào” của quá trình dân số, từ đó nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống cho mọi người.

Nhằm nâng cao nhận thức về sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn 19 xã, thị trấn (năm 2010 có 12 xã, thị trấn tham gia, đến năm 2011 có thêm 7 xã, thị trấn tham gia đề án) triển khai thực hiện đề án, Trung tâm Dân số- KHHGĐ huyện Vĩnh Linh phối hợp với Chi cục Dân số- KHHGĐ tỉnh mời giảng viên là các bác sĩ có kinh nghiệm ở trung ương về tham gia tập huấn kỹ năng tuyên truyền, vận động thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho 100% cán bộ dân số, cán bộ y tế xã, cộng tác viên, tuyên truyền viên dân số.

Các hoạt động chiến dịch tuyên truyền thực hiện chính sách dân số- KHHGĐ, các buổi tọa đàm, hội nghị, tư vấn cộng đồng, nói chuyện chuyên đề, lồng ghép tuyên truyền về ý nghĩa, lợi ích của việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh đã thu hút hàng ngàn đối tượng tham gia. Cùng với việc nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về lợi ích của việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh, Trung tâm Dân số- KHHGĐ, Tiểu BQL đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh huyện Vĩnh Linh đã chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng thực hiện siêu âm phát hiện tật, bệnh bẩm sinh cho thai nhi, kỹ thuật lấy máu gót chân để sàng lọc…

Đến nay, các tuyến y tế từ huyện đến xã đều có thể thực hiện các kỹ thuật cơ bản trong sàng lọc trước sinh và sơ sinh, có 80-90% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và 100% phụ nữ đang mang thai ở 19 xã, thị trấn hưởng lợi trên địa bàn huyện đã được tư vấn, tuyên truyền vận động và sẵn sàng tham gia thực hiện đề án. Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh là đơn vị duy nhất đã tiến hành thực hiện kỹ thuật lấy máu gót chân để sàng lọc sơ sinh, được Trung tâm Sàng lọc trước sinh và sơ sinh khu vực miền Trung đánh giá đạt kết quả tốt.

Bác sĩ Lê Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh, người trực tiếp phụ trách chương trình sàng lọc sơ sinh ở Vĩnh Linh, cho biết: Việc sàng lọc tật, bệnh bẩm sinh ở thai nhi và trẻ sơ sinh là công việc khá mới mẻ và lạ lẫm đối với người dân. Thời gian gần đây, rất nhiều thai phụ đã đến Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh để được kiểm tra sức khỏe của người mẹ lẫn thai nhi, siêu âm phát hiện sớm các bệnh như: não úng thủy, thoát vị cơ hoành, thoát vị rốn, dị dạng ở tay, chân, thai vô sọ, khuyết tật ống thần kinh, khuyết tật về tim... từ đó có hướng điều trị và can thiệp kịp thời cho thai nhi.

Tuy nhiên, việc siêu âm phát hiện sớm tật, bệnh cho thai nhi ở Vĩnh Linh vẫn chưa làm được vì thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại đảm bảo yêu cầu. Còn việc triển khai kỹ thuật lấy máu gót chân (sàng lọc sơ sinh) để xét nghiệm sàng lọc các bệnh thiếu men G6PD (gây biến chứng vàng da, dẫn đến biến chứng về não có thể tử vong hay biến chứng thần kinh, chậm phát triển tâm thần, vận động), suy tuyến giáp trạng bẩm sinh (gây chậm phát triển trí tuệ- bệnh down) và tăng sản lượng thận bẩm sinh (khiến bộ phận sinh dục nửa nam, nửa nữ) được Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh thực hiện từ tháng 9/2011.

Chỉ trong vòng 7 ngày triển khai thực hiện kỹ thuật lấy máu gót chân, bệnh viện đã lấy đủ hết số mẫu đề án chuyển về (30 mẫu) để gửi đến Trường Đại học Y dược Huế (Trung tâm Sàng lọc trước sinh và sơ sinh khu vực miền Trung) xét nghiệm, trong đó có 29 mẫu đạt yêu cầu kỹ thuật, được trung tâm đánh giá rất cao. Khó khăn nhất hiện nay trong thực hiện đề án là thiếu máy siêu âm hiện đại để sàng lọc trước sinh và thiếu mẫu lấy máu gót chân để sàng lọc sơ sinh, nên nhu cầu của người dân thì nhiều bệnh viện đành “lực bất tòng tâm”.  

Để đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh mang lại hiệu quả như mong muốn, huyện Vĩnh Linh cần được trang bị đầy đủ phương tiện máy móc, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ nhu cầu khám, siêu âm, xét nghiệm, phát hiện sớm bệnh, tật và có hướng điều trị, can thiệp kịp thời cho thai nhi và trẻ sơ sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

Về lâu dài, để xây dựng và duy trì hoạt động mạng lưới sàng lọc trước sinh và sơ sinh, đảm bảo tất cả các xã, thị trấn trong huyện triển khai sàng lọc trước sinh bằng kỹ thuật siêu âm đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ và sự hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên từ trung ương cho đến tỉnh, huyện và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Có như vậy mới giảm thiểu được các tật, bệnh bẩm sinh đáng tiếc xảy ra, giảm bớt nỗi đau cho gia đình và gánh nặng cho xã hội, góp phần nâng cao chất lượng dân số, nâng cao sức khỏe cho mọi người.

                                                       THANH HẢI

Về đầu trang


Mô hình CLB không sinh con thứ 3 ở Hưng Yên góp phần nâng cao chất lượng dân số 

Nhằm đưa chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ) vào cuộc sống, góp phần giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 và giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh, những năm qua, tỉnh Hưng Yên đã xây dựng và triển khai nhiều mô hình truyền thông có hiệu quả. Tiêu biểu là mô hình Câu lạc bộ “Không sinh con thứ 3” ở các thôn, xã trên địa bàn tỉnh. 

Theo Chi cục DS – KHHGĐ tỉnh trên địa bàn Hưng Yên đã thành lập được gần 300 mô hình “CLB không sinh con thứ 3”. Mô hình này có sự phối hợp giữa Ban DS – KHHGĐ xã với hội phụ nữ, đoàn thanh niên và hội người cao tuổi. Với các hoạt động thiết thực như: tuyên truyền vận động các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện kế hoạch hóa gia đình; tư vấn các biện pháp tránh thai, phòng tránh thai ngoài ý muốn; trao đổi kinh nghiệm về cách làm mẹ an toàn, nuôi con theo khoa học…mô hình CLB không sinh con thứ ba đã góp  phần quan trọng trong việc thực hiện chính sách DS – KHHGĐ và phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương. Ông Vũ Văn Nhạ, Phó Chi cục trưởng Chi cục DS- KHHGĐ tỉnh Hưng Yên cho biết: “Việc thành lập Câu lạc bộ không sinh con thứ 3 là một giải pháp thiết thực góp phần giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3. Vì vậy, thời gian tới, Chi cục sẽ tăng cường phối hợp với các cấp hội phụ nữ và đoàn thể để nhân rộng mô hình này trên toàn tỉnh”. 

Nhận biết được tầm quan trọng của việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, năm 2005, Chi hội phụ nữ xã Trung Hòa (huyện Yên Mỹ) đã thành lập CLB không sinh con thứ 3 ở thôn Nội Tây. Những ngày đầu thành lập, CLB gặp rất nhiều khó khăn trong công tác vận động chị em. Chị Trần Thị Hường, Chủ nhiệm CLB cho biết: “Tranh thủ thời gian vào các buổi tối hay vào những lúc nông nhàn, chúng tôi đến từng nhà, vừa tâm sự vừa giải thích cho các chị em hiểu được lợi ích của việc sinh đẻ có kế hoạch, đẻ ít con. Ban đầu do có nhiều chị em trình độ học vấn còn thấp, mang nặng tư tưởng “trọng nam khinh nữ” nên công tác tuyên truyền, vận động gặp rất nhiều khó khăn”. Ngoài việc đến từng nhà vận động, CLB còn lồng ghép nội dung tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch vào các buổi họp thôn, buổi sinh hoạt của đoàn thanh niên, hội nông dân, hội người cao tuổi để khuyến khích chị em tích cực tham gia. Ngày mới thành lập, CLB chỉ có 15 hội viên tham gia, đến nay, sau 7 năm hoạt động, số hội viên tăng lên 40 người. Định kỳ 3 tháng, CLB tổ chức sinh hoạt một lần. Mỗi lần sinh hoạt theo một chủ đề, với mỗi chủ đề các chị em được phát tài liệu, sách báo để tham khảo, đồng thời các chị trong CLB thường xuyên chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm của bản thân, qua đó giúp chị em trang bị thêm kiến thức về KHHGĐ và chăm sóc gia đình. Đến nay, 100% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở xã đều sử dụng các biện pháp tránh thai, 6 năm liền CLB không có trường hợp nào sinh con thứ 3. Chị Nguyễn Thị Hảo, thôn Nội Tây (xã Trung Hòa, Yên Mỹ), thành viên CLB cho biết: “Từ khi tham gia CLB, tôi đã nhận thức rõ hơn về ý nghĩa thiết thực của việc sinh ít con. Mặc dù vợ chồng tôi sinh được hai con gái, nhưng chúng tôi quyết định không sinh tiếp, vì dừng lại ở hai con, chúng tôi có thêm điều kiện và thời gian để chăm sóc, nuôi dạy con cái tốt hơn”. Tham gia CLB, các chị em không những được tư vấn về kiến thức KHHGĐ, cách xây dựng gia đình hạnh phúc, lối sống văn minh, lành mạnh, phòng chống tình trạng bạo lực trong gia đình, nuôi con khỏe, dạy con ngoan mà còn phát huy được tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Để giúp nhau trong phát triển kinh tế, các chị em sinh hoạt trong CLB đã thành lập tổ tiết kiệm, mỗi tổ gồm khoảng 10 thành viên, mỗi thành viên trong tổ đóng góp 1 triệu đồng/ tháng. Số tiền tiết kiệm được hàng tháng sẽ cho hội viên vay để tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế. Đây chính là một cách làm hay và sáng tạo của CLB “Không sinh con thứ 3” thôn Nội Tây. 

Mô hình CLB “Không sinh con thứ 3” không chỉ được phát triển ở Yên Mỹ mà còn được nhân rộng ra nhiều địa phương khác trên địa bàn tỉnh, trong đó Ân Thi cũng là một điểm sáng về việc thực hiện mô hình này. Được thành lập từ năm 2009, đến nay, CLB  “không sinh con thứ 3” của thôn Gia Cốc (xã Quang Vinh), đã thu hút gần 50 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tham gia sinh hoạt. CLB  đã chủ động xây dựng nội dung, kế hoạch hoạt động cụ thể, phù hợp với từng đối tượng. Theo chị Nguyễn Thị Tuyết, Chủ nhiệm CLB thì nhiệm vụ trọng tâm của CLB là tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho phụ nữ trong thôn về DS – KHHGĐ cũng như tư vấn các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, làm mẹ an toàn, thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại. Tham gia CLB, chị em thường xuyên được cập nhật thông tin về đời sống, xã hội, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như nâng cao kiến thức về KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Với những hình thức tuyên truyền phong phú, đến nay, 100% chị em trong độ tuổi sinh đẻ của thôn đã tự nguyện đăng ký tham gia phong trào xây dựng gia đình theo tiêu chuẩn “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” với phương châm “dù gái hay trai, chỉ hai là đủ”. Nhờ đó cuộc sống của người dân trong thôn từng bước được cải thiện, không còn hộ nghèo. Bên cạnh đó, trẻ em sinh ra có điều kiện được chăm sóc hợp lý về dinh dưỡng, sức khỏe và được tiêm chủng đầy đủ nên không còn tình trạng suy dinh dưỡng… Chị Nghiêm Thị Chín, thành viên CLB  tâm sự: ”Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê thuần nông, nên tư tưởng phải sinh bằng được con trai để nối dõi tông đường luôn thường trực trong tôi. Khi lập gia đình, tôi lại sinh được hai cô con gái. Lúc đó tôi rất chán và có ý định sinh tiếp cháu thứ 3. Biết được tâm lý đó của tôi, các chị em trong CLB đã đến động viên, phân tích điều hơn lẽ thiệt, giúp tôi nhận ra lợi ích của việc đẻ ít con. Từ đó, vợ chồng tôi tập trung vào làm ăn và nuôi dạy hai con học hành. Bây giờ, nhìn thấy các cháu ngoan ngoãn, học hành giỏi giang, vợ chồng tôi thấy rất hãnh diện và tự hào”. 

Câu lạc bộ “Không sinh con thứ 3” có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Trong những năm qua, nhờ hoạt động thiết thực của mô hình Câu lạc bộ không sinh con thứ 3 mà tỷ lệ phát triển dân số và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên toàn tỉnh đều giảm. Số sinh toàn tỉnh năm 2011 là 17.893 trẻ, trong đó có 8.370 trẻ nữ. So với năm 2009 tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh đã giảm mạnh từ 131 nam/100 bé nữ xuống còn 120 nam/ 100 nữ vào năm 2011. Số con thứ 3 trở lên được sinh ra là 1615 trẻ, chiếm 8,5% (tỷ lệ này năm 2009 là  9,2%). Nhận thức của nhân dân chuyển biến rõ rệt, quy mô gia đình 1 đến 2 con được chấp nhận ngày càng rộng rãi, tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế, chất lượng dân số từng bước được nâng cao. Hơn 10 năm nay, tỷ lệ tăng dân số bình quân của tỉnh là 0,5%, thấp hơn bình quân toàn quốc. Tỷ lệ phát triển dân số của tỉnh giảm từ 1,24% năm 2000 xuống còn 0,92% năm 2011. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp KHHGĐ tăng từ 77,1% năm 2000 lên 80% năm 2011, vượt chỉ tiêu đề ra. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, mô hình CLB không sinh con thứ 3 vẫn gặp rất nhiều khó khăn như: các chi phí cho hoạt động của CLB rất hạn chế; tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu bám rễ vào tiềm thức của không ít người dân nên việc tuyên truyền gặp nhiều khó khăn. Hi vọng, trong thời gian tới, nhờ hoạt ddoonhj tích cực các CLB “Không sinh con thứ 3” sẽ được các cấp, các ngành quan tâm hơn nữa để góp phần giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và nâng cao chất lượng dân số. 

VŨ HUẾ 

Về đầu trang


Trưởng thành từ công tác Dân số ở xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Trong số 10 CTV dân số của xã Việt Thống (Quế Võ), chị Nguyễn Thị Ninh là một trong 3 người “mới” nhất. Nhận công tác dân số tại địa bàn 5, thôn Yên Ngô từ năm 2009, chị nhanh chóng tiếp cận các kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chính sách dân số. Qua đó, kết quả dân số trên địa bàn chị phụ trách có chuyển biến rõ rệt, góp phần vào kết quả chung của toàn xã.

Địa bàn số 5, thôn Yên Ngô tương đối rộng với 164 hộ, 698 nhân khẩu. Cũng như các địa bàn khác trong xã, người dân chủ yếu làm nông nghiệp. Công việc làm thêm của phụ nữ là đi chợ, đi gánh gạch cho các công trình xây dựng. Đàn ông thì làm thợ xây, phụ vôi vữa… Ba năm gần đây một số lao động đủ điều kiện tuyển dụng vào làm việc tại các nhà máy trong KCN Quế Võ, số lao động quá độ tuổi tuyển dụng thì làm việc theo thời vụ, mỗi đợt vài ba tháng. Tính ra, số người lao động trong KCN có lúc lên tới từ 60 đến 70% tổng số lao động tại địa phương. Từ đặc thù đó hoạt động dân số gặp không ít khó khăn. Trước đây, việc triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ KHHGĐ thường lựa vào thời điểm nông nhàn - khi cây lúa xanh đồng. Bây giờ muốn tổ chức thành công chiến dịch truyền thông, người làm công tác dân số phải lựa “ba bề, bốn bên”: Ngoài thời điểm nông nhàn, còn phải lựa vào ngày nghỉ cuối tuần, ngoài ra còn phải phù hợp với tiến độ chiến dịch của xã, của huyện… Những thách thức đó đòi hỏi phải làm tốt công tác tuyên truyền và các khâu chuẩn bị phải hết sức chu đáo, khoa học.

Canh cánh những suy nghĩ đó, chị Ninh đã chủ động tham mưu với cấp ủy, chính quyền thôn phối hợp chặt chẽ với ban Mặt trận làng, chi hội phụ nữ và các đoàn thể khác tổ chức thực hiện từng bước của chiến dịch. Vào ngày diễn ra chiến dịch đã thu hút được đông đảo đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ tham gia; các hoạt động dịch vụ luôn kịp thời đã mang lại thành công cho chiến dịch. Đối tượng hưởng dịch vụ hài lòng với chất lượng cũng như sự đa dạng của các biện pháp tránh thai đã tự giác thực hiện chính sách dân số, chấp nhận mô hình gia đình ít con để tập trung phát triển kinh tế.

Ngoài các đợt chiến dịch, chị còn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để gặp gỡ vận động các gia đình sinh con một bề là gái, các cặp vợ chồng trẻ… thực hiện các biện pháp tránh thai, thực hiện giãn cách thời gian giữa hai lần sinh cho phù hợp.

Ba năm trở lại đây, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của địa bàn số 5 đã giảm rõ rệt. Nếu như trước đây, năm nào cũng có 1 hoặc 2, cá biệt có tới 3 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên (trong tổng số từ 10 đến 13 ca sinh/năm), thì ba năm vừa qua chỉ còn 1 trường hợp sinh con thứ 3 ở đối tượng có con bị bệnh bại não. Các cặp vợ chồng trẻ đều tự giác chấp nhận mô hình gia đình ít con, góp phần giảm tỷ suất sinh của toàn xã năm 2011 xuống còn 0.77%, là xã có tỷ suất sinh thấp nhất huyện Quế Võ.

Từ sự nhiệt tình, năng động đó, tháng 4 năm 2011 tại Đại hội Đại biểu Hội phụ nữ xã lần thứ 19, chị đã được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội phụ nữ xã tại nhiệm kỳ 2011-2016. Từ đây vai trò CTV dân số của chị có thêm thuận lợi, song cũng không ít khó khăn bận rộn. Chị tâm sự “Tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ xã hội trên cả hai cương vị là nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ chồng và hai người con. Anh là người đàn ông không nề hà bất cứ công việc gì từ nặng nhọc đến các việc đòi hỏi sự tỉ mỉ chu đáo. Còn hai cháu luôn tự giác trong học tập và  trong công việc trong gia đình”. 

Việt Tâm-Ngọc Mai

Về đầu trang


Yên Mỹ làm tốt công tác dân số - KHHGĐ  

Xóm Yên Mỹ, xã Nghĩa Mỹ, thị xã Thái Hòa (Nghệ An)luôn là địa phương đi đầu trong việc triển khai, thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) với điểm nổi bật là trong suốt 16 năm liền xóm không có người sinh con thứ 3. Xác định được tầm quan trọng của công tác DS - KHHGĐ, những năm qua, Đảng ủy, chính quyền, MTTQ xã rất quan tâm đến công tác này góp phần xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.  

Xóm Yên Mỹ có 70 hộ dân với 302 nhân khẩu chủ yếu làm nông nghiệp. Trước đây đời sống nhân dân trong xóm còn nhiều khó khăn, phần lớn rơi vào những hộ gia đình đông con, tuy lao động vất vả nhưng họ vẫn không thoát khỏi được đói nghèo. Xác định được nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do đông con, cộng với Nghị quyết của Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn năm 1993 về không sinh con thứ ba, Ban chỉ đạo công tác Dân số được củng cố, kiện toàn quyết tâm thực hiện công tác DS-KHHGĐ. 

Với quyết tâm đó, Ban chỉ đạo giao trách nhiệm cho đảng viên trong chi bộ xóm thực hiện trước, kết quả đến năm 1995 đạt 100% đảng viên trong chi bộ không sinh con thứ 3 (có 4 đảng viên trẻ đi đình sản). Khi đảng viên gương mẫu đi trước, làng nước tất sẽ theo sau. Cùng với các biện pháp tuyên truyền rộng rãi, xây dựng các mô hình hoạt động đa dạng, phong phú về công tác DS-KHHGĐ, phát huy vai trò của Hội người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng, tộc trưởng tham gia công tác tuyên truyền vận động, tiến hành thi đua giữa các ban ngành, thông qua các buổi sinh hoạt hàng tháng, quý đều tiến hành bình xét thi đua thưởng, phạt phân minh, rõ ràng... nên công tác vận động người dân thực hiện DS - KHHGĐ luôn đạt kết quả cao. 

Nhận thức của người dân được nâng lên, họ thấy được lợi ích thiết thực của việc sinh ít con để xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con cái trưởng thành, dần xóa bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ. Kết quả của các chiến dịch lồng ghép DS-KHHGĐ luôn đạt và vượt chỉ tiêu; tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai luôn đạt trên 80%; tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh phụ khoa giảm hơn nhiều so với trước đây, có 15 cặp vợ chồng đi đình sản, 50/70 hộ gia đình thực hiện tốt phong trào 5 không 3 sạch... Từ năm 1995 ở Yên Mỹ không còn trường hợp nào sinh con thứ 3 trở lên, thành tích đó được giữ vũng cho đến bây giờ. 

Từ thực tiễn đã xuất hiện nhiều cách làm hay, nhiều tấm gương tiêu biểu. Ở Yên Mỹ chi bộ Đảng của xóm có 12 đảng viên thì cũng chính là 12 cộng tác viên dân số, phụ trách 12 tổ dân số của toàn xóm, đến ngày họp chi bộ hàng tháng, 12 cộng tác viên dân số sẽ báo cáo tình hình tổ dân số mình phụ trách để chi bộ có giải pháp cụ thể. Phát huy tối đa uy tín của những người cao tuổi, tộc trưởng tham gia công tác tuyên truyền vận động tiêu biểu như cụ Trương Văn Tuyển đã 80 tuổi nhưng luôn nhiệt tình, vận động con cháu không sinh con thứ 3 dù trước đó là trai hay gái, tuân thủ đúng, đầy đủ hương ước, quy ước của làng, pháp luật của nhà nước... 

Ông Hoàng Văn Tuất, Bí thư chi bộ kiêm cán bộ Mặt trận Tổ quốc xóm, người đã có trên 20 năm gắn bó với công tác chính quyền cho biết, trước đây Yên Mỹ là một trong những xóm nghèo nhất của xã Nghĩa Mỹ, cuộc sống của người dân vô cùng khó khăn, đời sống văn hóa, tinh thần thấp, tình trạng bạo lực gia đình diễn ra phổ biến. Từ năm 1993 nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo cũng như sự quyết tâm, nỗ lực của toàn chi bộ, các ban ngành liên quan của xóm, nên công tác DS-KHHGĐ tại địa phương luôn đạt kết quả cao, là ngọn cờ đầu của toàn thị xã Thái Hòa trong công tác DS-KHHGĐ, kết quả đó đã đem lại sự thay đổi lớn trong cuộc sống của người dân. Những người làm công tác Dân số đã giúp cho người dân hiểu được nguyên nhân của đói nghèo, vất vả do sinh nhiều con, từ đó người dân tự ý thức được việc mình cần phải làm và họ tự nguyện tìm đến với các biện pháp kế hoạch hóa gia đình...”.

Trên cơ sở những kết quả Yên Mỹ đạt được về DS-KHHGĐ đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của địa phương, đời sống người dân ổn định, thu nhập tăng lên, an ninh trật tự, văn hóa giáo dục được nâng cao. 

Với những nỗ lực và thành tích mà chính quyền và nhân dân Yên Mỹ đã đạt được, năm 2007 Yên Mỹ được UBND tỉnh Nghệ An công nhận là làng văn hóa, UBND huyện Nghĩa Đàn, UBND thị xã Thái Hòa đã trao tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Đặc biệt năm 2011, được UBMTTQ tỉnh Nghệ An trao tặng bằng khen về "Đã có thành tích xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. 

Nguyễn Đăng Hiệp

Về đầu trang


Nhân rộng mô hình Câu lạc bộ vì sức khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên

Toàn tỉnh hiện có 20 Câu lạc bộ Cha mẹ về sức khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên (CLB Cha mẹ về SKSS VTN/TN). Riêng tại TX Sông Cầu, tỉnh Phú Yên địa phương được Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển - một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực DS-KHHGĐ tại Việt Nam thực hiện mô hình thí điểm này có đến 12 CLB. Hình thức sinh hoạt theo mô hình CLB đem lại hiệu quả khả quan trong công tác tuyên truyền SKSS VTN/TN, nên Chi cục DS-KHHGĐ đã triển khai, nhân rộng tại các trường học.

Kết quả điều tra mức độ hiểu biết kiến thức CSSKSS của VTN/TN Phú Yên do Chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên thực hiện so với tỉ lệ điều tra của Tổng cục DS-KHHGĐ: trung bình tuổi kết hôn lần đầu 20,4 tuổi/18,2 tuổi; sự hiểu biết toàn diện về HIV/AIDS 27,9%/42,5%; sự hiểu biết về đồng tính 39,4%/63%; sử dụng internet 8,2%/20%; sử dụng máy vi tính:15%/20%.  

CLB Cha mẹ về SKSS VTN/TN gồm các bậc cha mẹ và con cái sẽ cùng tham gia vào sinh hoạt của CLB với những nội dung: đóng kịch tương tác (có sự giao lưu giữa diễn viên và khán giả), tiểu phẩm, hỏi đáp… từ đó lồng ghép kiến thức, kỹ năng ứng xử tình huống của các bậc cha mẹ, con cái về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho VTN/TN.

Học sinh, sinh viên được xem là một trong những nhân tố quan trọng mà ngành DS-KHHGĐ Phú Yên quan tâm chăm lo SKSS trong dự án Nâng cao chất lượng dân số của tỉnh. Bà Đỗ Thị Như Mai, Phó Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên, nói: “Chúng tôi vừa thực hiện một cuộc điều tra về hiểu biết kiến thức SKSS của VTN/TN Phú Yên. Qua đó cho thấy, kiến thức về mang thai và KHHGĐ, HIV/AIDS của đối tượng này vẫn thấp. Tuy nhiên, khác với VTN/TN cả nước, sự hiểu biết về kiến thức SKSS vùng ven biển lại cao hơn vùng nông thôn; thành thị lại là vùng có hiểu biết về kiến thức này thấp nhất. Trong khi cả nước, kiến thức của VTN/TN hiểu biết theo mức độ giảm dần là thành thị, nông thôn, ven biển. Tôi cho rằng sự khác nhau cơ bản này là do các vùng ven biển Phú Yên như Sông Cầu, Tuy An, Đông Hòa đã triển khai sớm mô hình sinh hoạt CLB Cha mẹ về SKSS VTN/TN”.

Đầu năm 2012, Chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên tư vấn cho Trường cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa và Trường đại học Phú Yên thành lập CLB vì SKSS VTN/TN. Tuy mới đi vào hoạt động, nhưng các CLB này đã có những hình thức sinh hoạt thu hút sự quan tâm của các bạn trẻ. Em Hồ Thanh Nghị, sinh viên Trường cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa, nói: “Tôi cho rằng đây là một hình thức sinh hoạt hiệu quả, nhằm giúp sinh viên có thể cởi mở trong những vấn đề xưa nay vẫn cho là tế nhị như sức khỏe tình dục”. “Việc sống thử đã trở thành một vấn đề mà xã hội đang tranh cãi. Tôi cũng băn khoăn không biết chuyện đó có nên hay không? Thông qua tiểu phẩm Lầm lỡ, cùng với sự trao đổi thẳng thắn giữa sinh viên, tôi nhận ra sống thử là không nên và nếu thật sự yêu nhau thì đến với nhau bằng việc kết hôn cũng chưa muộn”, sinh viên Nguyễn Thị Hoàng Nhi đã chia sẻ trong buổi sinh hoạt đầu tiên của CLB vì SKSS VTN/TN Trường cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa.

Các kiến thức về giới tính, hệ thống sinh sản, bệnh tâm lý mang tính xã hội lứa tuổi VTN/TN, HIV/AIDS… được các chuyên gia, cùng với sinh viên phân tích, mổ xẻ đến tận cùng của vấn đề đã giúp sinh viên hào hứng khi tham gia sinh hoạt CLB.

Theo bà Mai, hiện nay toàn tỉnh đã có 17 CLB vì SKSS VTN/TN ở các trường đại học, cao đẳng, THPT. Sắp tới, Chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên sẽ tiến hành thành lập 16 CLB ở các trường học, và đến năm 2015, mô hình này sẽ được phủ khắp ở tất cả các trường THPT, THCS và THPT.

TUYẾT TRẦN

Về đầu trang


Công tác Dân số- KHHGĐ ở Ba Bể

Là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước, thời gian qua Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn đã tích cực nâng cao nhận thức cộng đồng về công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, qua đó đạt được những thành tựu nhất định, góp phần cải thiện chất lượng dân số và đời sống xã hội.

Làm tốt công tác dân số, trẻ em sẽ có điều kiện tốt hơn để học hành

Huyện Ba Bể có 10.782 hộ, bao gồm 48.367 người trong đó có 13.475 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Năm 2011 toàn huyện có 2.712 người sử dụng biện pháp tránh thai đạt 104,7% kế hoạch, 6/16 xã nhiều năm liền không có người sinh con thứ 3, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình đã đi vào nề nếp. Đạt được những kết quả đó là do sự quan tâm của cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội, đội ngũ cán bộ dân số từ huyện đến cơ sở.

Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 của huyện, xác định công tác dân số là bộ phận rất quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà, nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về văn hoá, xã hội do đó cấp uỷ, lãnh đạo chính quyền huyện Ba Bể đặc biệt quan tâm đến công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, coi đây là công tác thường xuyên, trọng tâm. UBND huyện đã ra quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch chương trình mục tiêu quốc gia về dân số – kế hoạch hoá gia đình cho các xã, thị trấn, triển khai kịp thời và tích cực hướng dẫn chỉ đạo, đôn đốc các hoạt động của từng chương trình truyền thông dân số – kế hoạch hoá gia đình, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ban Dân số – kế hoạch hoá gia đình các xã, thị trấn tổ chức triển khai thực hiện kịp thời thuận lợi và đạt hiệu quả.

Mặt khác công tác tuyên truyền, giáo dục chuyển đổi hành vi được Ba Bể đặt lên hàng đầu, bởi lẽ là huyện nghèo, trình độ dân trí còn hạn chế nên công tác tuyên truyền phải thực hiện nhiều hơn, sâu hơn, rộng hơn... bằng nhiều phương pháp khác nhau, áp dụng đối với những đối tượng cụ thể qua đó nâng cao nhận thức của người dân về công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hoá gia đình. Trung tâm Dân số – kế hoạch hoá gia đình phối kết hợp với Trung tâm y tế, Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Huyện đoàn xây dựng mô hình câu lạc bộ, tuyên truyền pháp lệnh dân số, luật hôn nhân và gia đình trên các địa bàn dân cư.

Đặc biệt từ tháng 7 đến tháng 10 triển khai 16 chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình đến vùng đông dân vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông trực tiếp, tư vấn vận động đối tượng tại nhà. Trung tâm Dân số kế hoạch hoá gia đình đã phối hợp với Trung tâm Y tế huyện cử đội dịch vụ lưu động đến thực hiện các dịch vụ y tế về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình cho các đối tượng trong chiến dịch tại xã. Đội ngũ thầy thuốc vừa thực hiện dịch vụ kỹ thuật vừa làm tốt công tác tư vấn, tuyên truyền cho các đối tượng đến nhận dịch vụ tại chiến dịch, vì vậy 2 gói dịch vụ kế hoạch hoá gia đình và gói viêm nhiễm đường sinh sản được phổ biến rộng rãi tại 16/16 xã trong đó có 11 xã nằm trong chiến dịch triển khai của tỉnh, 5 xã còn lại do huyện chi ngân sách hỗ trợ, thu hút đông đảo bà con nhân dân hưởng ứng.

Bên cạnh những mặt đã đạt được công tác dân số kế hoạch hoá gia đình ở huyện Ba Bể vẫn còn những tồn tại cần khắc phục như: Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên chiếm 3,6%, một số địa phương vẫn còn Đảng viên sinh con thứ 3 như xã Khang Ninh, một số xã nhiều năm không có người sinh con thứ 3 trở lên nay có nguy cơ không giữ được phong trào, một số gia đình có điều kiện về kinh tế có xu hướng sinh con thứ 3 trở lên. Tình trạng mất cân bằng giới tính còn ở mức cao và có nguy cơ càng tăng, năm 2010 là 115 nam/100 nữ, năm 2011 tăng lên 129 nam/100 nữ.

Năm 2012 này cũng là năm đầu tiên thực hiện chiến lược dân số và sức khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, để khắc phục những tồn tại trong công tác dân số huyện Ba Bể đang triển khai một số giải pháp cụ thể như tăng cường sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp, tích cực tuyên truyền, vận động và giáo dục chuyển đổi hành vi, nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình và hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành, tăng cường kiểm tra giám sát./.

Duy Khánh

Về đầu trang


Trấn Yên (Yên Bái): Tăng cường giải pháp cho công tác dân số

Với mục tiêu giảm sinh 0,2%o, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 xuống còn 4,8%, tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai, phấn đấu 6 xã không có người sinh con thứ 3 trở lên, năm 2012, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã tăng cường các giải pháp cho công tác dân số.

Đánh giá đúng thực trạng công tác dân số, Trấn Yên đã chỉ rõ những mặt được và chưa được trong công tác này. Nét nổi bật là cấp ủy, chính quyền cơ sở ở Trấn Yên luôn xác định công tác dân số là nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và được đưa vào nghị quyết để tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, đại đa số nhân dân, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đã nhận thức được lợi ích của việc sinh ít con, sinh thưa và tích cực thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) để giãn khoảng cách sinh; chấp nhận qui mô gia đình nhỏ, ít con. Năm qua, huyện đã có 6 xã gồm: Việt Hồng, Việt Thành, Cổ Phúc, Cường Thịnh, Nga Quán, Minh Quán không có người sinh con thứ 3 trở lên; tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai đạt trên 72%.

Bên cạnh đó, công tác dân số ở Trấn Yên vẫn còn những tồn tại. Một số cấp uỷ, chính quyền cơ sở chưa thực sự quan tâm thường xuyên trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, đôn đốc nên kết quả thực hiện đạt thấp; có nơi hạn chế trong hoạt động phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể liên quan. Việc đầu tư nguồn lực cho công tác dân số chưa thoả đáng; chế độ đãi ngộ cho cán bộ chuyên trách dân số xã chưa bảo đảm nên chưa động viên, khuyến khích được sự năng động cũng như lòng nhiệt tình của cán bộ dân số.

Đáng ngại là kết quả giảm sinh và giảm sinh con thứ 3 trở lên chưa mang tính bền vững, thậm chí có xu hướng tăng trở lại. Tổng tỷ suất sinh, tỷ suất sinh thô, tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên đã giảm nhưng không vững chắc, không đồng đều giữa các xã, đặc biệt ở xã Lương Thịnh vẫn còn trường hợp đảng viên sinh con thứ 3.

Công tác tuyên truyền, giáo dục ở cơ sở hạn chế về nội dung và hình thức; vẫn còn 4/6 cán bộ huyện chưa được tập huấn nghiệp vụ dân số. Nguyên nhân của những tồn tại này là do cán bộ dân số xã, thị trấn đều mới, mặc dù có trình độ nhưng kinh nghiệm công tác còn hạn chế nên ảnh hưởng đến kết quả công việc.

Bên cạnh đó là do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, các xã; tư tưởng trọng nam, khinh nữ, phải có con trai nối dõi vẫn tồn tại; số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ lớn. Không những vậy, việc động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân thực hiện tốt chính sách dân số còn bó hẹp trong qui định, qui chế thi đua - khen thưởng hàng năm nên không động viên được phong trào. Đồng thời, việc lồng ghép công tác dân số cho cán bộ y tế thôn, bản ban đầu do chưa có kinh nghiệm nên công tác tuyên truyền gặp khó khăn.

Để khắc phục những khó khăn, tồn tại, từ đầu năm đến nay, các địa phương của huyện Trấn Yên tiếp tục đưa công tác dân số trở thành nội dung quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát. Công tác tuyên truyền, vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú, tập trung vào các cặp vợ chong trong độ tuổi sinh đẻ chưa áp dụng các biện pháp tránh thai, các cặp vợ chồng đã sinh 2 con gái và vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số, vùng công giáo.

Huyện đang duy trì các mô hình nâng cao chất lượng dân số, xây dựng mới và nhân rộng mô hình thôn, bản, xã không có người sinh con thứ 3 trở lên; đưa chính sách dân số vào qui ước, hương ước thôn, bản. Bên cạnh đó, Trấn Yên mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng an toàn, kịp thời nhằm giảm tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai để giảm sinh và giảm sinh con thứ 3 trở lên.

Huyện đảm bảo đủ phương tiện tránh thai, quản lý chặt chẽ việc phân phối, sử dụng thuốc tránh thai, bao cao su cấp miễn phí và tăng cường tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai; hoàn thiện hệ thống thông tin dữ liệu dân số - KHHGĐ cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin biến động hàng tháng, quí; ứng dụng tin học để quản lý thông tin dân số, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành công tác dân số các cấp.

Trấn Yên còn phát động phong trào thi đua thực hiện tốt chính sách dân số trong toàn huyện; ký giao ước thi đua xây dựng thôn, bản, xã không có người sinh con thứ 3 trở lên. Các thôn, bản, tổ dân phố đưa việc thực hiện KHHGĐ thành tiêu chí bắt buộc trong xây dựng thôn, bản, khu phố, đơn vị văn hoá; động viên kịp thời các đơn vị, cá nhân thực hiện tốt chính sách, hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch, không có người sinh con thứ 3 trở lên...

Ngành chức năng và cấp uỷ, chính quyền tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm chính sách dân số. Các gia đình, thôn, bản, xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị vi phạm chính sách dân số, có người sinh con thứ 3 trở lên không xét gia đình, thôn, bản và không công nhận đơn vị văn hoá. Các chi, Đảng bộ, thôn, bản không chỉ đạo thực hiện hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch về dân số - KHHGĐ và có người sinh con thứ 3 trở lên trong năm sẽ không được xét công nhận Đảng bộ, chính quyền trong sạch, vững mạnh và đơn vị văn hoá.

Bà Nguyễn Thị Hương - Giám đốc Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Trấn Yên cho biết: “Từ đầu năm đến nay, các giải pháp đã được thực hiện, bước đầu tạo chuyển biến quan trọng trong công tác dân số - KHHGĐ. Trung tâm mong muốn, các cấp, các ngành liên quan quan tâm hơn nữa tới đội ngũ cán bộ dân số xã, tạo điều kiện cho họ được hưởng chế độ như công chức cấp xã, được đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Đồng thời tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ dân số cho đội ngũ làm công tác dân số từ huyện đến cơ sở nhằm thực hiện ngày một hiệu quả hơn công tác dân số - KHHGĐ”.

Đào Minh

Về đầu trang


Ngày Dân số Thế giới: 11/7/2012: Tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Hưởng ứng ngày Dân số thế giới 11/7, hôm nay tại Hà Nội, Bộ Y tế phối hợp với Quỹ Dân số Liên hiệp quốc tổ chức họp báo với chủ đề "Tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản". Ông Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ông Dương Quốc Trọng, Tổng Cục Trưởng Tổng cục DS/KHHGĐ; Bà Mandeep K.O'Brien quyền Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam cùng chủ trì cuộc họp báo.

Theo ông Nguyễn Viết Tiến, Thứ Trưởng Bộ Y tế, trong 10 năm qua, công tác DS-SKSS đã đạt được những kết quả quan trọng góp phấn đáng kể vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, quyền năng cho phụ nữ. Xu thế giảm sinh được duy trì và mục tiêu đạt mức sinh thay thế đã được thực hiện; chất lượng dân số được nâng lên; sức khỏe sinh sản được cải thiện (đến năm 2009, tỷ số chết mẹ giảm xuống còn 69/100 000 trẻ sinh ra sống, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm xuống còn 16%o; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống còn 18,9%, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai tăng lên 78%); mạng lưới dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ được củng cố và phát triển (đến nay 98% số xã có Trạm y tế, 55,5% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 65,9% số Trạm y tế xã có bác sĩ, 93% Trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 64,4% thôn, bản có nhân viên y tế, 100% thôn, bản, tổ dân số có cộng tác viên dân số).

Tuy nhiên, công tác Chăm sóc sức khỏe sinh sản của nước ta vẫn còn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: tai biến sản khoa và tử vong mẹ vẫn còn có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng miền; tỷ lệ phá thai, bao gồm cả phá thai ở vị thành niên/thanh niên còn cao; tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, HIV và ung thư đường sinh sản còn cao; Tình trạng quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai, mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục ở vị thành niên/thanh niên có xu hướng gia tăng...

Để góp phần tiếp tục giải quyết các khó khăn, thách thức, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 và đang triển khai đồng bộ trong cả nước với mục tiêu: "Nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em; khống chế tốc độ gi tăng tỷ số giới tính khi sinh; đáp ứng đầy đủ nhu cầu KHHGĐ, duy trì mức sinh thấp hợp lý; tận dụng giai đoạn dân số vàng; thích ứng với giai đoạn già hóa dân số; cải thiện sức khỏe sinh sản, kể cả SKSS vị thành niên/thanh niên; tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; cải thiện chất lượng giống nòi; nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người".

Cũng trong buổi họp báo, Bà Mandeep K.O'Brien quyền Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam cũng nhấn mạnh, chủ đề năm nay hướng tới tiếp cận phổ cập các dịch vụ sức khỏe sinh sản cũng như ghi nhận những công lao của những người cung cấp thông tin, dịch vụ và các nhu yếu phẩm cần thiết khác. Bà cho rằng, tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản có thể phòng chống được hầu hết các trường hợp tử vong mẹ và trẻ sơ sinh. Để đạt được điều này, cần phải tăng cường hệ thống y tế để cải thiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, cụ thể là đầu tư vào đội ngũ cán bộ y tế với các kỹ năng hộ sinh và đảm bảo tiếp cận chăm sóc cấp cứu sản khoa khi có tai biến xẩy ra. Nếu làm tốt biện pháp này, không chỉ cứu sống được rất nhiều người, mà còn cải thiện được hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước. Cuối cùng, Bà cũng hy vọng rằng tất cả chúng ta hãy chung tay tiếp tục những nỗ lực của mình giúp mỗi lần có thai đều là mong đợi, mỗi lần sinh con đều được an toàn và mỗi thanh niên được phát triển hết tiềm năng của mình./.

Mai Hương 

Về đầu trang


Tổ dân phố 12 năm không có người sinh con thứ ba

Đây là kết quả thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình của tổ dân phố 30, phường Quang Trung (T.P Thái Nguyên), đơn vị được Sở Y tế khen thưởng cộng đồng về thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ năm 2011.

Tổ hiện có 75 hộ dân, trong đó có tới 90% là cán bộ, công nhân viên Nhà máy Z159 đang công tác hoặc đã nghỉ hưu. Ý thức của người dân trong tổ về thực hiện dân số, kế hoạch hóa gia đình rất tốt, hiện 52 phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ đều đã được tuyên truyền để sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại phù hợp với tình hình sức khỏe.

Bà Lê Thị Minh Đấu, cộng tác viên dân số Tổ 30 cho biết: Khi tuyên truyền chị em sử dụng các biện pháp tránh thai như đặt vòng, uống thuốc, tiêm thuốc... ban đầu một số chị em ngại dùng nên nói là có bệnh không uống thuốc được hay đặt vòng không hợp, tôi đã mang bao cao su đến tận nhà để phát cho họ và khuyến cáo nên sử dụng biện pháp tránh thai để đảm bảo sức khỏe cũng như tránh được các bệnh phụ khoa. Trong các buổi họp phụ nữ, cựu chiến binh, tổ dân phố hay khi tập văn nghệ... tôi đều lồng ghép tuyên truyền về công tác này để chị em thêm hiểu và tự giác thực hiện. Một thuận lợi là từ năm 2005-2010, bà Đấu vừa làm tổ trưởng dân phố vừa kiêm cộng tác viên dân số nên việc tuyên truyền, vận động các gia đình càng sát sao hơn, được người dân đồng tình ủng hộ. Nay không làm tổ trưởng dân phố nữa, nhưng bà Đấu tiếp tục làm cộng tác viên dân số, hàng ngày vẫn đến vận động các gia đình thực hiện sinh đẻ kế hoạch, nhất là 14 cặp vợ chồng sinh con một bề. Bà Đấu tâm sự: Trong tổ có những gia đình sinh hai con gái nhưng cuộc sống rất hạnh phúc, kinh tế khá giả, trong khi có gia đình có con trai mà cha mẹ không được dựa lúc tuổi già mà luôn phải lo lắng, đau đầu vì không chí thú làm ăn, nghiện hút ma túy...

 Chị Nguyễn Thị Bích Phượng, cán bộ chuyên trách dân số phường Quang Trung cho biết: Phường có 39 tổ dân phố thì Tổ 30 thực hiện công tác này nổi bật hơn cả. Sự nhiệt tình, trách nhiệm của cộng tác viên dân số đã góp phần thay đổi nhận thức của người dân, bởi hiện nay người vi phạm Pháp lệnh Dân số (sinh con thứ ba) chưa có biện pháp gì để xử phạt ngoài việc cắt danh hiệu gia đình văn hóa. Đây cũng là cái khó của những người làm công tác dân số ở cơ sở. Nhưng chúng tôi tin rằng, xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của người dân ngày càng cao, cùng với công tác tuyên truyền của đội ngũ làm công tác dân số từ tỉnh đến cơ sở, công tác DS-KHHGĐ sẽ hiệu quả.

Thu Quỳnh

Về đầu trang


Phú Thọ đồng hành thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về DS/SKSS 

Ngày Dân số Thế giới (11-7) năm nay diễn ra trong bối cảnh nhân loại đã đạt được những tiến triển mới trong nỗ lực điều chỉnh qui mô dân số và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), chất lượng cuộc sống của con người. Tuy nhiên, những thách thức to lớn đang đặt ra phía trước: Hiện nay dân số thế giới đã vượt ngưỡng 7 tỷ người, đẩy thế giới ngày càng vượt xa giới hạn của sự mất cân đối giữa số lượng dân số với khả năng đáp ứng các nguồn lực, dân số với môi trường, với sự phát triển bền vững. Chủ đề Ngày Dân số Thế giới năm nay được Quĩ Dân số, Liên hiệp quốc lựa chọn nhằm tăng cường các cam kết hướng tới tiếp cận phổ cập tới các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản nhằm cứu sống sinh mạng của hàng trăm ngàn phụ nữ mỗi năm bị tử vong do liên quan đến sinh nở, hàng chục triệu phụ nữ bị tàn phế hay di chứng liên quan đến thai sản.

Trong hai thập kỷ qua, cùng với cả nước, Phú Thọ đã và đang nỗ lực thực hiện  các  mục tiêu thiên niên kỷ về dân số/SKSS. Về qui mô dân số, tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm của giai đoạn 1999-2009 là 0,4%; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 7,7% năm 2005 xuống 6,11% năm 2010, tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) ở mức 2,1 con; tỷ lệ tăng tự nhiên dân số 1,2%. Qui mô dân số 1.322.652 người, thấp hơn so với mục tiêu đến năm 2010: 52.348 người.

Về SKSS, các chỉ tiêu đều đạt ở mức cao: Tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý, được duy trì ở mức 98,8%; tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai 3 lần trở lên 97,2%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế đạt 100%; tỷ lệ phụ nữ đẻ được cán bộ y tế đỡ 100%; tỷ số phá thai còn khoảng 20 ca/100 trẻ đẻ sống; tai biến sản khoa giảm xuống còn 0,03%; tỷ số chết mẹ luôn được duy trì ở mức thấp tương đương 10,5 ca/100.000 trẻ đẻ sống; tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi 5,51‰; tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi 6,05‰; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 17,2%.

Mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ được mở rộng và nâng cao chất lượng ở cả 3 tuyến. Tuyến tỉnh có Bệnh viện Phụ sản quy mô 100 giường bệnh, khoa sản Bệnh viện đa khoa tỉnh có 80 giường bệnh, khoa sản Bệnh viện đa khoa khu vực Phú Thọ có 40 giường bệnh, Trung tâm CSSKSS tỉnh. Tuyến huyện: 10 Bệnh viện đa khoa huyện đều có khoa ngoại sản với 20 - 30 giường bệnh và 13/13 Trung tâm y tế đều có khoa chăm sóc SKSS; tuyến xã, 100% trạm y tế có bác sỹ và nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, 100% thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động và 275/277 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

Hệ thống cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ cả 3 tuyến tỉnh, huyện, xã đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Các bệnh viện tuyến tỉnh, 8/10 bệnh viện đa khoa huyện đã đạt tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ sản khoa và cấp cứu sản khoa toàn diện; 100% trạm y tế xã thực hiện được các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ thông thường (đặt vòng, khám chữa phụ khoa), trong đó 72,45% trạm y tế đạt tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ sản khoa thiết yếu cơ bản. Dịch vụ tránh thai ngày càng được mở rộng, đảm bảo tính sẵn có, tiếp cận và sử dụng thuận tiện, an toàn.

Tuy nhiên trong giai đoạn 2012-2015 có nhiều thách thức đặt ra đối với công tác dân số/SKSS. Về mức sinh: Trong 4 năm tới, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hàng năm vẫn tiếp tục tăng do hệ quả của mức sinh cao từ những năm 1976 - 1990. Bên cạnh đó, ý thức thực hiện gia đình qui mô có 1 hoặc 2 con trong người dân chưa thực sự bền vững, tâm lý phải có con trai vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân. Vì vậy, nguy cơ tăng mức sinh trở lại chưa thực sự được loại trừ, mục tiêu giảm sinh vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu ở giai đoạn này. Tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh của Phú Thọ (116,5 nam/100 nữ) đang ở mức cao hơn so với cả nước và xu hướng sẽ còn tiếp tục tăng nếu như không có những giải pháp hữu hiệu. Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn đến những hệ quả khó lường đối với gia đình và xã hội, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội và cản trở việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai. Chất lượng dân số còn nhiều hạn chế về sức bền, chiều cao và cân nặng; tuổi thọ tăng (71,95 tuổi) nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp (58,2 tuổi); tỷ lệ người khuyết tật cao; tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn, kỹ thuật còn thấp. Tình trạng sức khỏe bà mẹ còn nhiều thách thức. Tỷ lệ phá thai và vô sinh còn cao; tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV và ung thư đường sinh sản chưa được kiểm soát. Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục ở nhóm vị thành niên/thanh niên (VTN/TN) chưa được quan tâm đúng mức; tình trạng quan hệ tình dục không an toàn, mang thai, nạo phá thai, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm tuổi này còn khá phổ biến và có xu hướng tăng. Dịch vụ SKSS cho các nhóm đối tượng đặc thù: VTN/TN, nam giới, người cao tuổi chưa sẵn có, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Cung ứng phương tiện tránh thai gặp khó khăn, nguồn cung ứng miễn phí các phương tiện tránh thai giảm mạnh từ năm 2011, trong khi đó đa số người dân chưa sẵn sàng tiếp cận trả phí khi thực hiện các biện pháp tránh thai.

Kế hoạch thực hiện Chiến lược dân số và SKSS của tỉnh giai đoạn 2012-2015 nhằm thực hiện Chiến lược dân số/SKSS Việt Nam, thực hiện mục tiêu 5b- mục tiêu phát triển thiên niên kỷ- đạt được tiếp cận phổ cập sức khoẻ sinh sản vào năm 2015 đã đề ra mục tiêu: Tiếp tục nỗ lực giảm mức sinh, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số, đặc biệt là kiềm chế và giảm dần mất cân bằng giới tính khi sinh, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong tỉnh. Để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch thực hiện Chiến lược đã đề ra 7 nhóm giải pháp cơ bản: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác DS/SKSS các cấp. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền vận động, truyền thông giáo dục thay đổi hành vi. Củng cố, mở rộng mạng lưới, nâng cao chất lượng dịch vụ DS/SKSS; xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách DS/SKSS. Đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế. Chú trọng đào tạo, nghiên cứu và công tác thông tin số liệu. Đầu tư nguồn lực cho công tác DS/SKSS.

Giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu DS/SKSS đó là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự tham gia phối hợp của các ngành, đoàn thể, tổ chức, lực lượng trong xã hội. Ngành y tế, hệ thống dân số dù có nỗ lực bao nhiêu cũng không thể đạt được kết quả nếu công tác dân số không có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và được xã hội hoá. Sự quan tâm đó thể hiện trước hết từ nhận thức sâu sắc về tính xã hội lâu dài, phức tạp của công tác này. Những kết quả mà tỉnh đạt được mới chỉ là bước đầu, công tác dân số cần phải tiếp tục kiên trì, bền bỉ, từng ngày, từng giờ cho đến khi qui mô “Gia đình nhỏ, dù gái hay trai chỉ hai là đủ” trở thành một giá trị, chuẩn mực; chăm sóc SKSS trở thành một nhu cầu được mọi gia đình, mọi người hưởng ứng và tự giác thực hiện, lúc đó công tác dân số/SKSS mới thực sự thành công.

Việt Phương

Về đầu trang


Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thái Bình tuyên truyền, thực hiện chính sách dân số KHHGĐ trong đồng bào công giáo

Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ nên công tác dân số trong đồng bào công giáo ngày càng đạt kết quả cao. Kết quả này góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội toàn tỉnh ngày càng phát triển.

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đặc biệt là việc triển khai thực hiện các chế độ chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo, đời sống của người dân trong tỉnh ngày càng được cải thiện và nâng cao. Số hộ khá, giàu tăng, không có hộ đói, hộ nghèo ngày càng giảm. Thái Bình có dân số trên 1,8 triệu người; trong đó đồng bào công giáo có 107.940 người ở 278/286 xã, phường, thị trấn, chiếm 6,06% dân số trong tỉnh; có 2 vị giám mục, 59 vị linh mục và 81 xứ, 266 họ giáo. Cùng với thành tựu về kinh tế, nhận thức của nhân dân về quy mô gia đình ít con đã thực sự có chuyển biến, chất lượng dân số hiện nay ở tỉnh ta từng bước được nâng lên. Nhận thức của cộng đồng, đặc biệt là các cặp vợ chồng trẻ về quy mô gia đình ít con  đã có chuyển biến rõ rệt. Số sinh và số người sinh con thứ 3 trở lên hàng năm giảm. Số xã, phường, thị trấn, số thôn, làng, tổ dân phố không có người sinh con thứ 3 trở lên ngày càng nhiều…

Tuy nhiên, trong lĩnh vực DS - KHHGĐ tỉnh ta cũng đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn. Kết quả giảm sinh chưa ổn định và thiếu vững chắc; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn cao (11,36% năm 2011), nhất là vùng xa, khó khăn, ven biển và vùng đồng bào có đạo. Chất lượng dân số chưa đáp ứng yêu cầu; các tố chất về thể lực còn hạn chế, đặc biệt chiều cao, cân nặng, sức bền của vị thành niên và thanh niên...

Trước thực trạng trên, Ủy ban MTTQ các cấp đã tích cực phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ, tuyên truyền vận động toàn dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chủ trương chính sách về lĩnh vực Dân số - KHHGĐ.

Cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát động được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng, trong đó có tiêu chí là khu dân cư không có người sinh con thứ ba và làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngoài ra, MTTQ còn phối hợp với ngành Dân số, Văn hóa, Tư pháp xây dựng hướng dẫn liên ngành về việc đưa chính sách dân số, gia đình, trẻ em vào hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố. Đến nay toàn tỉnh hầu hết các thôn làng đã xây dựng được hương ước, quy ước của địa phương, trong đó có những quy định cụ thể về chính sách DS - KHHGĐ, được nhân dân đồng tình và tích cực hưởng ứng. MTTQ phối hợp với Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh tổ chức hội nghị biểu dương các xứ họ đạo tiêu biểu thực hiện tốt công tác DS, CSSK cộng đồng.

Mô hình “Đồng bào công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” được triển khai thí điểm tại 2 xã: Đông Cường (Đông Hưng) và xã Nam Hải (Tiền Hải) được quần chúng nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, trong đó vai trò của các chức sắc tôn giáo trong việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh được đề cao.

Bên cạnh đó, Ủy ban MTTQVN tỉnh phối hợp cùng Chi cục Dân số - KHHGĐ (Sở Y tế) hướng dẫn Ban công tác mặt trận khu dân cư kết hợp với các vị linh mục, ban trùm xứ họ đạo và cấp ủy, chính quyền tổ chức truyền thông, vận động giáo dân thực hiện tốt dự án “Tuyên truyền, vận động truyền thông thay đổi hành vi trong lĩnh vực dân số - KHHGĐ”, dự án VIE/01-P04, xây dựng mô hình “Tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh”, gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào xây dựng “Xứ, họ đạo 4 gương mẫu”.

Nhiều vị linh mục hưởng ứng bằng cách thường xuyên nhắc nhở các gia đình tín hữu thực hiện chính sách dân số -  KHHGĐ thông qua các lớp giáo lý hôn nhân hoặc làm phép cưới, giảng lễ ở nhà thờ. Qua đó, nhận thức của các vị chức sắc, chức việc và đồng bào giáo dân về tầm quan trọng của công tác dân số - KHHGĐ đã được nâng cao. Hàng năm, có 100% xứ, họ đạo đăng ký phấn đấu xây dựng “Xứ, họ đạo 4 gương mẫu”, có trên 55% xứ, họ đạt “4 gương mẫu”.

Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ nên công tác dân số trong đồng bào công giáo ngày càng đạt kết quả cao. Tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 53 xứ họ đạo có từ 3 năm liền trở lên không có người sinh con thứ 3, đặc biệt có một số họ giáo có từ 15 đến trên 20 năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên (họ giáo Phụng Thượng (Kiến Xương) 24 năm; họ giáo Nam Đài (Quỳnh Phụ) 23 năm; họ giáo Lương Cầu (Quỳnh Phụ) 15 năm; họ giáo An Châu (Đông Hưng) 20 năm; họ giáo Đống Cao (Vũ Thư) 16 năm; họ giáo Phù Sa (Thái Thụy) 15 năm… Kết quả này góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội toàn tỉnh ngày càng phát triển.

Bài, ảnh: Mạnh Cường

Về đầu trang


Những kết quả đạt được trong công tác DS-KHHGĐ ở Tân Sơn

Huyện Tân Sơn có 17 xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 68.858 km2; có 19.164 hộ với  81.419 nhân khẩu trong đó phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng là 23.723; tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,27%; đồng bào dân tộc thiểu số 66.315 người chiếm 82 % bao gồm các dân tộc Mường, Dao, Tày, Nùng, Thái, Hơ Mông...

Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông và trồng rừng. Một trong những thách thức lớn trong công tác Dân số – KHHGĐ trên địa bàn huyện trong những năm gần đây đó là tỉ lệ sinh con thứ 3 cao; tỷ số mất cân bằng giới tính cao (năm 2010 là 119 nam/100 nữ, năm 2011 là 126 nam/100 nữ, 6 tháng đầu năm 2012 138 nam/100 nữ). Từ thực trạng và xác định rõ những khó khăn thách thức đặt ra đối với công tác Dân số – KHHGĐ, huyện Tân Sơn đã tập trung lãnh đạo, triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tạo chuyển biến tích cực trong chỉ đạo, thực thi các mục tiêu về Dân số - KHHGĐ.

Trao đổi với chúng tôi ông Hà Mạnh Hùng - Phó Chủ tịch UBND xã, Trưởng ban Dân số- KHHGĐ xã Thu Cúc cho biết: Công tác tuyên truyền vận động người dân thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay là hết sức khó khăn, địa bàn xã Thu Cúc rộng, đường xá đi lại khó khăn, dân cư sống không tập trung, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số; song với Đảng uỷ, HĐND, UBND xã đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác Dân số và thành lập Ban chỉ đạo công tác Dân số tại cơ sở; phân công nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách các địa bàn; đồng thời phối hợp tốt với ban ngành tại địa phương tuyên truyền vận động người dân thực hiện tốt chính sách Dân số - KHHGĐ, nên hàng năm xã đều hoàn thành chỉ tiêu do cấp trên giao.

Ông Bùi Văn Huấn - Phó Chủ tịch UBND huyện, Trưởng ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ huyện Tân Sơn cho biết: Huyện ủy, UBND huyện đã thành lập Ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ với  12 thành viên, ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách các lĩnh vực và địa bàn khác nhau; đồng thời chỉ đạo 100% các xã thành lập ban chỉ đạo công tác Dân số và tiến hành phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; đặc biệt công tác Dân số - KHHGĐ được coi là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá xếp loại thi đua hàng năm; cuối năm Ban chỉ đạo  công tác Dân số - KHHGĐ của huyện đã tổ chức giám sát, kiểm tra các hoạt động của ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ tại cơ sở, mở  hội nghị sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả của ban chỉ đạo. Song song với việc triển khai các hoạt động của ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ; Huyện ủy đã ban hành Nghị quyết chuyên đề số 06/NQ-HU về việc tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc tiếp tục thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ giai đoạn 2012-2015; UBND huyện ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2015; công văn số 218/UBND-TTDS về tăng cường biện pháp thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ ở các xã; trong đó có hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động công tác Dân số - KHHGĐ hàng năm của huyện và xã trên 50 triệu đồng.

Do được sự quan tâm lãnh chỉ đạo kịp thời của cấp ủy Đảng, chính quyền huyện, Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Tân Sơn đã làm tốt công tác truyền thông- giáo dục trên cả diện rộng và chiều sâu, duy trì hoạt động thường xuyên và trong các đợt chiến dịch. Công tác vận động được chú trọng, tranh thủ được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy  Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng. Các CLB dân số và phát triển tại cộng đồng; CLB thanh niên với công tác Dân số - KHHGĐ được duy trì và hoạt động đều đặn; thông qua các hoạt động CLB để tuyên truyền, vận động, giải đáp thắc mắc về các vấn đề  DS/SKSS/KHHGĐ. Trung tâm Dân số- KHHGĐ huyện  còn chú trọng các hoạt động truyền thông trực tiếp, tư vấn, gặp gỡ tại nhà với sự tham gia tích cực của đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên. Đồng thời tập trung các hoạt động trong chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn.

Năm 2012, huyện Tân Sơn có 8/17 xã, thị trấn triển khai chiến dịch “Tăng cường tuyên truyền vận động lồng ghép dịch vụ SKSS/KHHGĐ đến vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn”. Kết quả thực hiện chiến dịch đã tác động không nhỏ tới nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và nhân dân về công tác DS-KHHGĐ, đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện các dịch vụ chăm sóc thai nghén, khám chữa bệnh phụ khoa cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Cụ thể đã khám phụ khoa cho 1.711 lượt người bằng 70% KH, điều trị cho 753 ca mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, khám thai cho 216 người có thai; đặt vòng 346 ca, soi tươi 497 ca bằng 68% KH. Các xã làm tốt là: Xã Kiệt Sơn, Kim Thượng, Văn Luông... Kết quả chỉ tiêu 6 tháng đầu năm toàn huyện đã đạt được:  Tổng số cặp vợ chồng mới sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 5.084 ca, đạt 90,1% KH năm; tỷ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng BPTT hiện đại đạt  60,2%; tổng số trẻ em sinh ra 749 trẻ, tăng 136 trẻ so với cùng kỳ năm 2011; tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên đã giảm 11 trường hợp so với cùng kỳ năm 2011. Trên địa bàn huyện có 3 xã trên 5 năm liền không có người sinh con thứ 3 là xã Kiệt Sơn, Tam Thanh, Lai Đồng;  có 14 khu dân cư trên 10 năm liền không có người sinh con thứ 3  như: Khu Gác 3 (xã Thu Cúc); khu Thử 2, khu Thính, khu Lèn, khu Sận, khu Bương, khu Hoạt (xã Tân Sơn); khu Vắt 2, khu Vường 2, khu Chiềng, khu Đồng, khu Kết (xã Lai Đồng)...   

Hồng Quân

(Chi cục DS - KHHGĐ)

Về đầu trang


Lương Bằng với công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình

Những năm qua, công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình tại xã Lương Bằng (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn) đã có nhiều khởi sắc. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ngày càng nhiều, số người sinh con thứ 3 đã giảm dần.

Để đạt được những kết quả đó là nhờ sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, các cấp hội trên địa bàn đã luôn quan tâm đến công tác dan số - kế hoạch hóa gia đình. Đội ngũ cán bộ dân số, y tế thôn bản, cộng tác viên dân số đã tích cực tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, những kiến thức cơ bản giúp người dân hiểu và có ý thức hơn trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho bản thân cũng như gia đình.

Trong những đợt Trung tâm y tế huyện Chợ Đồn triển khai chiến dịch Chăm sóc sức khoẻ sinh sinh sản - kế hoạch hoá gia đình tại địa phương, xã Lương Bằng luôn phối hợp tổ chức rất tốt. Để chiến dịch đạt hiệu quả cao, xã đã thành lập Ban tổ chức chiến dịch, phân công thành viên đến từng hộ gia đình tuyên truyền động viên chị em đến tham gia. Chị Hoàng Thị Nhâm, thôn Nà Chang cho biết: Năm nào cũng vậy, bà con luôn chờ đợi chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình được tổ chức tại xã nhà. Dịp đó bà con sẽ được được các bác sỹ tư vấn về cách chăm sóc sức khoẻ cho người phụ nữ, cách phòng một số bệnh phụ khoa và được trực tiếp kiểm tra sức khoẻ sinh sản.

Tại Lương Bằng có 15 thôn bản thì có 3 thôn gần 100% là bà con dân tộc Dao, trình độ văn hoá không cao, kiến thức xã hội còn hạn chế, kinh tế còn khó khăn nên các chị em thường không có điều kiện thăm khám sức khoẻ tại các cơ sở y tế. Chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình được tổ chức tại xã là một dịp rất tốt để chị em được chăm sóc và sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại. Trong đợt chăm sóc vừa qua, toàn xã đã có hơn 120 chị em tham gia và có hơn 30 chị em được điều trị, hơn 10 chị em được tránh thai bằng phương pháp đặt dụng cụ tử cung.

Mục tiêu của Ban tổ chức chiến dịch xã Lương Bằng đưa ra là tất cả các chị em trong độ tuổi sinh sản phải được biết đến có chiến dịch tổ chức tại xã và tham gia thăm khám và khi bị bệnh phải thực hiện điều trị. Bên cạnh đó cũng trong đợt chiến dịch này, Ban tổ chức đã tổ chức truyền thông lồng ghép cụ thể là tổ chức chiếu các đĩa DVD về kế hoạch hoá gia đình, tổ chức truyền thông đối với một số đối tượng nhận thức còn kém. Ngoài ra tại các cuộc họp thôn, sinh hoạt phụ nữ, các tổ chức đoàn thể đã lồng ghép các nội dung tuyên truyền về Pháp lệnh Dân số, tuyên truyền truyền thông về vấn đề lựa chọn giới tính khi sinh...

Hiện nay tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi  từ 15 - 49 của xã là 407 cặp. Từ đầu năm đến nay đã có 203 cặp vợ chồng sử dụng đặt dụng cụ tử cung, uống thuốc tránh thai 68 cặp, triệt sản nữ 38 cặp và nhiều biện pháp khác nhằm hạn chế tình trạng sinh con ngoài ý muốn. Do đó 9 tháng năm 2012 xã chưa có trường nào sinh con thứ 3 trở lên.

Thực hiện tốt công tác dân số đã tạo điều kiện cho các hộ gia đình có điều kiện chăm sóc con cái, các cháu có điều kiện học hành được tốt hơn, do đó tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học và đi học chuyên nghiệp tại xã ngày một cao hơn. Riêng trong kỳ thi đại học vừa qua xã đã có 4 em trúng tuyển đợt 1, hiện toàn xã có khoảng 80 người có trình độ đại học. Thực hiện tốt công tác dân số cũng giúp cho các gia đình phát triển kinh tế được tốt hơn, nhiều hộ đã xoá được đói, giảm được nghèo vươn lên làm giàu, góp phần vào sự phát triển chung của xã nhà, đến nay tỷ lệ hộ nghèo ở Lương Bằng chỉ còn 7,8%.

Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình mà đặc biệt là Chiến dịch chăm sóc do Trung tâm y tế huyện Chợ Đồn triển khai thật sự đã giúp chị em phụ nữ- đặc biệt là chị em nông thôn được thuận lợi hơn trong việc được thăm khám sức khoẻ sinh sản, giúp họ mạnh khoẻ hơn tạo điều kiện cho chị em vun đắp hạnh phúc gia đình, phát triển kinh tế góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp./.

Về đầu trang


Hạnh phúc từ CLB “Gia đình hạnh phúc”

Thành lập tháng 6 năm 2002, đến nay, CLB “Gia đình hạnh phúc” xã Hồng Phương (Yên Lạc, Vĩnh Phúc) đã trở thành hạt nhân trong phong trào của phụ nữ xã, đi đầu trong các phong trào thi đua của huyện và là mô hình điểm của tỉnh. Chị Đặng Thị Hến, Chủ nhiệm CLB, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Hồng Phương vui vẻ cho biết: Đã 10 năm nay, 100% hội viên trong CLB không sinh con thứ ba, tỷ lệ hội viên có mức sống khá và giàu đạt hơn 80%, 100 % đạt gia đình văn hóa.

Khi mới thành lập, CLB chỉ có 27 hội viên, tâm lý chị em còn e ngại, mặc cảm với bản thân. Nhưng đến nay, CLB có 29 hội viên, chia làm 3 nhóm tương ứng với 3 thôn: Trung Nha, Phú Phong và Phương Nha, mỗi nhóm có 1 nhóm trưởng và phụ trách CLB là ban chủ nhiệm gồm 5 hội viên. Điều đáng nói là các cặp vợ chồng tham gia CLB không chỉ là những cặp vợ chồng hạnh phúc, CLB thường xuyên vận động những cặp vợ chồng chưa thực sự hạnh phúc. Các buổi  sinh hoạt được tổ chức định kỳ 3 tháng/ lần, với những chủ đề khác nhau, nội dung tập trung tuyên truyền kiến thức pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, luật Hôn nhân- gia đình; bình đẳng giới; chăm sóc sức khỏe bà mẹ- trẻ em, nuôi dạy con ngoan, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình… Qua đó, các hội viên được trang bị những kiến thức xã hội cần thiết, từng bước nâng cao kỹ năng nuôi dạy con ngoan, xây dựng gia đình văn hóa, chống lại bạo lực gia đình. Đặc biệt, phong trào thi đua phát triển kinh tế được CLB chú trọng. Ban chủ nhiệm CLB đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông huyện, tỉnh tổ chức các buổi tập huấn hướng dẫn về cách sử dụng phân bón, trang bị những kiến thức về chuyển giao KHKT trồng trọt và chăn nuôi theo phương pháp mới, hiện đại…Từ đầu năm đến nay, CLB đã tổ chức được 2 lớp tập huấn thu hút 120 học viên tham gia. Sau buổi tập huấn, nhiều học viên đã mạnh dạn áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, hưởng ứng phong trào trồng lúa cao sản, trồng xen canh rau màu, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Không có điều kiện giúp về vốn, các hội viên trong CLB giúp đỡ lẫn nhau dưới nhiều hình thức: giúp đỡ ngày công, cây con giống, phổ biến kiến thức về kỹ năng chuyển đổi KHKT, kỹ thuật chăn nuôi và trồng trọt theo phương pháp mới… Nhiều chị em mạnh dạn vay vốn, mở rộng sản xuất chăn nuôi tại gia đình, thu nhập trên 50 triệu đồng/ năm. Không ít chị em trong CLB đã vươn lên thoát nghèo và làm giàu như chị Nguyễn Thị Hoa, thôn Phú Phong với mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm; chị Lê Thị Thu Thanh, thôn Phong Nha với mô hình kinh doanh thuốc Tây; chị Đỗ Thị Trinh thôn Phong Nha với mô hình kinh tế trang trại VAC…

Một trong những hội viên tiêu biểu trong phong trào phát triển kinh tế và xây dựng gia đình hạnh phúc là chị Nguyễn Thị Tuyết, thôn Trung Nha với mô hình kinh tế kinh doanh thuốc tân dược. Chị Tuyết là một trong những hội viên gắn bó với CLB ngay từ những ngày đầu thành lập. Năm 2004, nhận thấy thu nhập từ làm ruộng nhiều bấp bênh, chị quyết tâm đi học và theo nghề dược. Mặc dù kinh tế gia đình còn khó khăn nhưng được chị em trong CLB động viên, giúp đỡ, chị đã quyết tâm theo đuổi ước mơ. Đến nay, cửa hàng thuốc tân dược của chị phục vụ cho nhân dân toàn xã, mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu đồng. Từ hộ nghèo, chị đã vươn lên trở thành một trong những hộ gia đình khá và giàu của xã. Với tâm huyết của một Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Trung Nha, gắn bó với công tác phụ nữ gần 10 năm, chị thường xuyên giúp đỡ chị em trong CLB về kiến thức nuôi dạy con ngoan, xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng chống bạo lực gia đình và sức khỏe sinh sản. Chị tâm sự: Từ khi tham gia CLB, các chị em trong CLB giúp đỡ chị rất nhiều, thường xuyên trao đổi, chia sẻ về phương thức làm kinh tế, xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc”. Những năm qua, CLB như là ngôi nhà thứ hai của chị.

Trong hơn 10 năm qua, câu lạc bộ “Gia đình hạnh phúc” đã mang lại hạnh phúc thực sự cho hang trăm phụ nữ ở Hồng Phương.

Kim Ngân

Về đầu trang


Công tác vận động đồng bào các tôn giáo thực hiện chính sách DS-KHHGĐ ở Phú Thọ 

Tỉnh Phú Thọ có 2 tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Công giáo với hơn 180.000 tín đồ, chiếm 13,9% dân số toàn tỉnh. Trong đó đạo Công giáo có hơn 113.000 tín đồ, chiếm 8,5% dân số, có 120 cơ sở thờ tự (nhà thờ, nhà nguyện); đạo Phật gần 72.000 phật tử chiếm 5,4% dân số sinh hoạt tôn giáo tại 296 ngôi chùa.  

Bên cạnh 2 tôn giáo chính, trên địa bàn tỉnh còn có đạo BaHa’i và đạo Tin Lành. Trong những năm qua, UBMTTQ tỉnh Phú Thọ và Chi cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình (DS- KHHGĐ) đã tích cực triển khai vận động đồng bào là tín đồ các tôn giáo thực hiện công tác DS- KHHGĐ lồng ghép vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" thu hút được kết quả đáng khích lệ.

 

Cán bộ dân số- kế hoạch hóa gia đình kết hợp với khu dân cư tuyên truyền, vận động người công giáo không sinh con thứ 3 tại xã Chí Đám (Đoan Hùng).

Đặc biệt là vận động và phát huy vai trò của các vị chức sắc các tôn giáo, các dòng họ, những người tiêu biểu trong cộng đồng dân cư tham gia thực hiện công tác DS -KHHGĐ nhằm ổn định dân số, phát triển kinh tế- xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi và sức khoẻ gia đình, xây dựng và củng cố gia đình, mang bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam với các chuẩn mực "no ấm, khoẻ mạnh, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc". Xác định công tác dân số- KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội, hàng năm ngay từ đầu năm Ban Thường trực MTTQ tỉnh đều ra các văn bản hướng dẫn hoạt động công tác tôn giáo cho hệ thống MTTQ và các tổ chức thành viên để phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc tôn giáo thực hiện các chủ trương đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, gắn tổ chức công tác truyền thông DS- KHHGĐ vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư''. Trong đó, đặc biệt chú trọng công tác phối hợp với các tổ chức thành viên tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về các chủ trương, đường lối chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước thông qua nhiều hình thức như tuyên truyền miệng, qua hệ thống truyền thanh, tài liệu, sách báo, hội nghị nhân dân, kết hợp việc thuyết giảng giáo lý kinh sách của các vị chức sắc gắn với công tác DS- KHHGĐ. 

Qua thực tiễn cho thấy hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" được tăng lên rõ rệt, như công tác xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chăm sóc, bảo vệ gia đình và trẻ em, xây dựng gia đình hạnh phúc, thu hút được mọi tầng lớp, lứa tuổi, các chức sắc tôn giáo tham gia. Vì vậy mà chương trình được xã hội hoá cao, mang lại cơ hội tốt cho mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, dòng họ; kinh tế, văn hoá, xã hội được phát triển, đời sống của đồng bào có đạo được cải thiện rõ rệt, tình làng nghĩa xóm được củng cố bền vững. Qua đánh giá, hàng năm luôn có 95% hộ gia đình có đồng bào các tôn giáo cam kết thực hiện các phong trào, có hơn 90% khu dân cư (KDC) đồng bào có đạo tổ chức tốt ngày hội đại đoàn kết, đạt KDC văn hoá và KDC tiên tiến thực hiện tốt công tác DS KHHGĐ, không có người sinh con thứ 3. Nhiều đồng bào các tôn giáo được khen thưởng trong ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư. 

Hàng năm, MTTQ tỉnh hướng dẫn chỉ đạo MTTQ các huyện, thành, thị và các tổ chức thành viên đưa tiêu chí không có người sinh con thứ 3 vào việc bình xét phong trào "Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu cháu thảo hiền" và mở rộng việc tập hợp, phát huy vai trò các vị chức sắc vào làm thành viên, hội viên Hội chữ thập đỏ, Hội khuyến học, Hội nạn nhân chất độc da cam, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức đoàn thể nhân dân ở cộng đồng dân cư. Đồng thời xây dựng cơ cấu hợp lý để các vị chức sắc tham gia vào các hội nghị biểu dương các điển hình tiên tiến; xây dựng cơ cấu hợp lý để các vị chức sắc, chức việc tham gia vào các hoạt động xã hội. Đến nay, nhiều vị chức sắc tôn giáo đã tham gia các tổ chức xã hội, đây là những nhân tố điển hình làm nòng cốt trong công tác vận động tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thực hiện các chiến lược các chính sách về DS- KHHGĐ trên địa bàn tỉnh. Tranh thủ sự ủng hộ của các chức sắc tôn giáo, UBMTTQ tỉnh đưa nội dung tuyên truyền về dân số, sức khoẻ, sinh sản, sức khoẻ tình dục tại cộng đồng theo dự án VNM7PG0002. UBMTTQ tỉnh chọn Cẩm Khê là huyện có nhiều xã công giáo toàn tòng làm điểm triển khai sau đó nhân rộng ra các huyện, xã khác trong toàn tỉnh nhằm thường xuyên thông tin và nâng cao nhận thức về sức khoẻ sinh sản cho đồng bào các tôn giáo. Hàng tháng, hàng quý và 6 tháng đều tổ chức giao lưu giữa các góc truyền thông của các xã, nhằm chia sẻ kinh nghiệm, tổ chức toạ đàm, giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể thao. Qua đó, nâng cao chất lượng và sử dụng dịch vụ sức khoẻ sinh sản, tập trung chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ sơ sinh tại vùng khó khăn đồng bào các dân tộc tôn giáo. Đến nay, xây dựng được 2.947 tổ hoà giải với 13.915 tổ viên, trong đó 10.214 tổ viên là những chức sắc, chức việc trong các tôn giáo… 

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Việt Phương- Chi cục phó Chi cục DS- KHHGĐ cho biết: Hiện nay, Chi cục và các trung tâm thành viên phối hợp với MTTQ các cấp đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền vận động về công tác DS-KHHGĐ lồng ghép vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương, cơ sở, đặc biệt ở vùng có đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo. Đưa các nội dung DS- KHHGĐ vào các lớp tập huấn đối với cán bộ chủ chốt của MTTQ, Trung tâm DS- KHHGĐ, các vị chức sắc tôn giáo, Trưởng dòng họ, Trưởng Ban công tác Mặt trận và những người tiêu biểu trong cộng đồng dân cư nói chung và đồng bào có đạo nói riêng. Đồng thời đưa nội dung công tác DS- KHHGĐ vào quy ước, hương ước làng, vào tiêu chuẩn xây dựng "khu dân cư tiên tiến" coi đó là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá, bình xét công nhận các danh hiệu thi đua trong các phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"… Tuy nhiên, có thực tế vẫn còn tồn tại như: Tỷ lệ sinh con thứ 3 ở khu vực các đồng bào công giáo vẫn còn cao, do nhiều nguyên nhân như người dân hạn chế trong sử dụng các biện pháp tránh thai, khi mang thai lại để sinh, có những trường hợp cố ý sinh con lần 3 để có thêm con trai, gái hoặc do gia đình có điều kiện kinh tế… 

Trong thời gian tới công tác DS- KHHGĐ trong hệ thống Mặt trận, Chi cục DS-KHHGĐ và các trung tâm thành viên, nhất là trong các vùng đồng bào có đạo trên địa bàn tỉnh, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ như: Thường xuyên thực hiện tốt công tác phối hợp tuyên truyền với các ngành chức năng, vận động cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, các vị chức sắc các tôn giáo hiểu đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGĐ; tăng cường gặp gỡ tiếp xúc, trao đổi với chức sắc các tôn giáo những người có vị trí quan trọng trong tổ chức giáo hội có uy tín và ảnh hưởng lớn trong các tín đồ, phật tử để hiểu biết lẫn nhau cùng nhau bàn bạc, xoá dần khoảng cách để cùng  vận động thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước và các phong trào thi đua yêu nước trong quần chúng tín đồ; quan tâm đến việc xây dựng lực lượng cốt cán là chức sắc các tôn giáo, các già làng, trưởng dòng họ, các quần chúng tín đồ tiêu biểu có uy tín tham gia vào các tổ chức xã hội. Phát triển đoàn viên hội viên trong tín đồ các tôn giáo nhằm bồi dưỡng phát huy những yếu tố tích cực và phù hợp với giáo lý, giáo luật của các tôn giáo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các phong trào, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước, MTTQ phát động. Đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng và triển khai các mô hình như: Kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân; cung cấp dịch vụ gia đình nhằm xác định những thông tin và nhu cầu dịch vụ phục vụ cho đời sống gia đình, cá nhân về các lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ, CSSKSS-KHHGĐ; tập huấn, tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản vị thành niên ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền, vận động, phổ biến pháp luật và các chính sách về DS-KHHGĐ cho tín đồ các tôn giáo, đặc biệt nhấn mạnh về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, đồng thời nghiêm cấm việc chẩn đoán giới tính thai nhi tại các Trung tâm và cơ sở y tế địa phương… Thực hiện giám sát, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm và khen thưởng các tổ chức cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác DS-KHHGĐ. Thông qua các phong trào nhằm sáng tạo nhiều cách làm phong phú về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Phát động toàn dân nêu cao ý thức, động viên, khuyến khích cá nhân, tập thể làm tốt công tác DS- KHHGĐ. Đồng thời yêu cầu chính quyền và các ngành chức năng có biện pháp xử lý nghiêm minh đối với các gia đình và những người vi phạm Pháp lệnh DS- KHHGĐ. Từ đó có giải pháp tuyên truyền vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân địa phương nói chung và tín đồ, chức sắc các tôn giáo nói riêng hiểu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước để thực hiện thật tốt công tác dân số- kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn. 

Ngọc Lam

Về đầu trang


Điểm sáng công tác DS-KHHGĐ khu 5, xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa

Đó là khu 5, xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Khu có 80 hộ và 276 nhân khẩu, bên cạnh nghề truyền thống làm nông nghiệp, trồng rừng, trồng chè gần đây bà con còn phát triển thêm mô hình nuôi ong và may mặc nên kinh tế của khu đã khá hơn rất nhiều. Ở khu 5, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khá cao 48/77 trong đó 45/48 cặp vợ chồng đang sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại. Vì vậy để duy trì thành tích 18 năm liền kể từ năm 1994 đến nay không có người sinh con thứ 3, đặc biệt có 9 cặp vợ chồng sinh con một bề là gái; tỉ lệ nạo phá thai rất thấp, cùng với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền của xã và của khu dân cư, sự  phối hợp chặt chẽ của các ngành, đoàn thể nhân dân khu 5 đã đưa chính sách DS-KHHGĐ vào quy ước, hương ước của khu, coi chỉ tiêu dân số là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xét duyệt các danh hiệu thi đua và xét duyệt các ưu tiên khác. 

Đã nhiều năm tham gia công tác DS-KHHGĐ nên chị Phạm Thị Lan - cộng tác viên dân số của khu hiểu:. Do tâm lý thích có con trai để nối dõi tông đường vẫn ăn sâu trong phần lớn tâm trí người dân nên trong tuyên truyền vận động, chị thường xuyên lồng ghép nội dung DS-KHHGĐ vào các buổi sinh hoạt của các ban, ngành, đoàn thể. Chị còn tranh thủ trao đổi với các nhóm đối tượng ngay cả khi lao động trên thửa ruộng hay nương chè. Chị đã không quản nắng, mưa đến từng gia đình để tư vấn, tuyên truyền, vận động các cặp vợ chồng biết tác hại của việc nạo phá thai và cách lựa chọn biện pháp tránh thai cho phù hợp, đến nay chị vẫn được bà con thôn xóm tin yêu gọi với cái tên "Bác sĩ KHHGĐ". 

Trao đổi với ông Trần Văn Biên - Bí thư chi bộ và ông Lê Văn Phúc - trưởng khu được biết: Để duy trì thành tích không có các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, không sinh con thứ 3, khu phải nỗ lực rất nhiều trong công tác tuyên truyền, vận động bà con chấp hành tốt công tác DS-KHHGĐ, giải thích, tuyên truyền giúp bà con hiểu rõ lợi ích của việc sinh đẻ có kế hoạch. Đồng thời chỉ ra nguyên nhân của sự đói nghèo và lạc hậu một phần là do đẻ nhiều, đẻ mau. Do vậy 9 cặp vợ chồng sinh con một bề của khu đã không có ý định sinh con thứ 3 mà dành thời gian phát triển kinh tế gia đình, cho nên kinh tế cả 9 hộ gia đình đều khá giả, các cháu chăm ngoan học giỏi. Tiêu biểu là gia đình anh chị Quý Hương có hai cháu gái hiện đang theo học tại các trường đại học, kinh tế gia đình anh thuộc diện khá giả của khu. Hiện nay, toàn khu số hộ kinh tế ở mức trung bình trở lên là 71/80 hộ chiếm 88,7%, tỉ lệ hộ nghèo giảm chỉ còn 9/80 hộ chiếm 11,3%; đặc biệt có tới 72/80 hộ đạt gia đình văn hóa chiếm tới 90%. Thành quả mà khu đã đạt được trong những năm qua là không nhỏ. Năm 2001-2005 được UBDSGĐ&TE tỉnh tặng danh hiệu khu 5 năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên; năm 2008-2011 đạt khu dân cư văn hóa cấp huyện.

Hồng Tuyết

Về đầu trang


Tăng cường thực hiện công tác truyền thông về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Cùng với cả nước, chất lượng dân số ở Bắc Kạn đã từng bước ổn định về quy mô, ngày càng được nâng cao. Có được kết quả đó một phần là do thực hiện hiệu quả công tác truyền thông về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình.

Trong 10 năm thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam và chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001 – 2010, Bắc Kạn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,47% (2001) xuống còn 1% (2011); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm xuống còn 3,98% vào năm 2011 (năm 2000 là 8,86%)… Đặc biệt, tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) giảm nhanh, từ 2,61 con/phụ nữ (1999) xuống còn 1,91 con (2011). Như vậy, mức sinh của Bắc Kạn thấp hơn mức sinh của cả nước và thấp hơn mức sinh thay thế (bình quân trong toàn xã hội mỗi cặp vợ chồng có hai con) và là một trong 24 tỉnh, thành phố có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế.

Tuy nhiên, công tác dân số ở tỉnh Bắc Kạn vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như: Mức sinh thấp nhưng thiếu bền vững, tiềm ẩn việc gia tăng trở lại; tỷ số giới tính khi sinh tăng từ 102 năm 2009 lên 117 bé trai trên 100 bé gái năm 2011. Bên cạnh đó, chất lượng dân số của tỉnh còn thấp, thể hiện ở các chỉ số như tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, thu nhập bình quân đầu người thấp, tình trạng trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng năm 2011 là 23% cao hơn cả nước (16,8%).

Ngoài ra, vẫn còn tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống; còn nhiều phụ nữ chuẩn bị kết hôn hoặc trước khi sinh chưa được tư vấn và khám sức khoẻ để ngăn ngừa những yếu tố có nguy cơ cao ảnh hưởng trực tiếp đến sự mang thai và chất lượng bào thai. Trẻ sơ sinh chưa được phát hiện và can thiệp điều trị sớm các bệnh chuyển hóa, di truyền... Đây là những thách thức đặt ra cho chương trình dân số hiện nay và những năm tiếp theo.

Trước thực tế đó, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh xác định cần tăng cường công tác truyền thông, triển khai các nội dung tuyên truyền tới từng nhóm đối tượng, từng độ tuổi, từng vùng, từng dân tộc, nhất là ở vùng sâu, vùng xa có mức sinh cao. Thực hiện phương châm xã hội hóa công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, tỉnh Bắc Kạn đã huy động sự tham gia của các lực lượng xã hội trong công tác tuyên truyền, phối hợp lồng ghép mục tiêu dân số với phát triển thông qua các hoạt động và chương trình công tác của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội.

Bên cạnh đó, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân về thực hiện mô hình gia đình nhỏ, ít con để có cuộc sống ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và được đông đảo nhân dân trong tỉnh đồng tình hưởng ứng. Hoạt động truyền thông, tư vấn tại cộng đồng, sinh hoạt câu lạc bộ thuộc các nhóm đối tượng phụ nữ, thanh niên, nông dân... đã phát huy hiệu quả tốt. Đồng thời, công tác Dân số - KHHGĐ cũng được đưa vào hương ước, quy ước của địa phương khi triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, từ đó được nhân dân đồng tình hưởng ứng.

Đặc biệt, các chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách ưu tiên, trợ giúp cho các đối tượng khó khăn được quan tâm hơn đã tác động đáng kể đến nâng cao chất lượng dân số, ổn định xã hội. Đi đôi với đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Dân số - Kế hoạch hóa gia đình với các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã mang lại hiệu quả, đã phát huy được khả năng, thế mạnh của mỗi bên trong việc lồng ghép chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình với chương trình hoạt động thường xuyên của các đơn vị phối hợp.

Do vậy, công tác này đã từng bước thu được những kết quả đáng phấn khởi, người dân đã có nhận thức đúng đắn về lợi ích của việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, mô hình gia đình ít con, khỏe mạnh được được xã hội chấp nhận và được coi là một chuẩn mực của gia đình văn hóa. Bên cạnh các hoạt động truyền thông thì việc nhân bản và phân phối những sản phẩm truyền thông của Trung ương đã được Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh thực hiện, phù hợp với đặc thù của địa phương, nhận thức và phong tục tập quán của người dân; các trang thiết bị truyền thông phát huy được hiệu quả, hỗ trợ cho các hoạt động truyền thông ở tuyến cơ sở.

Có thể nói, công tác truyền thông về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở Bắc Kạn trong những năm qua được triển khai đồng bộ, thường xuyên ở cả 3 tuyến: tỉnh, huyện và xã. Các kênh truyền thông được vận dụng phong phú, hiệu quả; các hình thức tư vấn trực tiếp được chú trọng, lực lượng tham gia hoạt động truyền thông là những tuyên truyền viên, cộng tác viên dân số cơ sở...

Trong giai đoạn 2011 – 2015, Bắc Kạn xác định chuyển trọng tâm từ các hoạt động nhằm giảm mức sinh sang ưu tiên các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo nội dung của Chiến lược Dân số - Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011 – 2020. Do đó công tác truyền thông giáo dục về chăm sóc sức khỏe sinh sản cần được chú trọng thực hiện. Để thực hiện được nhiệm vụ này cần sự vào cuộc của cơ quan Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội cùng tham gia vào công tác truyền thông./.

Vi Ngân

Về đầu trang


 

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 Đ/c Huỳnh Đảm
 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương 
MTTQ Việt Nam
 

Đ/c Vũ Trọng Kim
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

 

 

 

 

 

 

Kết quả thực hiện Quy chế phối hợp giữa Chủ tịch Nước và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2008

Làm việc với Ðoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương  MTTQ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để ngăn chặn suy giảm kinh tế, phát triển bền vững

Hội nghị liên tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 
 
 
 
 
 
 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn