|
Sự sáng tạo trong
hoạt động tuyên truyền vận động của các chức sắc trong công tác Dân
số - Kế hoạch hoá gia đình ở Thái Bình và Hưng Yên
Qua các con số thống kê và ý kiến của
người dân cho thấy, nhiều người dân quan tâm về vấn đề mất cân bằng
giới tính khi sinh và hưởng ứng việc triển khai các mô hình “Gia
đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính
khi sinh” và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham gia khắc phục
tình trạng Mát cân bằng giới tính khi sinh”. Việc triển khai các mô
hình là nhu cầu cấp thiết và biện pháp hữu hiệu cho việc giảm thiểu
mất cân bằng giới tính khi sinh. Tổ chức triển khai thí điểm tại địa
bàn 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình là phù hợp.
Xuất phát từ nhu cầu
thực tế đặt ra trong cả nước nói chung và tình hình mất cân bằng
giới tính khi sinh tại Hưng Yên và Thái Bình cùng với nhu cầu ứng
dụng mô hình nói riêng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA)
tiến hành khảo sát, xây dựng mô hình. Từ đó phối hợp với Mặt trận Tổ
quốc cùng Giáo hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên, tại Thái Bình là vận
động sự ủng hộ của tòa Giám mục Thái Bình để triển khai thực hiện mô
hình “Gia đình Phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng
giới tính khi sinh” tại các xã điểm Đại Đồng và Chỉ Đạo của huyện
Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và mô hình “Gia đình tín đồ Công giáo tham
gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại xã
Đông Cường (Đông Hưng), Nam Hải (Tiền Hải), tỉnh Thái Bình. Trong đó
nhấn mạnh đến vai trò của các chức sắc tôn giáo trong việc phối hợp
với Mặt trận Tổ quốc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi
sinh. Cụ thể, tại Hưng Yên, trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô
hình, Ban Thường trực, Ban Chỉ đạo các Tăng Ni đã có những cách làm
sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ (trụ trì chùa Nôm, xã Đại Đồng)
đã chủ động liên hệ mời cán bộ Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia
đình tỉnh Hưng Yên về giảng dạy trực tiếp những nội dung liên quan
đến vấn đề mất cân bằng giới tính cho các tín đồ Phật tử. Tại buổi
tuyên truyền đã có 150 Phật tử tham gia nghe giảng. Bên cạnh đó, trụ
trì của các Chùa cũng thường xuyên lồng ghép nội dung về mất cân
bằng giới tính vào các buổi thuyết pháp, giảng đạo cho tín đồ trong
các ngày lễ. “Thầy Huệ rất nhiệt tình. Tiếng nói của thầy rất có uy
tín. Thầy bận nhiều việc nhưng báo trước thì thầy cũng đi cùng “Các
vị chức sắc ở xã hiện giờ mới có chùa vân Ổ là sư Tiến, chùa Đại Từ
có sư Giang, chùa Lộc Thượng thì có sư Từ nhưng sư Từ thì cũng chưa
được nhập khẩu ở chùa, cũng toàn đi học. Còn sư Tiến, sư Giang và
thầy Huệ đây thì rất tích cực. Như hôm buổi lễ Vu Lan trên Vân Ổ,
các sư cũng lồng ghép tuyên truyền, và còn tặng cho mỗi Phật tử một
quyển sổ có những lời nói của Chùa dạy, cũng hay lắm. Còn ở chùa Nôm
này thì thầy Huệ tổ chức vào ngày mùng 4 nói chung Phật tử cũng đông,
có thể tuyên truyền. Các vị chức sắc nhiệt tình, thầy Huệ chỉ đạo
thì mọi người đều nghe theo. Kể cả Phật tử lẫn các chức sắc thuộc
quản lý của thầy. Tại Thái Bình, những buổi thuyết giảng không chỉ
được lồng ghép tại các buổi sinh hoạt do UBMTTQ đề nghị mà còn
thuyết giảng tại các lễ hôn phối cho các vợ chồng trẻ sau khi xây
dựng gia đình. Linh mục Vũ Công Phước đã tổ chức thuyết giảng tại
các lễ hôn phối. Ở các buổi lễ trọng như vậy thu hút người dân tham
gia rất đông đảo. Việc các vị linh mục tổ chức lồng ghép thuyết
giảng các kiến thức về mất cân bằng giới tính sẽ thuận lợi và đạt
hiệu quả cao.
“Các kiến thức liên quan đến mất cân
bằng giới tính được lồng ghép vào các buổi lễ khá nhiều, kết hợp so
sánh với các giáo lý giáo luật, kiến thức đời như vậy thì mình là
con cái của chúa cần phải hiểu sâu hơn. Số lượng người vào những
ngày đông nhất thì phải hơn 1000 người đến dự. Khi vào phần quan
trọng thì có linh mục được nói. Giáo dân phải tuân theo buộc phải
nghe. Ngày chúa nhật chính là ngày học đạo, lời chúa muốn nói với
từng người một. Mỗi một tuần có chủ đề riêng đều có nội dung, ví dụ
về hôn nhân đều có chúa nhật riêng về hôn nhân. Sự chuẩn bị bài
giảng rất vất vả đòi hỏi phải có sự cập nhật thường xuyên. Giáo lý
hôn nhân thì chủ yếu là hôn phối. Còn vào ngày chúa nhật thì nói
trước buổi lễ 15-20 phút. Bài giảng là rất quan trọng. Có những bài
giảng thì được ghi băng, nhưng không bán rộng rãi, chỉ bán ở các cơ
sở chính như các nhà thờ lớn”
Tại các xã thí điểm mô hình trên địa bàn
2 tỉnh và các chức sắc tôn giáo nhận thức và nắm bắt được rõ ràng
mục tiêu của việc thực hiện mô hình. Căn cứ vào mục tiêu của chương
trình, thực tế tình hình địa phương và mục tiêu của Đại hội Đảng bộ
địa phương về công tác dân số, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc của 2 Tỉnh Hưng Yên và Thái Bình đã phối hợp với các Tăng Ni
trụ trì các chùa (ở Hưng Yên), và các linh mục chánh xứ kết hợp với
các chức việc, trùm trưởng các giáo xứ, họ lẻ (tại Thái Bình) để tổ
chức thực hiện.
Phải khải định rằng hoạt động tuyên
truyền Kế hoạch hoá gia đình của các chức sắc đã tạo sự đồng thuận,
ủng hộ và cam kết của các vị chức sắc tôn giáo trong việc giáo dục,
thuyết phục các tín đồ về khắc phục tình trạng mất cân bằng giới
tính khi sinh đạt hiệu quả cao thông qua tổ chức hoạt động của mô
hình và tăng cường năng lực tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận
động nhằm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, đặc biệt là những
vùng có đông đồng bào là tín đồ tôn giáo nhằm chuyển biến nhận thức
của nhân dân về vấn đề này.
Về đầu trang
Mô hình “Gia đình đồng bào Công giáo tham
gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” tại Thái
Bình
Thái Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông
Hồng với diện tích tự nhiên 1.537,8 km2. Trung tâm tỉnh
là thành phố Thái Bình cách Hà Nội 110km về phía đông nam, cách Hải
Phòng 70 km về phía tây nam. Thái Bình tiếp giáp 5 tỉnh, thành phố:
Phía bắc giáp Hải Dương, phía Tây Bắc giáp Hưng Yên, phía Đông Bắc
giáp Hải Phòng, phía Tây giáp Hà Nam, phía Tây và Tây nam giáp Nam
Định, phía Đông là biển Đông. Thái Bình có dân số khoảng 1.780.954
người (919.833 nữ) với 542.465 hộ, tập trung ở 8 huyện. Thành phố,
mật độ gần 1.200 người/km2. Mật độ dân số 1152 người/km2.
Áp lực dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn. Tỷ
số giới tính khi sinh là 111,6/100.
Thái Bình cũng là một tỉnh có nhiều tôn giáo, đồng
bào có đạo chiếm 11% dân số toàn tỉnh. Với mô hình “Đồng bào Công
giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh”
được triển khai thí điểm tại 2 xã: Đông Cường (huyện Đông Hưng) và
xã Nam Hải (huyện Tiền Hải).
Nam Hải có diện tích đất tự nhiên 701 ha, cách trung
tâm huyện 12 km có dân số đông, có khoảng 2.782 hộ với 11.021 nhân
khẩu được chia thành 9 thôn. Tổng số sinh 6 tháng đầu năm 2010: 88
cháu. Tỷ lệ sinh 1,6%. Nhân dân trong xã sản xuất nông nghiệp là chủ
yếu, xã có 2 làng nghề dệt chiếu cói và đan mây tre. Ngoài ra còn
một số nghề đánh bắt cá biển và chế biến nước mắm. Tổng giá trị sản
xuất năm 2010 đạt 102,24 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt
13,2%, thu nhập bình quân đầu người đạt 9,2 triệu đồng. Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trong tiểu thủ công nghiệp, xây
dựng (29,7%), dịch vụ thương mại (18,8%), giảm tỷ trọng nông nghiệp
(49,4%). Hiện nay Nam Hải có 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên
Chúa giáo. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo chiếm 25% dân số trong
xã, có 2 nhà thờ xứ, 3 nhà thờ họ lẻ và 1 đền khấn Vi Xen Tê, 1 nhà
phước, có 1 linh mục quản 2 xứ. Đạo Phật có 5 chùa (Chùa Đông, Chùa
Trung, Chùa An Tứ, Chùa Tây và Chùa An Hạ), 3 đền, có một đại đức
kiêm nhiệm và 4 sư thầy, 4 sư bác, 4 tiểu.
Đồng Cường là địa phương là sản xuất nông nghiệp là
chủ yếu. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,1%. Cơ cấu
kinh tế đang hướng đến giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp, tăng tỷ
trọng kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch
vụ. Giá trị sản xuất bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 16,6 triệu
đồng/ người, tỷ lệ hộ giàu và khá tăng, hộ nghèo giảm xuống còn
11,6%. Đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo chiếm 28% dân số xã với 421
hộ giáo dân với 2029 nhân khẩu. Có 1 giáo xứ, 6 nhà họ lẻ, 1 nhà thờ
xứ. Đạo Phật có 5 chùa 2 đền.
Thực trạng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam, ở địa
phương, hậu quả của việc mất bình đẳng giới và những lời khuyên của
giáo hội công giáo với bà con tín hữu (cùng với quy định của Luật
Bình đẳng giới) để xây dựng gia đình hạnh phúc.
Cả 2 xã đều tổ chức sinh hoạt chuyên đề với 6 nhóm.
Đặc biệt, vào Lễ Chúa nhật cuối tháng 3 và tháng 6, tại nhà thờ giáo
xứ Đông Thành, Thục Thiện, xã Nam Hải; Nhà thờ xứ Đông Khê, nhà thờ
họ Tào Xá xã Đông cường, đã có 1.650 người đến làm lễ và nghe Linh
Mục thuyết giảng và tiếp tục tổ chức sinh hoạt định kỳ nhóm thứ 2
của năm 2009. Chủ đề sinh hoạt về Bạo lực gia đình: Thực trạng và
ảnh hưởng xấu của bạo lực gia đình, những quy định của pháp luật,
Giáo luật về phòng chống bạo lực giao đình cũng như trách nhiệm của
mỗi người trong việc thực hiện xây dựng gia đình không có bạo lực.
Qua tổ chức sinh hoạt nhóm định kỳ lần thứ 3 trong
năm 2009 về tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam và
một số nước, nguyên nhân, hậu quả của nó. Kèm theo là những tham vấn,
lời khuyên của Giáo hội đối với đồng bào Công giáo nói riêng, những
quy định của pháp luật và lời khuyên của cộng đồng nói chung về khắc
phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Ban điều hành đã
đưa ra những phương án và lời khuyên để thực hiện tốt vấn đề dân số
vấn đề gia đình, hành vi bạo lực gia đình, tình hình mất cân bằng
giới tính của mỗi quốc gia, những việc làm góp phần giảm thiểu mất
cân bằng giới tính khi sinh và lồng ghép vào cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào thi
đua yêu nước xây dựng xứ họ đạo 4 gương mẫu của đồng bào Công giáo.
Qua các buổi sinh hoạt đã vận động nhân dân tham gia
thực hiện chính sách dân số, gia đình trong đó có việc thực hiện các
biện pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính tại khu dân cư,
xứ và họ giáo. Việc triển khai mô hình vào 4 nhóm đồng bào không là
công giáo tại các địa bàn triển khai là sự linh hoạt hiệu quả của
Ban điều hành MTTQ tỉnh Thái Bình, không chỉ gây tác động tốt trong
dư luận quần chúng mà còn tạo sự so sánh, nhìn nhận hiệu quả trong
việc rút kinh nghiệm cũng như bổ sung trong quá trình hoàn thiện các
phương pháp thực hiện. Đối với nam nữ thanh niên bên Công
giáo thì Giáo lý quy định trước khi kết hôn phải tham gia lớp học về
Giáo lý hôn nhân, sau khi kiểm tra, đánh giá và được xét cấp chứng
chỉ thì mới được phép kết hôn. Trong cộng đồng Thiên chúa giáo việc
giáo dục đạo đức cũng như quy định về hôn nhân được tiến hành chặt
chẽ nên tỉ lệ ly hôn rất ít. Trong công tác tuyên truyền vận động
dân số- kế hoạch hóa gia đình cần có sự tham khảo cách làm hiệu quả
này. Các lớp về giáo lý hôn nhân được tiến hành thường xuyên, linh
mục phụ trách chuẩn bị tài liệu, cập nhật thông tin phục vụ cho quá
trình học.
Hơn 1 năm thực hiện mô hình, Ban Thường trực Ủy Ban
MTTQ Thái Bình đã tổ chức được 6 lần sinh hoạt định kỳ với những nội
dung khác nhau, có sự linh hoạt và phong phú. Trước mỗi kỳ sinh hoạt,
Ban Thường trực đã trực tiếp trao đổi, mời các vị linh mục đảm nhiệm,
nhiệm vụ mục vụ ở xứ, để họ thuyết giảng tại các nhóm đồng bào Công
giáo, hợp đồng với giảng viên cán bộ Hội phụ nữ, Chi cục Dân số -
Kế hoạch hóa gia đình và MTTQ tỉnh thuyết trình tại các nhóm còn lại.
Trong quá trình thực hiện có sử dụng tài liệu do các giảng viên biên
soạn, Ban Thường trực Ủy Ban MTTQ tỉnh in, phô tô gửi cho hội viên
theo kỳ sinh hoạt cùng với tài liệu của Trung ương cấp trên 2000
cuốn tài liệu và hàng nghìn tờ rơi phát cho hội viên. Công tác thực
hiện mô hình của Ban Điều hành dự án đã có hiệu quả và từng bước đi
vào chiều sâu.
UBMTTQ ngoài việc lồng ghép các hoạt động vào mô hình
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của khu dân cư”, còn có
sự lồng ghép việc thực hiện mô hình hiệu quả vào phong trào thi đua
“Dân vận khéo”. Lồng ghép vào 2 phong trào thi đua xây dựng Chùa
cảnh 4 gương mẫu và Xứ họ đạo 4 gương mẫu. Mô hình giảm thiểu tỉ lệ
mất cân bằng giới tính khi sinh của đồng bào Công giáo được lồng
ghép vào cuộc thi đua này là một thành công lớn và tạo thuận lợi căn
bản cho việc thực hiện.
Qua công tác triển khai đã có 100 % các cơ sở tôn
giáo đăng ký xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu, Xứ họ đạo 4 gương mẫu.
Đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề, hạn chế thấp nhất người sinh con thứ
3. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc sinh con có trách nhiệm
và bình đẳng giới tính khi sinh. Sự lồng ghép linh hoạt vào các
phong trào thi đua đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu
quả trong việc tác động tới nhận thức của nhân dân nói chung và nhóm
đồng bào theo đạo nói riêng.
Một điểm sáng tạo mới tại Thái Bình đó là lồng ghép
vào cuộc vận động thi đua xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu và Xứ họ
đạo 4 gương mẫu trong phong trào thi đua Dân Vận Khéo của tỉnh, nội
dung thi đua có đưa các tiêu chí để góp phần làm giảm tỉ lệ mất cân
bằng giới tính khi sinh tại địa phương, việc lồng ghép có sự linh
hoạt và hiệu quả.
Về đầu trang
Công tác triển khai mô hình điểm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tại
Hưng Yên
Tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng đồng bằng
sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội
- Hải Phòng - Quảng Ninh, là cửa ngõ phía Đông của Hà Nội, Hưng Yên
có 23 km quốc lộ 5A và trên 20 km tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng
chạy qua. Ngoài ra Hưng Yên có quốc lộ 39A, 38 nối từ quốc lộ 5 qua
thị xã đến quốc lộ 1A qua cầu Yên Lệnh và quốc lộ 10 qua cầu Triều
Dương, là trục giao thông quan trọng nối các tỉnh Tây- Nam Bắc bộ (Hà
Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa…) với Hải Dương, Hải Phòng,
Quảng Ninh. Hưng Yên có diện tích 923 km².
Theo số liệu Tổng Điều tra Dân số và Nhà
ở 01/04/2009, Hưng Yên có 1.128.702 người với mật độ dân số 1.223
người/km² bao gồm 1 thành phố và 9 huyện: Thành phố Hưng Yên; các
huyện: Ân Thi, Khoái Châu, Mỹ Hào, Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn
Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ. Hưng Yên có 3 Tôn giáo: Đồng bào theo Công
giáo chiếm 15%, theo Đạo Phật giáo 82% và theo đạo Tin Lành 0,3%.
Công giáo trên địa bàn có 11 linh mục, chịu sự chỉ đạo của 4 Toà
Giám mục (Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình); về Đạo Phật có 1
Ban Trị sự Hội Phật giáo tỉnh. Mỗi huyện, thành phố có 1 Ban Đại
diện Hội Phật giáo huyện.
Huyện Văn Lâm nằm ở phía Bắc tỉnh
Hưng Yên, phía Bắc huyện giáp tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hà Nội,
phía Nam giáp huyện Mỹ Hào và huyện Yên Mỹ, phía Đông giáp tỉnh Hải
Dương, phía Tây giáp thành phố Hà Nội và huyện Văn Giang. Có 11 đơn
vị hành chính, gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 74,42 km2.
Huyện Văn Lâm có tổng diện tích tự nhiên là
74,42km2, trong đó: đất nông nghiệp 4.674,68 ha (chiếm 62,81%), đất
chuyên dùng 1.740,83 ha (chiếm 23,39%), đất ở 709,02 ha (chiếm
9,53%), đất chưa sử dụng 317,66 ha (chiếm 4,27%). Văn Lâm đang phát
triển các khu công nghiệp, đây cũng là huyện có kinh tế đang ngày
càng phát triển.
Xã Đại Đồng có diện tích 8,03km2,
dân số của xã khoảng 9.400 nhân khẩu với 2.400 hộ. định cư ở 9 thôn,
trong đó có 2 thôn đông dân cư là Văn Ổ và Đại Từ. Mỗi năm dân số
tăng khoảng 1,2%, đặc biệt số bé trai sinh ra tăng nhiều và tỷ lệ
người sinh con thứ 3 tăng, chủ yếu tập trung ở những hộ có kinh tế
khá giả hoặc chưa có con trai.
Đại Đồng về cơ bản vẫn là một xã nông
nghiệp, phần đa người dân là làm ruộng. Diện tích canh tác toàn xã
có khoảng 419,16 ha. Theo báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã
hội trong 6 tháng đầu năm 2010 cho biết: tổng giá trị thu nhập của
xã đạt 40.720 triệu đồng; tăng 4.520 triệu đồng so với năm 2009.
Trong đó thu từ nông nghiệp chiếm 40,6%; từ tiểu thủ công nghiệp
27,4% và từ thương mại, dịch vụ chiếm 32%. Như vậy cơ cấu kinh tế
đang có bước dịch chuyển, không chỉ là thuần nông như trước.
Phần lớn người dân trong xã theo đạo
Phật. Đại Đồng có 6 ngôi chùa, trong đó có một chùa được xếp hạng di
tích lịch sử, các ngôi chùa mới xây đều do nhân dân tự nguyện đóng
góp xây dựng. Ngoài ra có một thôn theo Công giáo toàn tòng (thôn
Đình Tổ) với 345 tín đồ. Đặc trưng ở xã Đại Đồng là sự lớn mạnh của
13 dòng họ. Mỗi dòng họ đều có nhà thờ họ riêng. Vai trò của người
trưởng họ có ảnh hưởng rất lớn đến mỗi thành viên trong việc ra
quyết định của các thành viên trong dòng họ.
Xã Chỉ Đạo có dân số khoảng 7449 nhân
khẩu với 1995 hộ là một xã lao động nông nghiệp với 350,90 ha diện
tích đất canh tác. Song trong những năm gần đây, nhiều người dân đã
hướng đến những hình thức lao động khác như: làm công nhân trong các
xí nghiệp, công ty trong khu công nghiệp mới xây dựng; một số người
ra thành phố lao động (sáng đi tối về); nhiều gia đình làm nghề tái
chế...Kinh tế của người dân có phần khá hơn trước. Chỉ Đạo chỉ có
một tôn giáo duy nhất là Phật giáo, chịu sự chỉ đạo của Ban Đại diện
Hội Phật giáo huyện Văn Lâm. Xã có 4 thôn và cả 4 thôn đều có chùa
riêng, có 2 khu: Cát Linh và Đông Mai là chùa có sư trụ trì. Đây
cũng là một yếu tố thuận lợi cho việc triển khai mô hình.
Sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở
Hưng Yên đang là vấn đề nổi cộm và được chính quyền đặc biệt quan
tâm, và là một trong những vấn đề nóng của công tác dân số- kế hoạch
hóa gia đình. Việc mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ đem lại những
hậu quả nghiêm trọng trong tương lai về giới tính. Những tác động
của nó ảnh hưởng tiêu cực không chỉ tới cơ cấu dân số mà còn làm nảy
sinh những vấn đề xã hội phức tạp.
Mặc dù đã có một hệ thống văn bản đầy đủ
từ Trung ương đến địa phương và các chương trình, hoạt động về dân
số được triển khai, song cơ cấu dân số của tỉnh Hưng Yên những năm
gần đây vẫn có những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt về tình trạng mất
cân bằng giới tính khi sinh đang trong tình trạng báo động. Theo báo
cáo về tình hình dân số của tỉnh Hưng Yên, trong quý I năm 2010, tỷ
số giới tính của tỉnh là 130/100. Tỷ lệ sinh con thứ 3 năm 2009
chiếm 9,1% (1.618 người), phần lớn con thứ 3 là con trai. Trường hợp
này chủ yếu rơi vào những gia đình có kinh tế khá giả và chưa có con
trai. Điều đó đã góp phần khiến cho sự chênh lệch giới tính khi sinh
của tỉnh càng cao hơn.
Cụ thể đối với huyện Văn Lâm – địa bàn
triển khai mô hình – tỷ số này là 120/100. Trong 6 tháng đầu năm
2009, tại 2 xã được chọn thí điểm mô hình, tỷ số giới tính như sau:
xã Đại Đồng 161/100 và xã Chỉ Đạo là 138/100. Như vậy con số thực tế
cho thấy sự mất cân bằng về giới tính ở Hưng Yên nói chung và 2 xã
thí điểm nói riêng đang ở mức rất cao.
Với tình hình trên Mặt trận Tổ quốc tỉnh
Hưng Yên đã họp và chỉ đạo các ban chuyên môn khảo sát về tình hình
thực hiện chương trình Dân số của tỉnh. Căn cứ vào mục tiêu chương
trình và kết quả khảo sát này, Ban Thường vụ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh phối hợp với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh thống nhất chọn
2 xã Đại Đồng và Chỉ Đạo thuộc huyện Văn Lâm để thực hiện mô hình.
Sau khi khảo sát Mặt trận Tổ quốc tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo thực
hiện mô hình. Thành phần Ban Chỉ đạo bao gồm: Về phía Giáo hội Phật
giáo có 2 vị Phó ban Trị sự Giáo hội tham gia; về phía Mặt trận có 2
đồng chí lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc tỉnh, cán bộ uỷ viên thường trực
Mặt trận Tổ quốc huyện cùng các cán bộ trong Hội phụ nữ, Sở Y tế,
Chi cục Dân số.
Sau khi được sự chỉ đạo triển khai của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và huyện Văn Lâm, Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc 2 xã Chỉ Đạo, Đại Đồng đã cùng với thường trực Đảng ủy, Ủy ban
Nhân dân xã ra quyết định thành lập ban chỉ đạo cấp xã gồm 10 người,
trong đó có các cán bộ trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, Đảng ủy,
cán bộ Tư pháp, Dân số, Hội phụ nữ, Y tế và 2 chức sắc tôn giáo (trụ
trì chùa Đông Mai và chùa Cát Lư).
Ban Chỉ đạo xã Đại Đồng hướng dẫn các
ban vận động, các nhóm tổ chức cho hơn 1570 hộ gia đình đăng ký cam
kết thực hiện 6 nội dung do Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Ban Trị sự Giáo
hội Phật giáo tỉnh Hưng Yên xây dựng và xã Đại Đồng, tại xã Chỉ Đạo,
các khu dân cư thành lập các nhóm tuyên truyền, tổ chức triển khai
cam kết xuống các hộ gia đình Phật tử (1584 gia đình ký cam kết) và
lồng ghép hoạt động mô hình vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết
xây dựng gia đình văn hóa của các khu dân cư” trong các ngày lễ
kỷ niệm tại các khu dân cư. Lồng ghép tuyên truyền mất cân bằng giới
tính vào các buổi chuyển giao Khoa học kỹ thuật, phòng chống tệ nạn
xã hội, đảm bảo vệ sinh môi trường, xây dựng mô hình nông thôn mới
...
Ban Chỉ đạo mô hình tổ chức tọa đàm,
kiểm tra các hoạt động, truyền thông ở các lớp an cư, kiết hạ của
các Tăng Ni nhằm mục tiêu để các Tăng Ni hiểu, từ đó phối hợp với
công tác tuyên truyền. Các chức sắc xã đã tổ chức được 6 buổi thuyết
giảng cho các tín đồ Phật tử trong độ tuổi 18-60, mỗi buổi có 45-55
tín đồ Phật tử tham gia. Các chức sắc Phật giáo tổ chức truyền thông
về vấn đề mất cân bằng giới tính cho các tín đồ thông qua các ngày
lễ, ngày rằm, mồng một hoặc những ngày lễ lớn của phật giáo như: Lễ
Phật đản, lễ Vu Lan... Công tác tuyên truyền được thực hiện dựa trên
sự phối hợp lồng ghép linh hoạt thông qua các hội nghị của các tổ
chức liên quan như: Thanh niên, Phụ nữ, Người cao tuổi, Dân số, Đài
truyền thanh; đặc biệt phối kết hợp với các chùa.
Một trong những hình thức để tuyên
truyền mang lại tác động hiệu quả là nêu gương điển hình: những gia
đình sinh con một bề nhưng cuộc sống gia đình hạnh phúc, con cái
ngoan, thành đạt... Mục đích nhằm góp phần tác động thay đổi quan
niệm của người dân về việc phải sinh con trai, con gái trong gia
đình. Đồng thời cũng đưa ra nội dung, chương trình, mục tiêu của mô
hình để làm căn cứ chấm điểm hàng tháng. Hoạt động chấm điểm, xếp
loại thi đua và lồng ghép các nội dung vào thực hiện cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư ”
Nhìn chung hoạt động mô hình triển khai
tại hai xã đa dạng về nội dung: tổ chức tuyên truyền tại tuyến xã (có
mời cán bộ); truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng
như loa phát thanh của thôn, truyền thanh xã; phổ biến tuyên truyền
lồng ghép vào những ngày lễ lớn của Phật giáo và các buổi hội nghị
của các ngành; cung cấp tài liệu phát tay cho người dân cũng như các
chức sắc tìm hiểu; tư vấn cho các gia đình và cá nhân về vấn đề mất
cân bằng giới tính; ngoài ra còn sử dụng hình thức văn nghệ, kịch để
truyền thông. Tất cả các hoạt động này đều được phần lớn người dân
đánh giá ở mức độ thường xuyên.
Về đầu trang
Năm đầu tiên thực
hiện Tháng hành động quốc gia về dân số
“Kiểm soát, giảm thiểu mất công bằng giới tính khi sinh - Trách
nhiệm của chúng ta” là chủ đề của Tháng hành động quốc gia về dân số
được thực hiện năm đầu tiên sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 2161/QĐ-TTg lấy tháng 12 hằng năm là “Tháng hàng động
quốc gia về Dân số”.
Sáng 6-12, tại quảng trường Công viên Thống nhất, UBND thành
phố Hà Nội và Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình tổ chức Lễ
phát động “Tháng hành động quốc gia về dân số 2010” với sự tham gia
đông đảo những người làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình và
đoàn diễu hành, cổ động của bốn quận: Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai
và Hai Bà Trưng.

Bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội
phát biểu: Trong những năm qua, Hà Nội luôn xác định công tác dân số
- kế hoạch hóa gia đình là bộ phận quan trọng của Chiến lược phát
triển Thủ đô, là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống
của từng người, từng gia đình và cộng đồng. Trong những năm qua
thành phố đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác này:
tốc độ gia tăng quy mô dân số được kiểm soát thành công trong thập
niên 2001-2010, mô hình gia đình có một hoặc hai con đang dần được
tự nguyện chấp nhận và trở thành một chuẩn mực xã hội thông qua
hương ước, quy ước và các thỏa ước lao động tập thể. Người dân thực
hiện kế hoạch hóa gia đình trở thành hành động tự giác…
Tuy nhiên, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đang phải
đối mặt với những thách thức mới khi dân số Thủ đô đã có hơn 6,7
triệu người, mật độ dân số 1.918 người/k2, gấp tám lần bình quân cả
nước. Mỗi năm có hơn 100 nghìn trẻ em được sinh ra; Hà Nội đang phải
đối mặt với vấn đề già hóa dân số ở các quận nội thành; tỷ lệ trẻ em
dưới năm tuổi bị suy dinh dưỡng tập trung ở vùng xâu, vùng nghèo và
địa bàn khó khăn; tỷ lệ nạo phá thai, đặc biệt là nạo phá thai vị
thành niên chiếm tỷ trọng khoảng 30%; Tỷ lệ mất cân bằng giới tính
khi sinh đáng báo động. Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở
1-4-2009 cho thấy,
tỷ số giới tính khi sinh của Hà Nội là 113,2 trẻ trai/100 trẻ gái.
Các chuyên gia quốc tế đã nhận xét, sự mất cân bằng giới tính
chỉ xuất hiện ở những nước có nền văn hóa tương đồng (ưa thích con
trai hơn con gái) như Việt
Nam nhưng chưa có
nước nào có tốc độ gia tăng nhanh và diễn biến phức tạp như ở nước
ta. Nếu tình trạng này không có những giải pháp tích cực, sự mất cân
bằng này sẽ để lại những hệ lụy nặng nề và gây khó khăn trong việc
xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai và tác động xấu đến trật
tự, an ninh xã hội.
Vì vậy, với chủ đề “Kiểm soát, giảm thiểu mất công bằng giới
tính khi sinh - Trách nhiệm của chúng ta”, Tháng hành động Quốc gia
về dân số 2010 nhằm đạt hai mục tiêu chính: Sức khỏe, hạnh phúc của
mỗi con người, mỗi gia đình và tăng cường sự tham gia phối hợp chặt
chẽ, đồng bộ của các cấp, ngành, đoàn thể, xã hội nhằm giảm thiểu sự
mất cân bằng giới tính. Ngoài ra đây là cơ hội nhằm kêu gọi sự giúp
đỡ hợp tác của các nước, các tổ chức quốc tế đối với công tác dân số
- kế hoạch hóa gia đình ở Việt
Nam.
THANH
HÀ
Về đầu trang
Đông Minh - Tiền
Hải (Thái Bình) tích cực thực hiện đề án dân số vùng biển
Là xã ven biển của Tiền Hải, với dân số gần 9000 người. Cũng như
những vùng ven biển khác, đặc điểm địa lý, tập quán sinh sống của cư
dân vùng biển đã trở thành những khó khăn đặc trưng cho công tác dân
số-KHHGĐ.
Năm 2009, khi Thái Bình được triển khai “Đề án biển”, chính
quyền và nhân dân xã Đông Minh đã nồng nhiệt đón nhận đề án.
Bà Nguyễn Thị Dùng, cán bộ chuyên trách công tác Dân số-KHHGĐ
xã cho biết những năm gần đây, tỷ lệ sinh của Đông Minh khoảng 1,4%,
tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 16%. Không chỉ có tỷ lệ sinh con thứ ba
cao, trình độ dân trí, chất lượng cuộc sống của một bộ phận nhân dân
trong xã còn nhiều hạn chế.

Vì vậy, đội ngũ lãnh đạo và phần lớn bà con trong xã đều rất
phấn khởi khi địa phương được tiếp nhận đề án. Ngay sau khi nhận
được hướng dẫn của Sở Y tế, Chi cục Dân số-KHHGĐ, Đảng ủy chính
quyền xã đã tích cực chỉ đạo triển khai các hoạt động. Ban dân số
lập kế hoạch, trình UBND xã phê duyệt đồng thời tham mưu cho UBND xã
triển khai, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành thành viên.
Không chỉ đội ngũ lãnh đạo Đảng, chính quyền mà lãnh đạo các
ban, ngành đoàn thể cũng được quán triệt đầy đủ về tầm quan trọng và
ý nghĩa của đề án đối với công tác dân số địa phương. Tổ chức ra
quân thực hiện đề án, tại xã, các hoạt động truyền thông được đẩy
mạnh. Bám sát vào tài liệu do Chi cục Dân số- KHHGĐ cấp, đài truyền
thanh xã thường xuyên tuyên truyền về đề án tới nhân dân..
Hệ thống biển tường, pano, áp phích cũng được làm mới trên
các trục đường gửi các thông điệp về dân số, KHHGĐ đến bà con ngư
dân. Đội ngũ cán bộ dân số xã cũng tích cực thực hiện truyền thông
trực tiếp xuống từng thôn xóm và từng hộ gia đình, quan tâm đến việc
tư vấn cho đối tượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, thanh niên trẻ,
vị thành niên.
Song song với hoạt động truyền thông, hoạt động cung cấp dịch
vụ CSSKSS, KHHGĐ cũng được quan tâm đầu tư nâng chất lượng. Cùng với
nguồn kinh phí từ đề án, xã cũng trích kinh phí hỗ trợ các hoạt động
dân số tại địa phương. Một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu
đó là nâng chất lượng các dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ.
Từ đầu năm đến nay, triển khai hai đợt chiến dịch mạnh và tổ
chức thực hiện dịch vụ CSSKSS, KHHGĐ định kỳ vào thứ 4 hàng tuần đã
thu hút đông chị em phụ nữ đến khám, điều trị các bệnh viêm nhiễm
đường sinh sản. Đến nay, kế hoạch thực hiện các gói dịch vụ tại xã
đều đạt và vượt mức kế hoạch trong đó có nhiều gói dịch vụ như khám,
điều trị phụ khoa vượt cao trên 200%.
Đặc biệt, tại xã đã triển khai mô hình điểm cung cấp phương
tiện tránh thai trên cơ sở mỗi cộng tác viên dân số thôn là một điểm
cung cấp phương tiện tránh thai, xã đã xây dựng được 10 điểm cung
cấp, thu hút đông đảo bà con ngư dân, nhất là đối tượng đi biển dài
ngày. Từ đầu năm đến nay, các điểm cung cấp phương tiện tránh thai
đã cấp 600 vỉ thuốc tránh thai và cung cấp thường xuyên bao cao su
cho hơn 100 cặp vợ chồng. Theo dự kiến năm 2010, tỷ lệ sinh trong xã
đạt 1,37%, giảm 0,15% so với năm 2009. Đặt ra mục tiêu 100% cặp vợ
chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránh thai, giảm tỷ lệ
sinh 0,25%, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên 2% những năm tới,
Đông Minh đang tiếp tục vận dụng sáng tạo các mô hình mà Chi cục dân
số triển khai, đẩy mạnh các hoạt động của đề án biển để không chỉ
giảm tỷ lệ sinh con thứ ba mà còn nâng cao chất lượng dân số và cải
thiện cuộc sống cho nhân dân trong xã.
Thu
Hương
Về đầu trang
Khu
dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư không có người sinh
con thứ 3
Khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thư hiện có khoảng 15 cặp vợ chồng
sinh con một bề, trong đó có 10 cặp sinh con 1 bề là gái, mặc dù vậy
các gia đình này đều xác định không sinh con thứ 3.
Trao
đổi với anh Đồng Xuân Sơn - khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thư, anh cho
chúng tôi biết về suy nghĩ của mình: "chúng tôi nghỉ rằng con
trai cũng được, con gái cũng được miễn sao chúng ta nuôi con cái
thành đạt, theo tôi cũng chẳng vấn đề gì cả, hiện con lớn chúng tôi
đang học đại học năm thứ 2, con thứ hai đang học lớp 10, nếu chúng
tôi có ý đẻ thêm thì đã đẻ từ lâu rồi"
Nhằm giữ vững danh hiệu khu dân cư tiên tiến, Ban công tác Mặt trận
và Ban vận động ngoài việc tuyên truyền trên hệ thống loa truyền
thanh còn đề ra các biện pháp tuyên truyền, vận động cụ thể. Ban vận
động đã giao cho Hội phụ nữ thôn nắm chắc đối tượng trong độ tuổi
sinh đẻ, động viên, đả thông tư tưởng các đối tượng sính con một bề
để có biện pháp tuyên truyền. Đồng thời còn duy trì các phong trào
văn hoá, văn nghệ để nâng cao chất lượng truyền thông bằng nhiều
hình thức như tuyên truyền trực tiếp, họp tổ, nhóm, hội thảo, văn
nghệ…qua đó tác động trực tiếp đến nhận thức của người dân, góp phần
nâng cao nhận thức về kế hoạch hoá gia đình, trang bị nhưng kiến
thức cơ bản về chăm sóc sức khoẻ sinh sản để người dân tự biết cách
bảo vệ sức khoẻ cho chính mình.
Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Trưởng ban công tác Mặt
trận khu Minh Tiến Thị trấn Vũ Thư huyện Vũ Thư chia sẻ kinh nghiệm:
"Trước hết chi bộ thường xuyên có nghị quyết lãnh đạo chỉ đạo
về công tác dân số, gia đình trẻ em, trong nghị quyết từ chi bộ
nhiệm kỳ, chi bộ hàng tháng chúng tôi đều đưa nội dung công tác dân
số, gia đình trẻ em để sinh hoạt. Sau khi có nghị quyết chi bộ,
chúng tôi triển khai đến tổ chức quần chúng, tới thành viên Ban công
tác Mặt trận để thực hiện nghị quyết ở cấp ủy của chi bộ". Nói
về kinh nghiệm tuyên truyền công tác dân số kế hoạch hoá gia đình,
Chị Nguyễn thị Hoa - Chi Hội trưởng phụ nữ -cộng tác viên dân số
khu Minh Tiến thị trấn Vũ Thu tâm sự: "Chi hội phụ nữ thường
xuyên vận động chị em, nhất là chị em trong độ tuổi sinh đẻ mà sinh
con một bề, những người có nguy cơ cao, chúng tôi ở trong ban chấp
hành phụ nữ, cộng tác viên dân số thường xuyên gặp gỡ trao đổi nắm
bắt tình hình, tâm tư nguyện vọng của chị em, qua đó động viên chị
em kịp thời".
Nhờ
biết phát huy hiệu quả của cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư" và
thực hiện tốt pháp lệnh dân số,
khu dân cư Minh Tiến thị trấn Vũ Thư,
huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã giữ vững danh hiệu 16 năm liền không
có người sinh con thứ 3.
Thắm- Hòa
Về đầu trang
Vũ Thư (Thái Bình): Dấu ấn cuộc vận
động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
Để tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”và các phong trào thi đua,
huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của
các cấp ủy Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của Chính quyền và các tổ
chức thành viên trong việc thực hiện cuộc vận động.
Mười lăm năm qua, cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư” do ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam phát
động gồm 6 nội dung và các tiêu chí thi đua cụ thể đã trở thành
phong trào thi đua rộng khắp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân
các khu dân cư huyện Vũ Thư tham gia.
Chỉ tính trong mốc thời gian từ 2005-2009, toàn huyện đã có
293.000 lượt hộ gia đình đăng ký thực hiện xây dựng “Gia đình văn
hóa”; trong đó 237.000 lượt hộ gia đình đạt hàng năm (tỷ lệ 80,1%).
Có 1055 lượt khu dân cư đăng ký thực hiện xây dựng “Khu dân cư tiên
tiến”; qua bình xét có 235 lượt đạt, trong đó 132 lượt khu dân cư
đạt năm thứ nhất, 43 khu dân cư đạt từ 3- 7 năm liên tục.
Năm 2010, Vũ Thư có 85% số hộ gia đình đăng ký xây dựng Gia
đình văn hóa, 56% thôn làng đăng ký xây dựng và giữ vững “ Đơn vị
văn hóa”. Thực hiện cuộc vận động đã góp phần khơi dậy và phát huy
truyền thống đoàn kết cộng đồng, lấy sức dân chăm lo cho dân, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ở khu dân cư.
Nhân dân đã cho nhau vay hàng ngàn tấn thóc, hàng chục tỷ
đồng thông qua phường họ với lãi suất thấp, tạo điều kiện cho các hộ
gia đình có vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần giảm tỷ lệ
hộ nghèo toàn huyện xuống còn 10,39%. 5 năm qua, toàn huyện đã quyên
góp xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được trên 1,3 tỷ đồng, xây mới
và tu bổ sửa chữa được 153 căn nhà tình nghĩa cho đối tượng chính
sách với tổng giá trị 1,224 tỷ đồng.
Các xã, thị trấn phối hợp với các cơ quan, đơn vị làm tốt
công tác chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; Vận động quyên
góp ủng hộ đồng bào miền Trung bị thiên tai, quỹ “ nạn nhân chất độc
màu da cam”, mua áo ấm tặng người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn với
số tiền hàng tỷ đồng.
Đặc biệt quyên góp xây dựng quỹ “Vì người nghèo” 2 cấp được
gần 2 tỷ đồng, cùng với các nguồn vốn khác, xây dựng được 844 căn
nhà tình thương tặng hộ nghèo với tổng giá trị là 11,680 tỷ đồng.
Thông qua thực hiện cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, quyền làm chủ của nhân dân được
phát huy, góp phần thực hiện tốt Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở, đảm bảo
phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. 5 năm
2005-2009, đã có 146 khu dân cư không có tội phạm hình sự, 75 khu
không có ma túy và tệ nạn xã hội, 162 khu không có vi phạm về trật
tự an toàn giao thông.
MTTQ các cấp trong huyện đã phối hợp với ngành công an và Ban
ATGT xây dựng được 78 tổ tự quản an ninh trật tự, 79 tổ tự quản về
ATGT. Nhân dân phối hợp với công an triệt phá nhiều tụ điểm tội phạm,
ma túy, tệ nạn phức tạp. Hàng năm, các Ban công tác Mặt trận đã hòa
giải thành hàng ngàn vụ mâu thuẫn, xích mích, tranh chấp trong nội
bộ nhân dân góp phần củng cố, giữ vững sự bình yên của thôn xóm.
Đến nay, 100% các khu dân cư trong huyện đều có hương ước,
quy ước, xây dựng nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ
hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu mê tín dị đoan. Ban công tác Mặt
trận đã vận động nhân dân đóng góp xây dựng đường làng, ngõ xóm, nhà
văn hóa thôn làng, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, xử lý rác
thải, bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp, thực hiện tốt chính sách
dân số và KHHGĐ.
Toàn huyện có 62 khu dân cư không sinh con thứ ba. 146 khu
dân cư và 200 dòng họ có quỹ khuyến học. 5 năm qua đã có 89 họ đạo
và 153 chùa đạt danh hiệu “ Xứ họ đạo – chùa cảnh 4 gương mẫu” .
Thông qua cuộc vận động, các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt
trận và các đoàn thể ở khu dân cư đã có những chuyển biến tích cực
phát huy được vai trò hạt nhân lãnh đạo ở khu dân cư. Quyền làm chủ
của nhân dân được đảm bảo và phát huy, thể hiện rõ nhất là trong
việc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các Nghị quyết, các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội của cơ sở và trong các cuộc bầu
cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, bầu trưởng thôn và thanh tra
nhân dân…
Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri nhân dân được đóng góp ý
kiến và quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền và
nghĩa vụ của mình. Thực hiện tốt cuộc vận động góp phần xây dựng
củng cố tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ở khu
dân cư trong sạch, vững mạnh.
Qua 5 năm thực hiện cuộc vận động, bên cạnh thành tích, kết
quả đã đạt được, Vũ Thư cũng còn những khó khăn, hạn chế sau: Kết
quả thực hiện cuộc vận động hàng năm chưa cao. Số khu dân cư đạt
danh hiệu “Khu dân cư tiên tiến” còn thấp và thiếu tính bền vững. Có
nơi việc xét duyệt và công nhận còn nặng về hình thức Việc biểu
dương khen thưởng các khu dân cư có thành tích chưa kịp thời. Một số
nơi chưa quán triệt đầy đủ tinh thần “ Ngày hội đại đoàn kết toàn
dân tộc ở khu dân cư” nên còn tổ chức sơ sài cả về nội dung và hình
thức. Có xã thực hiện chưa nghiêm việc phân bổ kinh phí cuộc vận
động.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”và các phong trào thi đua,
Vũ Thư chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự
phối hợp tạo điều kiện của Chính quyền và các tổ chức thành viên
trong việc thực hiện cuộc vận động.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong các
tầng lớp nhân dân. Hàng năm, MTTQ các xã – thị trấn chủ trì xây dựng
kế hoạch thực hiện chọn các nội dung tiêu chí thiết thực đưa ra nhân
dân bàn bạc, tổ chức đăng ký thực hiện.
Gắn thực hiện cuộc vận động với chương trình xây dựng nông
thôn mới, thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, xây dựng nếp sống tự
quản ở khu dân cư, thông qua cuộc vận động để đưa các phong trào thi
đua yêu nước vào cuộc sống. Kịp thời động viên khen thưởng những
điển hình tiên tiến và những nhân tố mới thực hiện tốt 6 tiêu chí
của cuộc vận động.
P.V
Về đầu trang
Hoàn thành vượt
mức kế hoạch chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ
Chiến dịch “Tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm
sóc SKSS/KHHGĐ đến vùng đông dân, có mức sinh cao, vùng khó khăn”
năm 2010 đã được tỉnh ta triển khai làm 2 đợt tại 146 xã, phường,
thị trấn, với mục tiêu đảm bảo thực hiện 80% chỉ tiêu kế hoạch năm
về các biện pháp tránh thai lâm sàng.

Hội viên phụ nữ xã
Khánh Công (Yên Khánh) xem tờ rơi phổ biến kiến thức SKSS/KHHGĐ
Với sự nỗ lực, quyết tâm cao của các cấp, các ngành, chủ lực
là Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh, chiến dịch năm nay đã đạt được kết quả
đáng khích lệ, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành vi về
SKSS/KHHGĐ trong các tầng lớp nhân dân.
Huyện Yên Mô là một trong những đơn vị vượt chỉ tiêu kế hoạch
các biện pháp tránh thai lâm sàng (triệt sản, đặt dụng cụ tử cung,
cấy, tiêm tránh thai) trong chiến dịch cao nhất tỉnh. Rút kinh
nghiệm của những đợt chiến dịch trước, Yên Mô đã có cách làm khá
hiệu quả là giao cho cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số rà
soát phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) và giao chỉ tiêu, kế hoạch
cho các địa phương triển khai chiến dịch rất sớm, đồng thời chú
trọng công tác tập huấn cho cán bộ nhằm nâng cao kỹ năng tuyên
truyền, vận động, tư vấn đối tượng lựa chọn biện pháp tránh thai;
cách ghi chép sổ sách…
Xác định công tác truyền thông, vận động để mọi tầng lớp nhân
dân hiểu và thực hiện nghiêm túc chiến dịch là một trong những yếu
tố quan trọng, nên trước, trong thời gian diễn ra chiến dịch, các xã,
thị trấn đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như:
thông qua hệ thống đài phát thanh, sinh hoạt nhóm, nói chuyện chuyên
đề, tư vấn nhóm đối tượng, tổ chức ký cam kết không sinh con thứ 3
trở lên cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, kẻ vẽ panô, khẩu
hiệu… tạo nên không khí sôi động, thu hút sự quan tâm hưởng ứng của
các tầng lớp nhân dân trong những ngày diễn ra chiến dịch. Việc xã
hội hóa công tác dân số cũng được đẩy mạnh, nên trong đợt tổ chức
chiến dịch truyền thông, hầu hết các xã tham gia chiến dịch đều có
sự đầu tư thêm kinh phí, tổ chức đưa đón đối tượng chu đáo.
Kết thúc chiến dịch, toàn huyện đã khám và chăm sóc sức khỏe
cho 5.112 lượt phụ nữ, trong đó phát hiện và điều trị 2.673 người
mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục; đã khám thai và tiêm phòng
uốn ván cho 575 bà mẹ đang mang thai; có 2.044 cặp vợ chồng thực
hiện các biện pháp tránh thai lâm sàng, đạt 189% kế hoạch chiến dịch,
đạt 90,8% kế hoạch năm. Kinh phí đầu tư cho chiến dịch của các xã,
thị trấn là hơn 100 triệu đồng.
Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Lưu Danh Cung, Phó Giám đốc
Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh cho biết: Hoạt
động tuyên tuyền, vận động trực tiếp đối tượng đã được Chi cục hết
sức chú trọng. Đặc biệt, trong chiến dịch năm 2010, công tác tuyên
truyền đã tập trung hơn vào đối tượng nam nông dân có vợ trong độ
tuổi sinh đẻ để nâng cao vai trò của nam giới trong việc chia sẻ
trách nhiệm và thực hiện KHHGĐ. Trong chiến dịch, nhiều hoạt động đã
được tổ chức như: Mít tinh, cổ động diễu hành đã thu hút được nhiều
lực lượng tham gia.
Nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ, Trung
tâm Dân số-KHHGĐ các huyện, thành phố, thị xã phối hợp với Trung tâm
Y tế dự phòng và các Trạm y tế xã, phường, thị trấn chuẩn bị lực
lượng y, bác sỹ, thuốc men, dụng cụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để
đối tượng thực sự yên tâm khi tham gia chiến dịch. Nhờ sự chuẩn bị
chu đáo, vào cuộc quyết liệt, đồng bộ nên chiến dịch đã đạt được kết
quả khá cao: Tổng số người mới chấp nhận các biện pháp tránh thai
lâm sàng toàn tỉnh là 14.362 người, đạt 84,7% kế hoạch năm. Nhiều
địa phương đã thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu đặt ra như: Huyện Yên
Mô, Gia Viễn, Yên Khánh…
Kết quả của chiến dịch chăm sóc SKSS/KHHGĐ đã góp phần cải
thiện đời sống của người dân, nâng cao nhận thức về chăm sóc sức
khỏe cộng đồng và bản thân, song vẫn còn một số khó khăn tồn tại:
Một số xã, phường cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đúng mức đến
công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, đầu tư kinh phí cho chiến dịch
nên kết quả chiến dịch đạt được chưa cao, đặc biệt một số chỉ tiêu
thực hiện các biện pháp tránh thai lâm sàng đạt thấp so với kế hoạch
đê ra; công tác tư vấn còn nhiều hạn chế, chưa nắm chắc đối tượng
vận động thực hiện biện pháp tránh thai; một số trạm y tế cơ sở vật
chất xuống cấp, thiếu các phòng làm thủ thuật, thiếu trang thiết bị
và dụng cụ y tế đã ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả chiến dịch…
Bài,
ảnh: Hà Mi
Về đầu trang
Chiến lược truyền thông DS/KHHGĐ
trên địa bàn huyện Quỳ Hợp
Trong nững năm qua, cùng với các thành tựu đạt được trên các
lĩnh vực đời sống xã hội, công tác DS-KHHGĐ cũng được đánh dấu bằng
việc thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược dân số qua các
thời kỳ.
Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chính sách DS-KHHGĐ
được nâng lên, tỷ suất sinh bình quân giảm 0,5%0/năm. Tỷ lệ sinh con
thứ 3 trở lên giảm rỡ rệt. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm
xuống còn 1,05%, cơ cấu dân số của huyện ngày càng trẻ, là điều kiện
thuận lợi về nguồn nhân lực để phát triển KT-XH thời kỳ CNH-HĐH.
Phong trào khối, xóm, bản không sinh con thứ 3 phát triển rộng khắp
trên các xã, thị trấn. Hàng năm có hơn 2/3 khối, xóm, bản thực hiện
thành công mô hình không sinh con thứ 3.
Tuy nhiên, tỷ lệ tăng dân số tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao và
chưa bền vững, có sự mất cân bằng giữa các vùng, miền và giới tính.
Thêm vào đó, những phong tục tập quán lạc hậu “trọng nam, khinh nữ”
vẫn còn nặng nề; một số quy định về chính sách DS-KHHGĐ ban hành
thời gian gần đây nội dung có chỗ chưa chặt chẽ, thực hiện thiếu
đồng bộ.
Cán bộ cơ sở biến động lớn, chưa ổn định, thiếu kỹ năng, kinh
nghiệm trong công tác truyền thông giáo dục, tư vấn các đối tượng và
chưa thực sự gắn bó, yên tâm với công tác.
Hiện nay, chính sách khen thưởng đối với các cá nhân, tập thể
thực hiện tốt KHHGĐ chưa thực sự khuyến khích được các tập thể và cá
nhân; việc xử lý cá nhân vi phạm chính sách DS,KHHGĐ chưa đủ mạnh.
Phương tiện phục vụ cho các hoạt động truyền thông ở cơ sở
vừa thiếu vừa chưa thực sự phù hợp với từng vùng miền và các dân tộc,
đây là khó khăn lớn nhất cho hoạt động của cán bộ Chuyên trách và
Cộng tác viên trong việc thực hiện nhiệm vụ.
Để thực hiện có hiệu quả công tác truyền thông về DS-KHHGĐ,
từng bước ổn định quy mô dân số và nâng cao chất lượng dân số, đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững, công tác truyền thông về DS/KHHGĐ
trong thời gian qua đã tập trung vào các vấn đề:
1. Tập trung tuyên truyền sâu rộng nội dung của Pháp lệnh Dân
số và các văn bản, Nghị quyết, chỉ thị của các cấp ủy đảng, chính
quyền về công tác DS/KHHGĐ để từ đó nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ
chức Đảng, hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền, các đại biểu
dân cử, những người có uy tín trong cộng đồng, xử lý nghiêm những tổ
chức, cá nhân vi phạm chính sách dân số. Xã hội hoá công tác dân số
- KHHGĐ, tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực và dư
luận xã hội ủng hộ thực hiện chính sách dân số- KHHGĐ của Đảng, Nhà
nước.
2. Quan tâm tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng
của đội ngũ cán bộ truyền thông. Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng
nhu cầu truyền thông của các đơn vị, lựa chọn nhóm đối tượng để có
thông điệp truyền thông phù hợp. Đội ngũ truyền thông về DS/KHHGĐ ở
cơ sở phải được cập nhật chương trình, nội dung tài liệu về truyền
thông chuyển đổi hành vi, tôn trọng sự lựa chọn của người sử dụng
dịch vụ.
3. Công tác giáo dục tư vấn đã cung cấp đầy đủ các thông tin
về SKSS/KHHGĐ cho mọi nhóm đối tượng, nhất là các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ, khắc phục tâm lý, tập quán và hành vi không có lợi
đối với công tác dân số - KHHGĐ. Nâng cao kiến thức về DS, SKSS/KHHGĐ
cho vị thành niên và thanh niên. Tăng cường tư vấn cho vị thành niên
và thanh niên để hạn chế các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, nạo
phá thai không an toàn, phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường
tình dục. Đẩy mạnh sự ủng hộ của xã hội đối với truyền thông giáo
dục DS, SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên trong các nhà
trường.
3. Đa dạng các hoạt động truyền thông - giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ...
cũng được coi là những giải pháp cần thiết. Tại những vùng khó khăn,
vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao thì việc tăng cường các
chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ
nhằm tăng nhanh số người sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại,
số người sử dụng các dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng, an toàn và
hiệu quả trong thời gian ngắn sẽ góp phần hoàn thành các chỉ tiêu kế
hoạch. Quan tâm chú trọng đến hình thức vận động trực tiếp cho nhóm
đối tượng có nguy cơ lựa chọn giới tính khi sinh và sinh con thứ 3
trở lên.
4. Phát triển hệ thống cung cấp thông tin có chất lượng và
tham mưu thường xuyên, kịp thời về DS/SKSS/KHHGĐ cho lãnh đạo các
cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị -
xã hội và những người có uy tín tại cộng đồng, bao gồm cả việc xây
dựng mạng lưới truyền thông vận động, chia sẻ thông tin và thống
nhất kế hoạch hành động. Tạo nhiều cơ hội cho vị thành niên, thanh
niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, người cung cấp dịch vụ
KHHGĐ/SKSS được tham gia vào các hoạt động truyền thông.
5. Coi trọng giải pháp huy động đồng bộ, thường xuyên của các
kênh truyền thông và nhấn mạnh việc chú trọng truyền thông đại chúng,
đảm bảo tính nhất quán về nội dung và thông điệp để nâng cao hiệu
quả, tác động của thông tin, thông điệp DS/SKSS/KHHGĐ tới các đối
tượng của chương trình.
Bên cạnh đó, ngành DS/KHHGĐ huyện Quỳ Hợp đã tăng cường công
tác nghiên cứu, đánh giá nhận thức, thái độ của người dân về chuyển
đổi hành vi DS/SKSS/KHHGĐ. Phối hợp với Trung tâm Y tế có các chính
sách phù hợp để khuyến khích, nâng cao kỹ năng truyền thông, tư vấn
và trách nhiệm của đội ngũ cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ,nhằm đảm bảo
đối tượng nhận dịch vụ theo chuẩn quốc gia về chăm sóc SKSS và được
tư vấn đầy đủ. Nâng cao sự hiểu biết, kiến thức và thái độ của họ,
góp phần chuyển đổi hành vi bền vững cho các cặp vợ chồng, phụ nữ và
nam giới trong độ tuổi sinh đẻ, kể cả người chưa kết hôn, nêu được
các vấn đề về SKSS cần ưu tiên và lợi ích của việc thực hiện SKSS/KHHGĐ,
tình dục an toàn, phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm …. nhằm góp
phần thực hiện tốt mục tiêu chung.
Sau gần 5 năm thực hiện chiến lược truyền thông, được sự quan
tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự phối kết hợp chặt chẽ của
các ban ngành, đoàn thể, công tác truyền thông giáo dục thay đổi
hành vi về DS, SKSS/KHHGĐ đã tạo được sự thay đổi mạnh mẽ về nhận
thức và hành động của toàn xã hội trên phạm vi toàn huyện. Kết quả
việc thực hiện KHHGĐ và chăm sóc SKSS đã góp phần quan trọng vào mục
tiêu giảm sinh và nâng cao chất lượng dân số. Qui mô gia đình ít con
ngày càng được nhân dân chấp nhận rộng rãi, tốc độ gia tăng dân số
được kiểm soát; số cặp vợ chồng chấp nhận sử dụng biện pháp tránh
thai hiện đại ngày càng tăng. Đặc biệt thông qua các đợt tổ chức
chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ ở vùng có mức sinh cao và
khó khăn, số người được hưởng lợi từ các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ
ngày càng cao.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình tăng sinh trong
thời gian gần đây có dấu hiệu xảy ra tại một số xã. Tỷ lệ sinh con
lần thứ 3 trở lên có dấu hiệu gia tăng. Đáng quan tâm là các trường
hợp sinh con thứ 3 trở lên có dấu hiệu mất cân bằng về giới tính khá
rõ. Đây là vấn đề nhạy cảm, tuy chưa dám khẳng định nhưng đã hé lộ
vấn đề có hiện tượng lựa chọn giới tính khi mang thai. Kết quả chiến
dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ hàng năm cũng cho thấy số đối
tượng bị viêm nhiễm và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục
khá cao. Tính bền vững của các cặp vợ chồng chấp nhận biện pháp
tránh thai không ổn định, dẫn đến nhiều trường hợp bị “vỡ kế hoạch”.
Hiệu quả tuyên truyền vẫn chưa cao… là những yếu tố không nhỏ làm
cho công tác truyền thông thay đổi hành vi gặp khó khăn. Nguyên nhân
do mặt bằng dân trí không đồng đều giữa các vùng, miền, nông thôn và
thị trấn. Do đó khả năng tiếp cận những thông tin mới về công tác
dân số-KHHGĐ, chăm sóc SKSS, vấn đề về giới, bình đẳng giới ...còn
rất hạn chế. Bên cạnh đó tư tưởng cho rằng thực hiện dân số - KHHGĐ
là trách nhiệm của phụ nữ vẫn còn tồn tại, cho nên sự chia sẻ trách
nhiệm của nam giới trong lĩnh vực này còn quá ít. Trong khi đó,
quyền quyết định số con trong gia đình, đại đa số vẫn do người chồng
và gia đình họ tộc nhà chồng quyết định. Tư tưởng phải có con trai
còn rất nặng nề, những gia đình đã có 2-3 con (là con gái) vẫn muốn
sinh thêm con trai, do đó gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyên
truyền vận động.
Đây chính là mối quan tâm, trăn trở của các ngành các cấp,
những người làm công tác dân số. Thiết nghĩ, để giải quyết thực
trạng này đòi hỏi phải có sự đổi mới nội dung, phương thức tuyên
truyền, có sự chung tay góp sức tích cực của nhiều ngành, nhiều cấp,
trong đó đòi hỏi sự sáng tạo và lòng nhiệt tình của các lực lượng
làm công tác tuyên truyền. Từ thực tiễn sinh động của công tác tuyên
truyền về các vấn đề dân số- KHHGĐ trong thời gian qua, rút ra những
kinh nghiệm cần quan tâm, đó là:
- Công tác tuyên truyền phải hướng vào đối tượng cụ thể,
nhất là tập trung những đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ và có nguy
cơ sinh con thứ 3 trở lên. Tích cực thực hiện các nội dung trong
Chiến lược truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số, sức
khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình.
- Thực hiện “xây” đi đôi với “chống”. Bên cạnh việc
biểu dương những gia đình sinh con một bề làm kinh tế giỏi, hạnh
phúc, cần chú trọng xử lý bằng hình thức thích hợp những trường hợp
vi phạm, nhất là những cán bộ, đảng viên sinh con thứ 3, đồng thời
thông tin công khai đến nơi cư trú, chứ không chỉ thông tin nội bộ.
Cần tranh thủ các lực lượng tuyên truyền viên, như trưởng các dòng
họ, chi, phái; những gia đình “sinh con một bề” làm ăn phát đạt,
hạnh phúc. Cần xem đây là những cộng tác viên không chuyên trách, vì
lời nói của họ sẽ có trọng lượng cao, tác động rất lớn đối với công
chúng.
- Tăng cường các thông tin về công tác dân số- KHHGĐ trên báo
chí đảm bảo sát thực tiễn, có lý luận sâu sắc. Đồng thời, thường
xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền cho đội ngũ làm công tác dân
số- KHHGĐ.
- Tăng cường tuyên truyền Dân số - KHHGĐ hướng về đồng bào
dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Đây là địa bàn dân trí thấp, điều kiện
tiếp cận thông tin về Dân số-KHHGĐ-SKSS còn nhiều hạn chế, việc đi
lại của cán bộ truyền thông Dân số - KHHGĐ gặp nhiều khó khăn. Vì
vậy, cần phải lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với
đối tượng, dễ hiểu, hấp dẫn, như hình thức tuyên truyền trực quan,
sân khấu hoá, tờ rơi, truyền thanh...
Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Phương
Về đầu trang
Chức sắc tôn giáo xã Đông Cường,
huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới
tính khi sinh
Xã Đông Cường có
khu vực hành chính thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Đông Hưng, tỉnh
Thái Bình với tổng diện tích đất tự nhiên là 770 ha có 7.348 khẩu,
trong đó có 2.039 khẩu là tín hữu Công giáo, địa giới hành chính
được chia làm 5 thôn; nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nghề
phụ chậm phát triển. Kinh tế tuy có phát triển nhưng thu nhập bình
quân đầu người còn thấp, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó
khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn chiếm 11,6%.
Tôn giáo có 2 đạo.
Đạo Phật có 5 chùa; Đạo Công giáo có 8 họ, 7 nhà thờ (7 họ trên bờ,
một họ dưới sông), một họ giáo dưới sông có 124 khẩu, giáo dân làm
nghề chài lưới, lấy thuyền làm nhà ngày đêm lênh đênh sông nước. Tuy
là địa phương có đồng bào lương giáo sống xen kẽ song luôn có truyền
thống đoàn kết tình làng nghĩa xóm gắn bó keo sơn bà con lương giáo
đều sống tốt đời, đẹp đạo, luôn có tinh thần tương thân tương ái
giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau phát triển kinh tế xoá đói, giảm nghèo,
thực hiện tốt mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và quy
định của địa phương.
Trong nhiều năm
qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đông Cường tích cực thực hiện
chính sách dân số và gia đình, đã góp phần hạ thấp tỷ lệ sinh và
từng bước nâng cao chất lượng dân số. Tuy nhiên, đối với công tác
dân số, nhất là chất lượng dân số vẫn là vấn đề cần được quan tâm
thường xuyên, đó là việc sinh con thứ 3 trở lên, cân bằng tỷ lệ nam,
nữ khi sinh hiện nay đang có xu hướng tăng, một phần do mặt trái của
việc thực hiện mô hình gia đình ít con( mỗi gia đình nên có từ 1 đến
2 con), cùng với nhận thức lạc hậu từ xưa có con trai để nối dõi
tông đường vẫn còn in sâu trong suy nghĩ của nhân dân, đa số cặp vợ
chồng mong muốn, thậm chí là bắt buộc phải có con trai nên gia đình
nào đã có một trai một gái hoặc 2 con trai rồi thì yên tâm, nhưng
nếu 2 con gái thì tìm mọi cách để phải đẻ thêm con trai nữa. Từ
nhận thức như vậy, cùng với khoa học hiện đại đang hỗ trợ hành động
cho họ như dùng máy siêu âm để xác định thai nhi rất nhiều, nên một
số cặp vợ chồng khi đã phát hiệ thai nhi không được như ý muốn đã
huỷ thai nhi đó đi (chủ yếu là huỷ thai nhi là giới tính nữ) và
phương pháp bắt mạch, chọn khẩu phần ăn, tính ngày thụ thai để đẻ
con trai... cho nên hiện nay tình trạng bé trai sinh ra nhiều hơn bé
nữ. Đó là nhận thức cục bộ của mỗi gia đình, trong khi đó, do hạn
chế của công tác tuyên truyền nhân dân chưa nhận thức được về tác
hại của việc mất cân bằng giới tính trong phạm vi quốc gia, khu vực,
chưa có tầm nhìn xa mà chỉ nghĩ trước mắt là phải có con trai theo ý
muốn của mình, của gia đình, dòng họ. Chính vì lẽ đó ở tầm vĩ mô,
các nhà hoạch định chính sách cần có định hướng tuyên truyền cho
nhân dân về chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình, chú trọng quan
tâm đến mất cân bằng giới tính khi sinh là rất đúng, rất phù hợp.
Trong công tác tuyên truyền sẽ có nhiều kênh, nhưng theo sáng kiến
của Văn phòng UNFA Hà Nội và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương
MTTQVN chọn mô hình “Chức sắc tham gia khắc phục tình trạng mất cân
bằng giới khi sinh” để thực hiện là rất hiệu quả.
Từ nhận thức trên,
được sự chỉ đạo của MTTQ các cấp, MTTQ xã Đông Cường, sự quan tâm
lãnh đạo chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự phối hợp của
các tổ chức, các đoàn thể đã tạo thành một phong trào sôi nổi trong
nhân dân, các tổ chức các đoàn thể đều vào cuộc và coi đây là một
trong những nhiệm vụ của mình.
Mô hình có nhiều
điểm tương đồng và phù hợp với phong tục tập quán của địa phương và
phù hợp với giáo lý, giáo luật của giáo hội Công giáo như việc sinh
sản một cách tự nhiên, không có sự phân biệt giới tính, không trọng
nam, khinh nữ nên nhận được sự tham gia tích cực của các vị chức sắc,
chức việc và nhân dân.
Công tác tuyên
truyền về chính sách dân số chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã được triển
khai tích cực trong những năm qua, giúp cho mỗi người dân đều hiểu
rõ được và có hành động tích cực và nội dung tuyên truyền về tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và hậu quả của nó trong thời
gian tới do mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra rất phù hợp với
chính sách dân số và nguyện vọng của nhân dân. Từ đó đã thu hút được
sự tham gia tích cực của nhân dân, giúp cho nhân dân từ chỗ chưa
biết trở thành hiểu và biết để thảo luận bàn bạc tìm ra những giải
pháp khắc phục hữu hiệu.
T.L
Về đầu trang
Kết quả thực hiện mô hình điểm DS-KHHGĐ
ở xã Đông Cường, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Khi nhận kế hoạch
của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và của MTTQ tỉnh Thái Bình, MTTQ
xã Đông Cường đã xây dựng kế hoạch tham mưu với Đảng uỷ thành lập
Ban chỉ đạo và ra nghị quyết lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể đưa nội
dung này vào nội dung hoạt động của đoàn thể mình cùng phối hợp tổ
chức thực hiện.
Ban Thường trực Uỷ
ban MTTQ xã ra quyết định thành lập Ban điều hành mô hình gồm 7
thành viên do Chủ tịch MTTQ xã làm Trưởng ban, một số thành phần làm
thành viên như Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, cán bộ dân số, ông Trùm,
Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn làm thành viên; đồng thời thành
lập nhóm sinh hoạt, mỗi nhóm 100 người. Ban đầu có 2 nhóm là tín hữu
Công giáo, mời Linh mục xứ thường xuyên giáo huấn và truyền đạt. Sau
khi triển khai, tại cuộc hội thảo đầu tiên do Trung ương MTTQVN chủ
trì có sự tham gia của MTTQ tỉnh, huyện, lãnh đạo đại diện cấp uỷ,
chính quyền, các ban ngành đoàn thể và các vị chức sắc, chức việc
của địa phương, xét thấy cần phải thành lập thêm các nhóm sinh hoạt
không là đồng bào Công giáo nhằm giúp cho nhân dân toàn xã được tham
gia thực hiện. Do đó, tiếp tục thành lập 4 nhóm do báo cáo viên của
tỉnh về truyền đạt. Để nâng cao trách nhiệm của nhân dân tham gia,
thực hiện chỉ đạo của MTTQ tỉnh Thái Bình, Ban điều hành đã tiến
hành nắm tình hình dân ssố của các nhóm,tiến hành các cuộc hội thảo
bàn về cách thức tổ chức, trao đổi nội dung bản cam kết và tổ chức
cho nhân dân ký cam kết thực hiện . 100% số thành viên nhóm đã ký
kết.
Công tác truyền
thông được tiến hành thực hiện từ quý II/2009 đến nay đã tổ chức 7
kỳ sinh hoạt/nhóm. Số thành viên sinh hoạt các nhóm đều đạt yêu cầu,
nhiều nhóm là đồng bào Công giáo đông tới gần 600 người.
Nội dung sinh hoạt
do MTTQ tỉnh Thái Bình chỉ đạo gồm: Các chuyên đề liên quan đến việc
khắc phục tình trạng mất cân bằng giới khi sinh như: Phòng chống bạo
lực gia đình, chuyên đề về bình đẳng giới, chuyên đề về chăm sóc sức
khoẻ thai nhi, hậu quả của việc mất cân bằng giới tính, trách nhiệm
của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới
khi sinh gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
cuộc sống mới ở khu dân cư”. Tình hình dân số và nhà ở (theo Tổng
điều tra dân số nhà ở năm 2009)... Thông qua từng chuyên đề được
thuyết giảng các nhóm đã tiến hành thảo luận về biện pháp khắc phục.
Kết quả thực hiện mô hình năm 2009, tỷ lệ giới tính nam nữ khi sinh
ở xã tuy chưa có chuyển biến đáng kể nhưng đây là kết quả bước đầu,
xong quan trọng hơn là nhận thức về sự cần thiết phải khắc phục tình
trạng mất cân bằng giới khi sinh, cấp uỷ Đảng, chính quyền, các
ngành,các vị chức sắc và nhân dân được nâng lên, Đảng uỷ đã có Nghị
quyết lãnh đạo thực hiện mô hình, UBND xã đã phối hợp tạo điều kiện
để tổ chức mô hình, vị chức sắc và các vị chức việc tích cực tham
gia, các tổ chức đoàn thể xác ợinh đây là một nhiệm vụ của mình để
tổ chức thực hiện , nhân dân nhiều tổ nhóm đã thảo luận bày tỏ sự lo
ngại nếu tình trạng này ở Việt nam diễn ra như 1 số nước thì con
cháu chúng ta sẽ gặp khó khăn khi đến tuổi lấy vợ...
Từ những thực tế
trong quá trình triển khai có thể rút ra một số kinh nghiệm để làm
tốt công tác tuyên truyền và phối hợp với các tổ chức thành viên
cùng vào cuộc vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả; cần phải
thông qua các nhà chức sắc để truyền đạt, giáo huấn gắn với việc
thực hiện giáo lý, giáo luật, nêu ra những điểm tương đồng để nâng
cao nhận thức cho đối tượng là biện pháp có hiệu quả nhất và Ban
điều hành cấp xã và Ban chủ nhiệm nhóm hoạt động tích cực xây dựng
được kế hoạch cụ thể, làm tốt công tác tổ chức, thông báo, vận động
thành viên nhóm đi dự sinh hoạt. Việc tổ chức sinh hoạt tránh vào
lúc mùa vụ. Kinh phí tuy ít nhưng phải tiết kiệm để có chút động
viên các thành viên.
T.L
Về đầu trang
Gia đình tín hữu Công giáo xã Nam
Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân bằng giới
tính khi sinh
Nam Hải là xã có số
dân 10.800 khẩu, được chia làm 9 thôn, cách trung tâm huyện 12 km,
có 2 tôn giáo chính là Đạo Phật và Đạo Công giáo. Đạo Phật có 5
chùa, 3 đền, trong đó có 4 công trình được công nhận là di tích lịch
sử văn hoá cấp tỉnh. Đạo Thiên chúa có: 2 giáo xứ và 3 nhà thờ họ
lẻ, 01 đền khấn thánh Vixentê, chiếm 25% dân số cả xã, nhân dân
trong xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lương giáo đoàn kết, chấp
hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong những năm vừa
qua, cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận thường xuyên quan tâm đến vận
động nhân dân thực hiện chính sách dân số, đã đạt kết quả góp phần
hạ thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số. Nhưng việc thực hiện
chính sách dân số là rất khó khăn, đòi hỏi phải có sự cố gắng, bền
bỉ, kiên quyết và rất dân chủ phát huy tính tự giác của người dân vì
đây chính là thực hiện chính sách đối với con người, thực tế trong
nhiều thập kỷ qua chúng ta mới cơ bản thực hiện được tỷ lệ giảm
sinh, đạt mức sinh thay thế. Nhưng cơ cấu dân số, chất lượng dân số
và gần đây xuất hiện mất cân bằng giới tính khi sinh đang là vấn đề
rất đáng lo ngại. Nhận thức được vấn đề này, được sự chỉ đạo của
MTTQ các cấp, Nam Hải phấn khởi tổ chức thực hiện xây dựng mô hình.
Ngay sau khi có chỉ đạo của MTTQ tỉnh và được dự hội thảo của Trung
ương ở Đà Nẵng, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ xã đã báo cáo cấp uỷ,
thống nhất với chính quyền và các đoàn thể nhân dân triển khai thực
hiện . Thành lập Ban điều hành của xã, Ban chủ nhiệm các nhóm, mới
đầu thành lập 2 nhóm là đồng bào Công giáo sau đó theo đề nghị của
cơ sở được MTTQ Trung ương, tỉnh nhất trí tiếp tục thành lập thêm 4
nhóm là lương dân. Quý II/2009 Ban điều hành đã triển khai cho thành
viên nhóm ký cam kết tham gia mô hình và tổ chức cho các nhóm vào
sinh hoạt đến nay tổ chức được 7 kỳ (mỗi quý 1 kỳ/nhóm), giảng viên
do MTTQ mời, 02 nhóm là đồng bào Công giáo được cụ linh mục quản xứ
thuyết giảng, 04 nhóm còn lại là báo cáo viên cấp tỉnh, nội dung mỗi
kỳ 1 chuyên đề đều gắn với việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm
của người dân tham gia việc khắc phục tình trạng mất cân bằng giới
khi sinh. Các buổi sinh hoạt học viên tham dự khá đông đủ, cùng với
nội dung thuyết giảng học viên được nhận tài liệu để tham khảo.
Trước mỗi kỳ Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh triển khai, ban điều
hành đã tiến hành họp với Ban chủ nhiệm nhóm bàn kế hoạch và tổ chức
lớp sau mỗi kỳ có họp rút kinh nghiệm. Kết quả của việc xây dựng mô
hình, tuy mô hình mới được triển khai ngắn nhưng đã góp phần nâng
cao nhận thức cho các cấp, các ngành ,tổ chức tôn giáo, các vị chức
sắc, chức việc và nhân dân trong xã và có ảnh hưởng tốt đến các xã
lân cận. Đảng uỷ xã đã đưa công tác dân số kế hoạch hoá gia đình vào
nội dung trong báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ
2010 – 2015 và có chương trình hành động cụ thể để tổ chức thực
hiện cho từng quý, từng năm và mục tiêu cho cả nhiệm kỳ giảm sinh
bằng mức sinh thay thế, coi trọng chất lượng sinh, bình đẳng giới
khi sinh là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của
từng người, từng gia đình trong cộng đồng dân cư trong xã, đưa mục
tiêu phát triển kinh tế – xã hội để mỗi gia đình có từ 1-2 con, có
sức khoẻ tốt có đủ điều kiện học tập lao động thoát khỏi đói nghèo,
cải thiện cuộc sống nuôi dạy con thành đạt. Các vị chức sắc, chức
việc tích cực tham gia, nhân dân đến học tập đông đủ. Ngoài việc
thuyết giảng tại lễ Chúa nhật theo lời mời của Mặt trận, cụ Linh mục
còn thuyết giảng nội dung này ở lễ Hôn phối của các đôi vợ chồng đến
làm lễ cưới tại nhà thờ, có tác dụng rất tích cực.
Đạt được những kết
quả trên có sự chỉ đạo trực tiếp của cấp uỷ, Ban Thường trực Uỷ ban
Trung ương MTTQVN, hướng dẫn của Uỷ ban MTTQ tỉnh, có sự hỗ trợ tạo
điều kiện của chính quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành
đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của cán bộ đảng viên và nhân dân
và những người có chức sắc, chức việc tôn giáo đồng tình ủng hộ.
Công tác tuyên
truyền tổ chức thực hiện mô hình đã gắn với các cuộc vận động, các
phong trào thi đua như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động xây dựng “Chùa cảnh 4
gương mẫu”, “Xứ họ đạo 4 gương mẫu”, cuộc vận động “Ngày vì người
nghèo”, cuộc vận động “Học tập va làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, cuộc vận động thực hiện Pháp lệnh Dân số Kế hoạch hoá gia
đình, không còn gnười sinh con thứ 3, sinh con có trách nhiệm và
thực hiện bình đẳng giới khi sinh, các cuộc vận động có tác dụng hỗ
trợ lẫn nhau, làm chuyển biến nhận thức trong nhân dân và đồng bào
có đạo tăng thêm truyền thống kính chúa yêu nước, sống tốt đời đẹp
đạo.
T.H
Về đầu trang
Gia đình tín hữu Công giáo xứ Đông
Thành xã Nam Hải, Tiền Hải, Thái Bình tham gia khắc phục mất cân
bằng giới tính khi sinh
Giáo xứ Đông Thành
chúng tôi có 1.050 khẩu, trong đó nữ chiếm 55% số khẩu. Nhân dân
trong xứ chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chấp hành tốt chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước. Năm 2009, chúng tôi được Uỷ ban
MTTQVN xã cho đi học tập và triển khai mô hình tín hữu Công giáo
tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và
thành lập ở xứ chúng tôi một nhóm có 100 người trong độ tuổi từ
18-60 tuổi, thành lập Ban chủ nhiệm nhóm 3 người để điều hành công
việc.
Qua 2 năm tổ chức
thực hiện chúng tôi đã tổ chức sinh hoạt được 7 kỳ, các kỳ sinh hoạt
đảm bảo yêu cầu đề ra, lồng ghép nhóm là các thôn liền kề, tạo thuận
lợi cho việc sinh hoạt trao đổi độ tuổi thành viên của nhóm hầu hết
là từ 18 -60, nội dung cam kết được đại diện chủ hộ gia đình ký kết
thực hiện nghiêm túc là nhờ có sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban MTTQ
xã, ban điều hành mô hình của xã, sự phối kết hợp giữa các đoàn viên,
hội viên của các đoàn thể trong xã, có sự đồng thuận của Ban hành
giáo, của cha xứ, các vị chức sắc, chức việc của giáo xứ, công tác
tuyên truyền triển khai tổ chức thực hiện đã được gắn nhiều phong
trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động lớn như cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận
động “Quỹ vì người nghèo”, xoá nhà ở dột nát cho hộ nghèo...
Nhóm xứ Đông Thành
đã tổ chức cho bà con giáo dân ký vào bản cam kết thực hiện các biện
pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, do MTTQ
tỉnh cấp. Dưới sự hướng dẫn của Đức cha quản xứ bà con được học tập
7 chuyên đề liên quan đến giáo lý, giáo luật và lời khuyên để thực
hiện tốt việc xây dựng gia đình hạnh phúc làm theo gia đình thánh
gia không thực hiện các biện pháp lựa chọn giới tính thai nhi, thực
hiện bình đẳng nam nữ. Qua học tập để nâng cao nhận thức cho bà con
giáo xứ. Việc Đức cha thuyết giảng rất hiệu quả. Ngoài việc cha
thuyết giảng trước giờ lễ của các buổi Chúa nhật, xét thấy cần trao
đổi thêm cho các đôi vợ chồng trẻ trước khi hôn lễ nội dung này nên
cha xứ đã thuyết giảng thêm tại lễ Hôn phối, có tác dụng rất tích
cực cho công tác tuyên truyền.
Qua hoạt động thực
tiễn ở cơ sở rút ra một số kinh nghiệm như sau: Vì người Công giáo
phải giữ trọn đức tin thực hiện tốt giáo lý, giáo luật và pháp luật
nên việc nâng cao nhận thức cho đồng bào Công giáo thì cùng với các
cấp, các ngành, đoàn thể làm công tác tuyên truyền theo tôi việc
MTTQ mời các vị chức sắc cùng tham gia truyền giảng cho đồng bào
Công giáo trong các buổi lễ là rất đúng và hiệu quả.
T.H
Về đầu trang
Kết quả xây dựng mô hình điểm MTTQ
phối hợp với các chức sắc tôn giáo "Tham gia khắc phục tình trạng
mất cân bằng giới tính khi sinh" xã
Đại Đồng, huyện Văn Lâm
Thực
hiện chỉ đạo của Ban Thường trực UBTW MTTQ Việt Nam, Kế hoạch của
Ban Thường trực UBMTTQ tỉnh Hưng Yên về thực hiện mô hình gia đình
phật tử tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi
sinh tại xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm.
Đại
Đồng là một xã thuần nông, nhân dân chủ yếu làm ruộng, cách trung
tâm huyện lị 7km, có số dân 9.400 nhân khẩu. Nhân dân đều theo Phật
giáo, có 6 ngôi chùa, 1 ngôi chùa xếp di tích lịch sử, 5 chùa còn
lại mới xây. 4 ngôi chùa có các nhà sư trụ trì. Có 1 thôn Đình Tổ có
345 nhân khẩu, nhân dân theo đạo công giáo toàn tòng. Diện tích canh
tác xã có 419,16 ha, bình quân 1,5 sào/người, chủ yếu sống bằng nông
nghiệp, có 1 thôn (Lộng Thượng) có nghề đúc đồng truyền thống, 1
thôn (Bùng Đông) có nghề gia công quỳ. Đảng bộ có 302 Đảng viên sinh
hoạt ở 9 Chi bộ nông thôn và 5 Chi bộ trực thuộc.
Những
năm gần đây, tình hình phát triển dân số của xã luôn ở mức 1,2%. Đặc
biệt tỷ lệ sinh bé trai tăng nhanh và tỉ lệ người sinh con thứ 3
tăng, chủ yếu tập trung ở lứa tuổi 35 - 40, phần lớn những hộ này
đều có điều kiện kinh tế khá giả hoặc chưa có con trai. Nên đã làm
ảnh hưởng tới tỉ lệ phát triển dân số của xã.
Quí I
năm 2009 được TW MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực MTTQ tỉnh Hưng Yên
đã chọn xã Đại Đồng để xây dựng mô hình điểm. Sau khi được MTTQ Việt
Nam quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung của việc xây dựng mô hình
điểm. Ban Thường trực MTTQ xã xác định đây là một mô hình hết sức
mới, cần làm chuyển biến nhận thức của nhân dân về những quan niệm
con trai, con gái và nhận thức việc bình đẳng giới trong gia đình
cộng đồng dân cư, mà tập trung chủ yếu là các tín đồ phật tử. Khi
thực hiện mô hình điểm, Ban Thường trực MTTQ xã báo cáo với Ban
Thường vụ Đảng uỷ, phối hợp với UBND xã xây dựng kế hoạch hoạt động
hàng tháng, hàng quý thành lập ban chỉ đạo gồm 12 thành viên. Đồng
chí Uỷ viên Ban Thường vụ tổ chức Đảng làm Trưởng ban, Chủ tịch MTTQ
xã làm phó ban thường trực. Đặc biệt có các vị tăng, ni trụ trì các
chùa tham gia ban chỉ đạo.
Việc
lồng ghép mô hình điểm vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá ở khu dân cư" là một trong những nội dung đổi mới
phương thức hoạt động của MTTQ, các ban công tác mặt trận và hướng
các hoạt động về các KDC, xây dựng KDC thực sự vững mạnh. Việc lồng
ghép mô hình trong cuộc vận động được cấp uỷ, chính quyền, các ban,
ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đánh giá cao vai trò của
MTTQ trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân chấp hành các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định của địa
phương. Cuối năm 2010, mỗi chỉ tiêu đề ra của chi bộ được ban CTMT
đánh giá thông qua ngày hội đại đoàn kết toàn dân nhân ngày 18/11.
Nhìn
chung sau 1 thời gian triển khai thực hiện mô hình, các chức sắc tôn
giáo đã có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hiện trạng, nguyên nhân,
hậu quả và các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng giới
tính khi sinh ở Việt Nam và xã Đại Đồng nói riêng. Từ đó đã tích cực
tuyên truyền cho các phật tử tạo chuyển biến về nhận thức và hành
động của các tín đồ phật tử. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện mô
hình, Ban Thường trực, Ban chỉ đạo các Tăng, Ni đã có những cách làm
sáng tạo như Đại đức Thích Đồng Huệ chủ động liên hệ mời cán bộ Chi
cục DSKHHĐ tỉnh Hưng Yên về trực tiếp giảng những nội dung: hiện
trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp nhằm khắc phục thực trạng
mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam cũng như ở Hưng Yên, kinh
nghiệm của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc cho các tín đồ phật tử
đã cung cấp lượng thông tin bổ ích cho các tín đồ phật tử.
Thông
qua hoạt động mô hình thì vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia
đình, xã hội đã được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn. Tư tưởng trọng
nam, khinh nữ trong bộ phận không nhỏ người dân đã dần thay đổi và
mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.
T.H
Về đầu trang
Hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ cho các vị chức sắc tôn giáo,
người tiêu biểu tại các tỉnh phía Nam.
Trong hai ngày 19-20/6, tại TP.Hồ Chí Minh, Ban
Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với Tổng Cục
dân số- Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ cho
cán bộ Mặt trận, các vị chức sắc tôn giáo, người tiêu biểu tại các
tỉnh phía Nam. Đến dự có đồng chí Lê Bá Trình, Phó Chủ tịch Ủy ban
Trung ương MTTQ Việt Nam; đồng chí Trần Hoa Mai, Phó Tổng Cục trưởng
Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế.

Hội nghị đã nghe các báo cáo viên giới thiệu các chuyên đề về Chiến
lược Dân số và sức khỏe sinh sản tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020,
truyền thông thay đổi hành vi và phương pháp tuyên truyền, vận động
khắc phục bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình và mất cân bằng giới
tính khi sinh lồng ghép vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” với mục tiêu nâng cao chất lượng
dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh
thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề cơ cấu, phân bổ dân số,
góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải thiện chất lượng cuộc
sống của nhân dân…
Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận vào các chuyên đề
nhằm tìm ra các giải pháp cơ bản để thực hiện công tác DS-KHHGĐ là
truyền thông, giáo dục, vận động, chuyển đổi hành vi gắn với cung
cấp dịch vụ theo hướng dự phòng tích cực, đảm bảo công bằng, bình
đẳng giới và quyền của người dân trong việc tiếp cận thông tin, lựa
chọn dịch vụ có chất lượng, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội,
đặc điểm văn hóa và tập quán của người dân ở các vùng khác nhau.
Đây là những nội dung hết sức cơ bản và thiết thực liên quan đến
công tác hàng ngày của cán bộ Mặt trận, các vị chức sắc tôn giáo làm
công tác dân số có được những kiến thức nhất định về công tác DS-KHHGĐ
ở cơ sở, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ công tác DS-KHHGĐ hiện nay.
Tùng Lâm
Về đầu trang
Hỗ trợ các hoạt động truyền thông thay đổi hành
vi về SKSS tại cộng đồng
Trong những năm qua, nhằm thay đổi hành vi về chăm
sóc SKSS cho người dân vùng cao, Dự án Nâng cao chất lượng và sử
dụng dịch vụ SKSS Hà Giang (VNM7PG0001) đã tập trung vào công tác
tuyên truyền ở 3 huyện triển khai dự án là Yên Minh, Xín Mần, Đồng
Văn, Hà Giang.
Công tác tuyên truyền được thực hiện sâu rộng bằng
nhiều hình thức phong phú, đa dạng với sự tham gia của nhiều ngành,
nhiều cấp nên đạt được kết quả cao, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về
nhận thức của người dân đối với vấn đề chăm sóc SKSS cho bản thân và
cộng đồng xã hội.
Trong công tác truyền thông do Dự án triển khai thì
hiệu quả nhất vẫn là các hoạt động do các tổ chức hội, đoàn thể phối
hợp tổ chức thực hiện, bao gồm Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ
quốc. Nguyên nhân các tổ chức hội, đoàn thể thực hiện đạt hiệu quả
cao trong công tác tuyên truyền là do các đơn vị này có đông hội
viên và đều thuộc mục tiêu tuyên truyền của dự án. Mặt khác, các tổ
chức hội đều có cấp hội cơ sở nên hoạt động truyền thông được tổ
chức thường xuyên, liên tục. Về hình thức tuyên truyền, các tổ chức
hội thực hiện lồng ghép vào các buổi sinh hoạt tổ, hội hoặc lồng
ghép vào hoạt động của các Nhóm SKSS/TDTK. Để công tác tuyên truyền
được thực hiện đạt hiệu quả cao, các tổ chức hội đều lựa chọn người
tuyên truyền là nhóm trưởng, cán bộ hội ở cơ sở. Khi được lựa chọn,
đội ngũ này sẽ được tham gia các lớp tập huấn kiến thức chăm sóc
SKSS cũng như kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân.
Nhờ được tập huấn, lại biết tuyên truyền bằng tiếng địa phương nên
công tác tuyên truyền thông qua đội ngũ này phát huy được hiệu quả.
Chính vì vậy, từ khi triển khai cho đến nay, năm nào dự án cũng xây
dựng kế hoạch và cấp kinh phí cho các tổ chức hội, đoàn thể thực
hiện công tác truyền thông, đồng thời cung cấp cả phương tiện truyền
thông như tài liệu, sách, băng đĩa và loa đài. Chỉ tính riêng trong
năm 2010, Ủy ban MTTQ tỉnh tổ chức được 160 buổi truyền thông tại 15
xã cho gần 5.000 người tham gia; Hội Phụ nữ tỉnh tổ chức được 237
buổi truyền thông nhóm nhỏ; Hội Nông dân tổ chức được 370 buổi.
Ngoài 3 tổ chức hội, đoàn thể thực hiện công tác truyền thông thường
xuyên, dự án cũng đã triển khai hoạt động này thông qua hoạt động
phối hợp với các đơn vị khác, Báo Hà Giang; Đài PT- TH tỉnh; Chi cục
DS/KHHGĐ; Sở Giáo dục- Đào tạo. Trong đó Báo Hà Giang và Đài PT- TH
tỉnh đã thực hiện nhiều chuyên mục, chương trình PT- TH đề cập đến
những vấn đề về công tác chăm sóc SKSS ở cơ sở. Hàng năm, Báo Hà
Giang đã cắt cử phóng viên về cơ sở thu thập tài liệu, đăng tải gần
20 chuyên mục về hiệu quả hoạt động của dự án, những mô hình do dự
án đầu từ phát huy hiệu quả ở cơ sở. Với Đài PT- TH, ngoài việc xây
dựng và thực hiện các chuyên mục phát sóng về đề tài này thường
xuyên còn liên tục cho pháttập kịch (Khát vọng sống) có nội dung về
cung cấp kiến thức trong chăm sóc SKSS/DS và phát triển cho lứa tuổi
vị thành niên. Chi cục DS/KHHGĐ, Sở Giáo dục- Đào tạo cũng đã tổ
chức hàng trăm buổi truyền thông do đội ngũ cộng tác viên dân số và
giáo viên cắm bản thực hiện. Cùng với đó, hoạt động truyền thông do
Trung tâm Văn hoá Thông tin- Thể thao các huyện Yên Minh, Xín Mần,
Đồng Văn thực hiện cũng đạt được kết quả to lớn. Công tác truyền
thống được thực hiện thông qua 3 đội thông tin lưu động và được tổ
chức tại các phiên chợ. Việc truyền thống tại các phiên chợ được tổ
chức theo hình thức vừa tổ chức biểu diễn văn nghệ, vừa tuyên truyền
nên thu hút được rất đông người đến xem. Nội dung tuyên truyền được
thể hiện bằng tiếng Kinh và tiếng dân tộc nên người đến xem dù không
biết tiếng phổ thông vẫn có thể tiếp thu. Tuyên truyền ở chợ nên đối
tượng được nghe rất phong phú, có người già, trẻ nhỏ, có nam, có nữ.
Trong năm 2010, các Đội thông tin lưu động của 3 huyện đã tổ chức
được 131 buổi truyền thông chăm sóc SKSS và có trên 120.000 lượt
người đến nghe.
Có thể khẳng định, việc hỗ trợ cho các hoạt đông
truyền thông của Dự án trong những năm qua đóng vai trò quan trọng
trong việc thay đổi nhận thức, hành vi của người dân về chăm sóc
SKSS.
TUYÊN
BÌNH
Về đầu trang
MTTQ tỉnh Thái Bình với công tác tuyên truyền,
thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế đất nước, sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đặc
biệt là việc triển khai thực hiện các chế độ chính sách nhằm xóa đói
giảm nghèo, đời sống của người dân trong tỉnh ngày càng được cải
thiện và nâng cao. Số hộ khá, giàu tăng, không có hộ đói, hộ nghèo
ngày càng giảm.
Cùng với thành tựu về kinh tế, nhận thức của nhân dân
về quy mô gia đình ít con đã thực sự có chuyển biến, tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên đạt dưới 1%. Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ
đã được chú trọng. Tỷ lệ chết mẹ, chết trẻ sơ sinh vào loại thấp
nhất so với cả nước. Tỷ lệ học sinh đến trường cao, chỉ số phát
triển con người (HDI) 0,714, xếp thứ 8 trong cả nước. Tuy nhiên,
trong lĩnh vực DS - KHHGĐ tỉnh ta cũng đang phải đối mặt với những
vấn đề khó khăn. Tình trạng di dân tự do tăng, với trên 100.000 lượt
người đi lao động xa nhà theo thời vụ gây khó khăn cho việc kiểm
soát dân cư, ngoài ra còn kèm theo nhiều hậu quả khác, nhất là các
tệ nạn xã hội. Hiện Thái Bình là tỉnh nằm trong nhóm 10 tỉnh thành
phố trong cả nước có nhiều người nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS. Tỷ
lệ mất cân bằng giới tính những năm gần đây cũng thuộc loại cao,
trong đó 6 tháng đầu năm 2008 là 117 nam/100 nữ. Vấn đề giới, bình
đẳng giới, bạo hành gia đình gây nhiều bức xúc. Trước thực trang
trên, MTTQ các cấp đã tích cực phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ,
tuyên truyền vận động toàn dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết, thực
hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các
chủ trương chính sách về lĩnh vực Dân số - KHHGĐ.
Cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư" do TƯ MTTQ phát động được các tầng lớp
nhân dân tích cực ưởng ứng, trong đó một trong sáu tiêu chí là khu
dân cư không có người sinh con thứ ba và làm tốt công tác chăm sóc
sức khỏe nhân dân. Để đạt tiêu chí trên, hàng năm MTTQ phối hợp với
các ngành chức năng tổ chức các hội nghị truyền thông trong các khu
dân cư với nội dung về dân số, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã
hội, HIV/AIDS; đồng thời tổ chức hội thi Ban công tác mặt trận với
vấn đề dân số và CSSK cộng đồng... nhằm làm thay đổi nhận thức của
nhân dân. Ngoài ra, MTTQ còn phối hợp với ngành Dân số, Văn hóa, Tư
pháp xây dựng hướng dẫn liên ngành về việc đưa chính sách dân số,
gia đình, trẻ em vào hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố; vào
tiêu chí thôn làng, cơ quan đơn vị đạt danh hiệu "đơn vị văn hóa".
Đến nay toàn tỉnh có 1688 thôn làng (chiếm 88,2%) xây dựng được
hương ước, quy ước của địa phương, trong đó có những quy định cụ thể
về chính sách DS-GĐ và TE, được nhân dân đồng tình và tích cực hưởng
ứng. Hai phong trào lớn được triển khai sâu rộng trong đồng bào tôn
giáo là phong trào thi đua "xây dựng chùa cảnh bốn gương mẫu", "xứ
họ đạo bốn gương mẫu" có bốn nội dung và các tiêu chí cụ thể, phù
hợp trong đồng bào có đạo, trong đó tiêu chí về công tác dân số và
CSSK nhân dân cũng được đông đảo các vị chức sắc, đồng bào có đạo
hưởng ứng, thi đua thực hiện. Hàng năm toàn tỉnh có 100% các xứ họ
và nhà chùa đăng ký hưởng ứng phong trào, 40 - 45% các xứ họ và nhà
chùa đạt danh hiệu “bốn gương mẫu”. Mỗi dịp sơ kết phong trào tại cơ
sở, MTTQ các xã phối hợp với các chức sắc tôn giáo tổ chức khen
thưởng kịp thời, qua đó động viên, nhân rộng các điển hình cá nhân,
đơn vị thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ. Ngoài ra MTTQ còn tổ chức
các hội nghị biểu dương các xứ họ đạo tiêu biểu thực hiện tốt công
tác DS, CSSK cộng đồng và tổ chức 19 cuộc hội thảo cho đối tượng là
các vị chức sắc, chức việc, nam nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đồng bào
giáo dân với gần 2000 lượt người tham dự nhằm mục đích tuyên truyền,
vận động trực tiếp, cung cấp những kiến thức về lĩnh vực DS - CSSKSS
cho nhân dân. Gần đây, tháng 9-2008, MTTQ tỉnh đăng cai tổ chức hội
thảo “chức sắc tôn giáo các tỉnh phía Bắc với thực hiện chính sách
dân số KHHGĐ” đã thu hút hàng trăm đại biểu đến từ các tôn giáo
trong khu vực với nhiều kinh nghiệm quý, cách làm hay trong tuyên
truyền, thực hiện chính sách DS-KHHGĐ….
Để bảo đảm thực hiện tiêu chí về dân số trong các
phong trào thi đua do MTTQ phát động trong tình hình xã hội hiện nay
không hề đơn giản. Song với nỗ lực của những người làm công tác mặt
trận các cấp, sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, công
tác dân số KHHGĐ những năm qua vẫn đạt nhiều kết quả. Toàn tỉnh có
420 khu dân cư từ 3 đến 5 năm liền không có người sinh con thứ ba
trở lên; hàng năm có từ 30 - 35% các khu dân cư đạt danh hiệu “khu
dân cư tiên tiến”. Qua các kênh thông tin do MTTQ và các Hội thành
viên tổ chức truyền thông, số người nắm rõ và thực hiện tốt chính
sách DS-KHHGĐ ngày càng tăng đã góp phần không nhỏ nâng cao chất
lượng cuộc sống, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế, chính trị, văn
hóa xã hội toàn tỉnh ngày càng phát triển.
Hà Dung
Về đầu trang
Về Tân Sơn, Phú Thọ nghe chuyện “làm” dân số
“Làm cán bộ, CTV dân số, nhất là ở miền núi thì điều
cần nhất là sự nhiệt tình. Vì địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, có
nhiều dân tộc sống trên một địa bàn, bên cạnh đó cơ sở vật chất,
phương tiện truyền thông thiếu thốn khiến cho công tác tuyên truyền
cũng như triển khai các chiến dịch gặp nhiều khó khăn. Nhiều khi
phải đến trực tiếp từng hộ nên phải mất công, mất nhiều thời gian
hơn”. Anh Tạ Diên Hồng-Giám đốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Tân Sơn mở
đầu câu chuyện bằng những lời tâm sự như trên.
Qua thực tế tại nhiều địa bàn xã trong huyện, những
lần trò chuyện với cán bộ y tế cũng như CTV dân số, tôi đã hình dung
và có những cảm nhận ban đầu về công việc thầm lặng của các anh,các
chị. Để triển khai tốt các chương trình, hoạt động, Trung tâm
DS-KHHGĐ đã phối hợp với các tổ chức xã hội, các ban, ngành, đoàn
thể tuyên truyền, giáo dục về chính sách dân số, SKSS-KHHGĐ. Phối
hợp với Ủy ban MTTQ huyện, các tổ chức đoàn thể tổ chức chiến dịch
lồng ghép cung cấp dịch vụ. Qua đó đã từng bước thay đổi nhận thức,
những quan niệm của người dân về dân số cũng như việc chăm sóc
SKSS-KHHGĐ. Dân số toàn huyện Tân Sơn tính đến hết 6 tháng đầu năm
là gần 80.000 người, trong đó số trẻ em sinh ra là 623 trẻ, (giảm so
với cùng kỳ năm 2010 là 13 trẻ); tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là
1,2%. Qua hệ thống cán bộ và CTV DS-KHHGĐ đã cung cấp và duy trì,
quản lý việc sử dụng các biện pháp tránh thai(BPTT). Trung tâm đã
phối hợp với Trung tâm y tế huyện tổ chức cung cấp dịch vụ trong
chiến dịch tại 7 xã; tổ chức dịch vụ KHHGĐ trong dự án thúc đẩy
KHHGĐ biện pháp tránh thai lâm sàng của Mailstopser 5 buổi đợt 1 và
17 buổi đợt 2. Kết quả trong 6 tháng đầu năm, tổng số cặp vợ chồng
mới sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại là 5.029 ca, (đạt 98%
kế hoạch năm); tỷ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng BPTT
hiện đại đạt trên 70%. Các xã thực hiện dịch vụ có kết quả cao là
Tân Sơn, Kim Thượng, Văn Luông, Minh Đài, Tam Thanh.
Mặc dù đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền và qua nhiều
năm, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã có chuyển biến tốt, nhưng từ năm
2010 đến nay tư tưởng này lại có chiều hướng quay trở lại. Trong 6
tháng đầu năm 2011, chỉ số giới tính là 144 bé trai/100 bé gái, tăng
so với cùng kỳ năm 2010 là 12. Tỷ lệ chênh lệch này đã trở thành vấn
đề đáng lo ngại đối với việc lựa chọn giới tính khi sinh của các cặp
vợ chồng. Lý giải điều này, anh Hồng cho biết: “Hiện nay, với sự
phát triển về công nghệ, việc lựa chọn giới tính trở nên dễ dàng hơn
khiến cho việc các cặp vợ chồng muốn có con trai trở nên phổ biến.
Điều này kéo theo tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 tăng so
với cùng kỳ là 6 trẻ”. Trong 6 tháng đầu năm 2011, có 6/17 xã không
có người sinh con thứ 3 trở lên là: Tân Sơn, Lai Đồng, Kiệt Sơn,
Đồng Sơn, Tam Thanh, Văn Luông. Trong đó xã Tân Sơn đã duy trì 11
năm không có người sinh con thứ ba. Trao đổi với chúng tôi, chị Hà
Thị Hồi, cán bộ dân số xã Tân Sơn cho biết: “Có được kết quả đó là
nhờ sự tuyên truyền quyết liệt đến từng hộ gia đình. Mặc dù trình độ
dân trí chưa cao, nhưng qua việc triển khai các chiến dịch truyền
thông, người dân hiểu việc sinh ít con sẽ góp phần xóa đói giảm
nghèo và có điều kiện tham gia lao động sản xuất hơn. Chính vì thế
nên trong nhiều năm xã đã duy trì không có người sinh con thứ ba”.
Một khó khăn nữa đó là việc triển khai các biện pháp tránh thai hiện
đại. Do địa bàn đông, người dân dù đã được tuyên truyền, hướng dẫn
nhưng do tâm lý e ngại khiến cho việc áp dụng gặp nhiều trở ngại.
Đây cũng là trăn trở của các cán bộ, CTV dân số trong nhiều năm trở
lại đây khi thấy rõ thay đổi nhận thức phải đi liền với việc thay
đổi trong hành động.
Là huyện mới thành lập, hiện nay Trung tâm DS-KHHGĐ
có 4 biên chế, 17 cán bộ DS-KHHGĐ cấp xã và 202 CTV. Địa bàn rộng,
dân cư thưa, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế khiến cho mỗi cán
bộ, CTV dân số càng phải cố gắng nhiều hơn, vì có làm tốt công tác
dân số mới góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết vấn đề
môi trường, giáo dục. Với quyết tâm như vậy, nhân dịp kỷ niệm ngày
dân số thế giới 11/7 năm nay, Trung tâm DS-KHHGĐ sẽ triển khai
chương trình truyền thông gắn với các hoạt động mít tinh hưởng ứng,
tư vấn hướng dẫn thực hiện các dịch vụ. Mục tiêu phấn đấu duy trì
mức sinh thay thế, giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi
sinh, góp phần cải thiện sức khỏe sinh sản và thực hiện được các nội
dung trong chiến lược DS-KHHGĐ.
Thu Hà
Về đầu trang
Cần những giải pháp đồng bộ Nâng cao chất lượng
công tác dân số - KHHGĐ ở Nam Định
Những năm qua, công tác dân số - KHHGĐ tỉnh Nam Định
được các cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo và đầu tư nguồn
lực, triển khai các biện pháp thực hiện. Đến nay, tỉnh ta đã cơ bản
hoàn thành các mục tiêu về chiến lược dân số. Tỷ lệ các cặp vợ chồng
sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt gần 80%, tỷ suất sinh
từ 18,6 phần nghìn năm 2000 giảm xuống còn 15,69 phần nghìn năm
2010, dân số tự nhiên tăng khoảng 1%, cặp vợ chồng sinh con thứ ba
trở lên giảm từ 18,7% năm 2000 xuống còn 13,72% năm 2010. Tuy nhiên,
công tác dân số - KHHGĐ vẫn còn nhiều bất cập. Kết quả giảm sinh
chưa thực sự vững chắc, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên còn cao, tỷ số
giới tính khi sinh tăng nhanh. Sáu tháng đầu năm 2011, số người sinh
con thứ ba trở lên trong toàn tỉnh là 1.687 người, tỷ số giới tính
khi sinh là 115 bé trai/100 bé gái. Riêng huyện Trực Ninh tỷ số giới
tính khi sinh 134 bé trai/100 bé gái. Đây là thách thức không nhỏ
đối với công tác dân số - KHHGĐ, làm biến đổi cơ cấu dân số, nảy
sinh các vấn đề về an sinh xã hội, vấn đề về hôn nhân, làm mất cân
bằng tâm, sinh lý giới tính và gia tăng nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em,
tệ nạn mại dâm...
Để nâng cao chất lượng công tác dân số - KHHGĐ, thời
gian qua, các hoạt động truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi,
bình đẳng giới với nội dung, hình thức phong phú và chọn cách tiếp
cận phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng được tăng cường. Hằng
năm, nhân Ngày Dân số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12)
các địa phương trong tỉnh đều tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ
động trực quan, nói chuyện chuyên đề, tư vấn trực tiếp cho các đối
tượng về công tác dân số - KHHGĐ, lồng ghép với dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ sinh sản/KHHGĐ ở tất cả các xã, phường, thị trấn, góp phần nâng
cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi người dân trong việc thực hiện
KHHGĐ. Công tác dân số - KHHGĐ được các cấp, các ngành, các đoàn thể
xã hội xác định là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của
mỗi tập thể, đơn vị, cá nhân. Công tác dân số - KHHGĐ ở khu vực biên
giới biển cũng được Bộ đội Biên phòng tỉnh tích cực tham gia tuyên
truyền thông qua các đợt sinh hoạt của tổ tự quản an ninh đầm bãi,
tổ tự quản trên biển và 18 CLB “Phụ nữ vì sự phát triển và bình yên
tuyến biển” do các đồn Biên phòng và Hội Phụ nữ các xã, thị trấn ven
biển thành lập. Hội Nông dân tỉnh thực hiện truyền thông lồng ghép
dịch vụ KHHGĐ với chuyển giao tiến bộ KHKT, hỗ trợ vốn, giống, vật
tư, kinh nghiệm làm ăn đến các hội viên. Hội LHPN tỉnh duy trì
thường xuyên hoạt động của các CLB: Phụ nữ không sinh con thứ 3, gia
đình hạnh phúc, bà mẹ có con tuổi vị thành niên, đối tượng tuổi vị
thành niên. Tỉnh Đoàn thành lập đội kịch tuyên truyền các vấn đề về
giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, biểu diễn hàng trăm buổi,
kết hợp cấp phát tài liệu, sách báo về phòng chống HIV/AIDS, các tệ
nạn xã hội tại 62 xã, thị trấn, thôn xóm, trường học ở 2 huyện Mỹ
Lộc và Nam Trực.
Bên cạnh việc phát huy vai trò của các ban, ngành,
đoàn thể trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện
KHHGĐ, nhiều đề án, dự án nhằm từng bước cải thiện chất lượng dân số
được tích cực triển khai như: “Truyền thông nâng cao nhận thức của
gia đình và cộng đồng về quyền trẻ em”, “Kiểm tra sức khoẻ và tư vấn
tiền hôn nhân”, “Lồng ghép dân số với phát triển gia đình bền vững”,
“Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận động, phát
hiện, can thiệp sớm tật, bệnh thai nhi, trẻ sơ sinh”… Đặc biệt, đề
án “Kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020”
đã và đang triển khai hiệu quả, góp phần tăng cường kiểm soát dân số,
tập trung hỗ trợ các hoạt động nhằm nâng cao cơ hội tiếp cận dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ của nhân
dân các xã, thị trấn ven biển. Đề án “Can thiệp giảm thiểu mất cân
bằng giới tính khi sinh” năm 2010 được triển khai tại 5 huyện, thành
phố, gồm: Nam Trực, Mỹ Lộc, Trực Ninh, Ý Yên và Thành phố Nam Định
nhằm hạn chế tình trạng chênh lệch giới tính, phá vỡ sự phát triển
bền vững của xã hội. Cùng với việc tiếp tục thực hiện và mở rộng
triển khai các mô hình, đề án, công tác kiểm tra, thanh tra các cơ
sở siêu âm, sử dụng kỹ thuật cao, hướng dẫn sinh con theo ý muốn,
nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính thai nhi được tăng cường,
góp phần khống chế sự chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh.
Để nâng cao hiệu quả công tác dân số - KHHGĐ, Chi cục
Dân số - KHHGĐ tỉnh tiếp tục thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng,
nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và hiệu quả hoạt động của đội
ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên dân số để đưa thông tin và
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ đến người dân. Ngoài ra,
cùng với việc động viên, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân
có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, vận động và cung
cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ, các địa phương cần
xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân, cán bộ, đảng viên vi phạm chính
sách dân số. Có như vậy, công tác dân số - KHHGĐ mới thực hiện tốt
mục tiêu giảm sinh vững chắc, tiến tới ổn định quy mô dân số./.
Lâm Hồng
Về đầu trang
Điện Biên nâng cao chất lượng dân số để phát
triển bền vững
Thực hiện tốt công tác DS - KHHGĐ là giải pháp cơ bản
để nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và xã hội.
Những năm qua, UBND tỉnh Điện Biên luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
hệ thống DS - KHHGĐ triển khai có hiệu quả các mục tiêu của chương
trình. Trên cơ sở hướng dẫn của các bộ, ngành TW, UBND tỉnh đã chỉ
đạo và ổn định tổ chức hệ thống DS - KHHGĐ thống nhất từ tỉnh đến cơ
sở, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp, ngành; kiện
toàn ban chỉ đạo về công tác dân số các cấp. Qua việc tổ chức triển
khai, quán triệt chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Bộ
Chính trị, chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác DS - KHHGĐ
đã tạo được nhận thức đúng đắn về chính sách DS - KHHGĐ của cấp ủy
Đảng, chính quyền, MTTQ và các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ
sở, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Từ nhận thức này,
quan niệm về hôn nhân và sinh đẻ của nhân dân đã có chuyển biến tích
cực theo hướng ngày càng nhiều người kết hôn muộn, sinh thưa, sinh
ít để nuôi con khỏe, dạy con ngoan, góp phần nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho gia đình và xã hội.
Từ sự chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, chính
quyền và sự phối hợp công tác của các ban ngành, đoàn thể, nỗ lực
của đội ngũ cán bộ làm công tác DS - KHHGĐ, những năm qua, công tác
DS - KHHGĐ đã đạt những kết quả quan trọng. Đặc biệt là trong giai
đoạn 2005 - 2010. Cụ thể như: Tỷ lệ sinh giảm từ 25,9%o năm 2005
xuống 22,88%o năm 2010 (bình quân mỗi năm giảm 0,61%o); tỷ lệ sinh
con thứ 3 trở lên giảm trung bình mỗi năm 0,64%; tổng tỷ suất sinh
năm 2005 là 3,45 con/bà mẹ, đến năm 2010 giảm xuống còn 2,5 con/mẹ...
Tuy vậy, công tác DS - KHHGĐ vẫn còn những hạn chế.
Hạn chế lớn nhất là chất lượng dân số trên địa bàn tỉnh thấp. Cụ thể
là tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn còn
cao. Đáng chú ý là tình hình lây nhiễm HIV/AIDS đang có chiều hướng
tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở lứa tuổi lao động chính là từ 20 - 39
- lứa tuổi có sức lao động và sáng tạo dồi dào nhất (chiếm 85,7% số
người lây nhiễm HIV). Cơ cấu dân số cũng có biểu hiện mất cân đối:
Tỷ lệ dân số trẻ tăng, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 tuổi cũng
tăng nhanh, tiềm ẩn nguy cơ tăng tỷ lệ sinh. Đặc biệt, tỷ số giới
tính khi sinh đang ở mức báo động. Thống kê của Chi cục DS - KHHGĐ,
tỷ số giới tính khi sinh năm 2010 là 115 nam/100 nữ, quý I/2011 tăng
lên 129 nam/100 nữ. Mới đây, UBND tỉnh và quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
(Unicef) công bố báo cáo phân tích tình hình trẻ em Điện Biên đến
năm 2010. Theo đó, Điện Biên là một trong những tỉnh có tỷ lệ trẻ sơ
sinh và thấp còi cao nhất nước. Ước tính 1.000 trẻ sinh ra thì có 33
trẻ tử vong trong năm đầu tiên. Trong 100 trẻ, có 35 trẻ bị thấp còi.
Điện Biên cũng là tỉnh có có tỷ lệ trẻ nhập học cấp trung học thấp
nhất trong cả nước, với số học sinh theo học bậc trung học đạt 70 -
84%...
Chất lượng dân số thấp do nhiều nguyên nhân. Như đánh
giá của Chi cục DS - KHHGĐ, do những năm qua, đặc biệt qua 10 năm
thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về DS - KHHGĐ, các cấp,
ngành tập trung chủ yếu vào mục tiêu giảm sinh mà chưa đầu tư nhiều
cho việc nâng cao chất lượng dân số. Về khách quan, do xuất phát
điểm KT XH của tỉnh thấp, trình độ dân trí hạn chế, thu nhập của
người dân chưa cao, dịch vụ xã hội phát triển chậm, tỷ lệ dân số
sống ở khu vực nông thôn cao cùng với tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi,
trẻ suy dinh dưỡng cao nên người dân chưa có niềm tin để chấp nhận
mô hình gia đình có từ 1 - 2 con. Cùng với đó, quan niệm muốn đông
con và sinh con trai để nối dõi tông đường còn nặng nề. Cơ cấu dân
số trẻ và số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ hàng năm lớn cũng là
nguyên nhân phức tạp và lâu dài trong việc thực hiện mục tiêu mỗi
cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con, bảo đảm cân bằng giới tính và nâng
cao chất lượng dân số. Về chủ quan, do đội ngũ cán bộ làm dịch vụ
KHHGĐ ở tuyến cơ sở còn mỏng. Những năm qua, lực lượng này đã được
bổ sung về số lượng song chất lượng còn hạn chế. Hiện nay, toàn tỉnh
mới có 44/112 xã thực hiện được dịch vụ KHHGĐ thường xuyên. Thiếu
bác sỹ sản khoa ở các huyện vùng sâu, vùng xa nên việc phẫu thuật
triệt sản tại huyện và giải quyết các vấn đề cấp cứu sản khoa găp
nhiều khó khăn. Trong việc xây dựng và thực hiện chính sách về DS -
KHHGĐ, chưa hình thành được cái nhìn toàn diện về dân số và phát
triển; trong quá trình triển khai thực hiện chính sách về DS - KHHGĐ,
tỉnh chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp, nguồn kinh phí đầu tư cho
hoạt động công tác DS - KHHGĐ hạn chế.
Để phát triển bền vững, nâng cao chất lượng dân số là
đòi hỏi bức thiết. Giai đoạn từ nay đến 2015, tỉnh Điện Biên được hỗ
trợ từ chương trình đề án Nâng cao chất lượng dân số giai đoạn 2007
- 2020. Các giải pháp nâng cao chất lượng dân số được UBND tỉnh xây
dựng. Trong đó, nhóm giải pháp hoạt động truyền thông giáo dục,
chuyển đổi hành vi để tạo sự cam kết ủng hộ của các cấp uỷ đảng,
chính quyền, các tổ chức xã hội về chương trình nâng cao chất lượng
dân số được đặc biệt quan tâm. Cùng với đó là tăng cường tuyên
truyền tư vấn, hỗ trợ nâng cao sức khoẻ, thể chất, trí tuệ và tinh
thần cho các nhóm đối tượng đặc biệt; triển khai các mô hình cung
cấp dịch vụ và vận động để tăng sự chấp nhận sàng lọc sơ sinh tại
cộng đồng... Việc xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần,
tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng
dân số cũng là các giải pháp được quan tâm. Mục tiêu là vậy song
nguồn lực thực hiện trong điều kiện của tỉnh còn hạn chế. Do vậy,
rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đồng lòng nâng cao
chất lượng dân số để phát triển bền vững.
Đạt
Thương
Về đầu trang
Đắk Nông đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ:
Mặt trận và các thành viên cùng vào cuộc
Ổn định quy mô dân số, thực hiện kế hoạch hóa gia
đình để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ là
một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội
ở địa phương phát triển. Vì vậy, thời gian qua, Mặt trận và các tổ
chức thành viên trong tỉnh cũng đã tích cực đẩy mạnh công tác truyền
thông, nâng cao nhận thức cho người dân về dân số-kế hoạch hóa gia
đình (DS-KHHGĐ) với những việc làm thiết thực và hiệu quả.
Theo ông Nông Văn Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh
Đắc Nông thì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn
hóa ở khu dân cư” với một số tiêu chí thi đua cụ thể liên quan đến
DS-KHHGĐ đã đòi hỏi các gia đình, khu dân cư phải chú trọng vào vấn
đề này. Mỗi gia đình, mỗi khu dân cư để được công nhận văn hóa thì
trước hết cần phải đảm bảo được hai yếu tố là xóa đói giảm nghèo và
thực hiện KHHGĐ.
Trong số các tổ chức thành viên của Mặt trận thì Hội
phụ nữ và Đoàn thanh niên hiện là lực lượng chủ công trong công tác
này. Với Hội Phụ nữ, hàng năm, các cấp Hội phụ nữ đều phối hợp với
các trung tâm, trạm y tế phổ biến các kiến thức cần thiết về chăm
sóc sức khỏe sinh sản, DS-KHHGĐ, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em
và thực hành dinh dưỡng cho đông đảo hội viên. Nhân kỷ niệm Ngày Dân
số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12), Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh cũng chỉ đạo các cơ sở Hội tổ chức các hoạt động truyền
thông nâng cao kiến thức về chuẩn mực người phụ nữ Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới, kiến thức về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản,
phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi con theo khoa học... Việc
vận động chị em khám và điều trị bệnh, nhất là các cặp vợ chồng
trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, KHHGĐ, đưa
trẻ đi tiêm phòng… nhằm thực hiện quy mô gia đình ít con, khỏe mạnh,
hạnh phúc cũng được quan tâm hàng đầu. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu
năm 2011, các cấp Hội đã vận động được 20.076 chị tham gia khám phụ
khoa phòng tránh các bệnh lây nhiễm, khám thai theo định kỳ và đưa
con đi tiêm phòng đầy đủ. Thông qua công tác truyền thông, giáo dục
nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã giúp cho hội
viên, phụ nữ thay đổi nhận thức, hành vi trong chăm bản thân, chủ động hơn trong việc áp dụng các biện
pháp tránh thai, KHHGĐ. Tương tự, thời gian qua, các cấp Đoàn trong
tỉnh cũng đã tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức
cho đoàn viên, thanh niên về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
thành niên. Cùng với việc truyền thông qua các buổi sinh hoạt định
kỳ, lồng ghép trong những đợt về nguồn làm công tác xã hội, các cấp
Đoàn đã tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành
động của giới trẻ về DS-KHHGĐ. Đặc biệt, hiện nay, tình trạng nạo
phá thai trong giới trẻ ngày càng nhiều, thì việc phát huy vai trò
của Đoàn trong truyền thông, nâng cao nhận thức cho giới trẻ về tác
hại, cách phòng tránh những hậu quả đáng tiếc càng quan trọng. Bên
cạnh đó, các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tìm hiểu về
giới, kiến thức sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới… luôn thu hút được
nhiều bạn trẻ tham gia. Cùng với việc duy trì hoạt động hiệu quả hơn
300 câu lạc bộ “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” với 12.386
thành viên ở 20 xã, phường trọng điểm thì các cấp Đoàn còn tổ chức
nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật và đạo đức lối sống, nhằm xây dựng người thanh niên có bản
lĩnh, lý tưởng, sống an toàn, lành mạnh.
Hoàng Bảo
Về đầu trang
Xã Tát Ngà tăng cường công tác DS-KHHGĐ
Xã Tát Ngà, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang nằm cách
trung tâm huyện lỵ Mèo Vạc 20km với 3.231 nhân khẩu, 90% là đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống ở 13 thôn bản. Với đặc thù là xã miền núi
cao, dân cư phân bố không đồng đều, nhiều thôn, bản còn nằm cách xa
trung tâm xã, đường sá đi lại khó khăn, trình độ dân trí không đồng
đều nên việc tiếp cận các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ sinh sản,
KHHGĐ còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những trở ngại lớn trong công
tác dân số KHHGĐ.
Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của cấp uỷ, chính
quyền từ huyện đến cơ sở, sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Dân số gia
đình huyện cùng với sự nhiệt tình của các cộng tác viên và sự phối
hợp chặt chẽ của Trạm y tế, xã đã tập trung vào việc tăng cường
tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ
đến vùng đông dân, vùng có mức sinh cao và vùng sâu, vùng xa. Ngay
từ đầu năm, Ban dân số xã đã phối hợp với các ban ngành thường xuyên
tổ chức công tác giáo dục, tuyên truyền Luật Bảo vệ chăm sóc giáo
dục trẻ em, chương trình hành động vì trẻ em chiến lược quốc gia về
dân số, chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS. Bên cạnh đó, Ban dân
số xã còn duy trì và kiện toàn đội ngũ công tác viên thôn bản để nắm
bắt kịp thời những diễn biến về công tác dân số, cung cấp biểu mẫu
báo cáo, thống kê cho 100% cộng tác viên dân số. Cộng tác viên dân
số phối hợp với Trưởng thôn xuống các thôn bản xa trung tâm giúp
đồng bào nâng cao nhận thức về KHHGĐ và các phương pháp phòng, chống
các căn bệnh xã hội, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ về các
biện pháp tránh thai hiện đại, phụ nữ từ 15-49 tuổi khám phụ khoa và
phụ nữ mang thai đi khám thai định kỳ. Nhờ vào ý thức của người dân,
sự nỗ lực của cấp uy, chính quyền, nhân dân trong xã, trong 6 tháng
đầu năm 2011 đã vận động được 441 cặp vợ chồng tham gia khám và áp
dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, trong đó: đặt thuốc tử cung
là 63 người, uống thuốc tránh thai 21 người, sử dụng bao cao su 6
người, tỷ lệ phụ nữ từ 15-49 tuổi khám phụ khoa cao hơn so với năm
trước. Bên cạnh đó, xã còn tích cực giám sát, chỉ đạo đội ngũ công
tác viên dân số ở các thôn, bản thường xuyên đi xuống hộ dân nắm bắt
tình hình gia tăng dân số, có báo cáo tình hình cụ thểđể có biện
pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tối đa tỷ lệ gia tăng dân số.
Để đạt được các mục tiêu năm 2011, trong đó giảm tỷ
lệ sinh con thứ 3, tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp
tránh thai hiện đại, Tát Ngà đã, đang tập trung thực hiện các nhóm
giải pháp về công tác tổ chức tuyên truyền để làm thay đổi hành vi;
công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản KHHGĐ; để góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân và chiến lược giảm sinh trên địa bàn
toàn tỉnh.
TRẦN THỊ HIỀN
Về đầu trang
Công tác truyền thông dân số TP.Tam Kỳ - Quảng
Nam: Cần sự chia sẻ từ nam giới
Trong tổng số 210 cộng tác viên dân số ở TP.Tam Kỳ
hiện nay chỉ có 20 nam giới là trưởng thôn khối phố kiêm nhiệm. Điều
này phần nào cho thấy nam giới vẫn chưa vào cuộc cũng như chưa chia
sẻ với phụ nữ trong các vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch
hóa gia đình (SKSS-KHHGĐ). Thực tế này còn thể hiện ở kết quả đối
tượng tham gia các chiến dịch truyền thông chăm sóc SKSS và thực
hiện các biện pháp KHHGĐ 100% là nữ.
Chị Phan Thị Nguyệt Nga - chuyên trách dân số xã Tam
Thanh cho biết: “Cả xã chỉ có một cộng tác viên dân số là nam giới,
ở đây mọi người đều nghĩ công việc này là của phụ nữ nên đàn ông
không tham gia”. Cũng theo chị Nga, nam giới né tránh làm cộng tác
viên dân số vì họ cho rằng đó là việc phụ nữ tự nói với nhau, phần
khác là do mức phụ cấp quá thấp (50 nghìn đồng/tháng - NV).
Thiếu nam giới làm cộng tác viên dân số đồng nghĩa
với việc thiếu người tuyên truyền tác động đến nhận thức của nam
giới về vấn đề dân số. Thế là bao năm qua chỉ có những phụ nữ vẫn âm
thầm tự nói cho nhau nghe về SKSS-KHHGĐ. Chị Nguyễn Thị Hưởng - cộng
tác viên dân số lâu năm ở xã Tam Thanh chia sẻ: “Đàn ông ở đây đi
biển cả ngày nên không tuyên truyền gì được, mỗi lần có chiến dịch
truyền thông thì chỉ có chị em phụ nữ quan tâm”. Không chỉ vùng nông
thôn, ngay cả ở những phường nội thị vấn đề dân số - KHHGĐ cũng gần
như khoán trắng cho phụ nữ. Những gia đình lao động nghèo, thu nhập
bấp bênh, người chồng lo bươn chải kiếm sống còn vợ phải lo việc nội
trợ, con cái nên không có người đàn ông nào quan tâm đến việc chăm
sóc SKSS cho vợ hay thực hiện KHHGĐ. Ngay cả gia đình công chức cũng
có quan niệm lệch lạc như thế. Chị Nguyễn Thị Lài - cán bộ chuyên
trách dân số phường An Mỹ kể: “Nhiều khi đi xuống từng gia đình để
tuyên truyền gặp lúc không có người vợ ở nhà thì các ông chồng cũng
từ chối không trò chuyện. Họ nói đó là việc của vợ”.
Một khi tình trạng bất bình đẳng vẫn còn tồn tại thì
chất lượng dân số vẫn chưa thể đảm bảo, hạnh phúc gia đình vẫn mong
manh. Đã có nhiều chị em chia sẻ rằng do không muốn sinh nhiều con
nên họ phải tự thực hiện các biện pháp tránh thai. Vừa phải lao động
kiếm sống vừa phải chăm sóc các con và tự lo kế hoạch hóa gia đình
đã trở thành gánh nặng quá lớn cho những người vợ. Chị Bùi Thị Lệ
Thủy - Phó Giám đốc Trung tâm Dân số-KHHGĐ TP.Tam Kỳ cho biết: “Vận
động nam giới thực hiện kế hoạch hóa gia đình rất khó, suốt 10 năm
nay Tam Kỳ không có ca đình sản nam giới nào; 100% đối tượng được tư
vấn chăm sóc SKSS-KHHGĐ là phụ nữ”.
“Một mái ấm hạnh phúc cần có sự bình đẳng chia sẻ
giữa các thành viên trong gia đình. Một điều tưởng chừng rất đơn
giản trong cuộc sống hiện đại nhưng chúng ta vẫn chưa đạt được bởi
nhận thức còn lệch lạc của nam giới” - các chị cộng tác viên dân số
nói.
THANH
XUÂN
Về đầu trang
Đẩy mạnh công tác truyền thông về DS-KHHGĐ: Mặt
trận và các thành viên cùng vào cuộc
Ổn định quy mô dân số, thực hiện kế hoạch hóa gia
đình để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ là
một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội
ở địa phương phát triển. Vì vậy, thời gian qua, Mặt trận và các tổ
chức thành viên trong tỉnh cũng đã tích cực đẩy mạnh công tác truyền
thông, nâng cao nhận thức cho người dân về dân số-kế hoạch hóa gia
đình (DS-KHHGĐ) với những việc làm thiết thực và hiệu quả.

Theo ông Nông Văn Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh
Đắk Nông thì cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời song văn
hóa ở khu dân cư” với một số tiêu chí thi đua cụ thể liên quan đến
DS-KHHGĐ đã đòi hỏi các gia đình, khu dân cư phải chú trọng vào vấn
đề này. Mỗi gia đình, mỗi khu dân cư để được công nhận văn hóa thì
trước hết cần phải đảm bảo được hai yếu tố là xóa đói giảm nghèo và
thực hiện KHHGĐ.
Trong số các tổ chức thành viên của Mặt trận thì Hội
phụ nữ và Đoàn thanh niên hiện là lực lượng chủ công trong công tác
này. Với Hội Phụ nữ, hàng năm, các cấp Hội phụ nữ đều phối hợp với
các trung tâm, trạm y tế phổ biến các kiến thức cần thiết về chăm
sóc sức khỏe sinh sản, DS-KHHGĐ, phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em
và thực hành dinh dưỡng cho đông đảo hội viên. Nhân kỷ niệm Ngày Dân
số thế giới (11-7), Ngày Dân số Việt Nam (26-12), Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh cũng chỉ đạo các cơ sở Hội tổ chức các hoạt động truyền
thông nâng cao kiến thức về chuẩn mực người phụ nữ Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới, kiến thức về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản,
phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi con theo khoa học... Việc
vận động chị em khám và điều trị bệnh, nhất là các cặp vợ chồng
trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện các biện pháp tránh thai, KHHGĐ, đưa
trẻ đi tiêm phòng… nhằm thực hiện quy mô gia đình ít con, khỏe mạnh,
hạnh phúc cũng được quan tâm hàng đầu. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu
năm 2011, các cấp Hội đã vận động được 20.076 chị tham gia khám phụ
khoa phòng tránh các bệnh lây nhiễm, khám thai theo định kỳ và đưa
con đi tiêm phòng đầy đủ. Thông qua công tác truyền thông, giáo dục
nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã giúp cho hội
viên, phụ nữ thay đổi nhận thức, hành vi trong chăm
bản thân, chủ động hơn trong việc áp dụng các biện
pháp tránh thai, KHHGĐ. Tương tự, thời gian qua, các cấp Đoàn trong
tỉnh cũng đã tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức
cho đoàn viên, thanh niên về DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
thành niên. Cùng với việc truyền thông qua các buổi sinh hoạt định
kỳ, lồng ghép trong những đợt về nguồn làm công tác xã hội, các cấp
Đoàn đã tạo được những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành
động của giới trẻ về DS-KHHGĐ. Đặc biệt, hiện nay, tình trạng nạo
phá thai trong giới trẻ ngày càng nhiều, thì việc phát huy vai trò
của Đoàn trong truyền thông, nâng cao nhận thức cho giới trẻ về tác
hại, cách phòng tránh những hậu quả đáng tiếc càng quan trọng. Bên
cạnh đó, các cấp Đoàn còn tổ chức nhiều buổi sinh hoạt tìm hiểu về
giới, kiến thức sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới… luôn thu hút được
nhiều bạn trẻ tham gia. Cùng với việc duy trì hoạt động hiệu quả hơn
300 câu lạc bộ “Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” với 12.386
thành viên ở 20 xã, phường trọng điểm thì các cấp Đoàn còn tổ chức
nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật và đạo đức lối sống, nhằm xây dựng người thanh niên có bản
lĩnh, lý tưởng, sống an toàn, lành mạnh.
Hoàng Bảo
Về đầu trang
“Điểm sáng” về dân số ở bon Sê Rê A, xã Đắk Som,
huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Bằng những cách làm hay, phù hợp với điều kiện thực
tế, trên địa bàn tỉnh hiện nay, không chỉ có các thôn người Kinh mà
đã có nhiều buôn, bon đồng bào dân tộc thiểu số trở thành những
“điểm sáng” trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ).
Tuyên truyền gắn với hướng dẫn làm kinh tế
Là một bon nằm ở vùng sâu, vùng xa, với 100% là đồng
bào dân tộc thiểu số, những năm gần đây, bon Sê Rê A, xã Đắk Som (Đắk
Glong) luôn đạt và vượt mức các chỉ tiêu đề ra và được công nhận 3
năm liền không có trường hợp sinh con thứ 3. Anh K’Loan, chuyên
trách công tác dân số của xã cho biết: “Để đạt được những kết quả
như ngày hôm nay là nhờ sự quan tâm sát sao của các cấp ủy Đảng,
chính quyền. Việc tuyên truyền, vận động thực hiện KHHGĐ luôn được
tiến hành cùng với việc hướng dẫn những cách thức làm kinh tế như
chọn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp, áp dụng khoa học kỹ thuật
vào sản xuất để dần cải thiện đời sống cho bà con. Chất lượng đời
sống được nâng cao đã làm thay đổi nhận thức của bà con trong việc
thực hiện KHHGĐ cũng như duy trì bền vững những kết quả đạt được
trong công tác dân số”. Anh K’Sạt, người dân trong bon tâm sự: “Nghe
theo cán bộ, vợ chồng mình cũng học cách chọn các giống cây trồng
cho năng suất cao để đưa vào sản xuất nên thu nhập của gia đình ngày
càng tăng, không còn phải lo thiếu ăn, thiếu mặc như trước nữa. Vợ
chồng mình lại có thêm điều kiện chăm lo cho con cái được học hành
đầy đủ”. Tương tự, nhiều gia đình khác như K’Tem, K’Danh, K’Ba… cũng
nhờ sinh ít con nên có điều kiện làm kinh tế, thoát khỏi cảnh nghèo
đói.
“Đi từng ngõ, gõ từng nhà”
Bon Bu Sốp ở xã Đắk Nia (Gia Nghĩa) hôm nay đã thay
đổi trong mọi lĩnh vực đời sống. Điều dễ nhận thấy nhất là các cặp
vợ chồng trẻ đều sinh ít con, không còn cảnh gia đình nào cũng “con
đàn, cháu đống” như trước đây nữa. Nhiều nhà cũng nhờ đó có điều
kiện làm kinh tế nên có của ăn của để, con cái được học hành đến nơi,
đến chốn. Người phụ nữ có điều kiện để chăm sóc bản thân và tham gia
các hoạt động xã hội ngày càng nhiều. Theo chị H’Sen, cộng tác viên
dân số của bon thì chỉ cách đây ít năm, việc sinh nhiều con trong
bon còn là chuyện bình thường. Nhà đông thì có từ 5 đến 9 con, nhà
nào ít nhất thì cũng phải 4 con. Vì đông con nên nhiều gia đình
không lo nổi cho con đi học, làm cho tình trạng kết hôn sớm càng phổ
biến hơn. Để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó, địa phương đã đề ra
phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” để tuyên
truyền, làm cho bà con hiểu rõ ý nghĩa của việc thực hiện KHHGĐ và
những lợi ích khi sinh ít con. Bên cạnh đó, địa phương còn chú trọng
đưa các dịch vụ KHHGĐ đến tận nơi để tất cả các đối tượng trong độ
tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận. Chính vì vậy, số lượng người dân
thực hiện các biện pháp tránh thai ngày càng tăng. Đặc biệt, hàng
năm đều có từ 3 đến 4 trường hợp tự nguyện đi đình sản; 100% phụ nữ
mang thai được quản lý tại trạm và các cơ sở y tế khác. Tỷ lệ tử
vong mẹ và tử vong sơ sinh hầu như không còn. Chị H Ngen, một người
dân trong bon tâm sự: “Sau khi sinh đứa con thứ hai thì cán bộ dân
số đến vận động nên vợ chồng mình đã quyết định không sinh thêm nữa.
Cũng nhờ nghe theo cán bộ dân số nên vợ chồng mình có thêm điều kiện
về thời gian cũng như sức khỏe để mở rộng việc làm ăn, buôn bán”.
Huy động cả cộng đồng vào cuộc
Bon Đắk Blao, thị trấn Kiến Đức (Đắk R’lấp) hiện có
trên 70% là đồng bào dân tộc tại chỗ. Trước đây, việc sinh đẻ được
bà con xem là tạo hóa ban cho nên tỷ lệ dân số của bon cũng theo đó
ngày càng tăng nhanh. Vì vậy, chính quyền địa phương đã đặt ra mục
tiêu phải giảm tỷ lệ sinh để góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.
Để làm được điều đó, địa phương đã xác định, công tác DS-KHHGĐ không
chỉ là việc của riêng cán bộ dân số mà là trách nhiệm của tất cả mọi
người. Ban dân số xã đã huy động những người có uy tín, nhất là già
làng và những người cao tuổi trong bon cùng “làm dân số”, đồng thời
thu hút thành viên của các đoàn thể trở thành những cộng tác viên
dân số thường xuyên. Nhờ đó, thông qua bất kỳ cuộc họp bon hay sinh
hoạt văn hóa nào cũng có thể lồng ghép để tuyên truyền các chính
sách về DS-KHHGĐ cho bà con. Đối với lứa tuổi thanh, thiếu niên, cán
bộ dân số chú trọng vận động tham gia vào các câu lạc bộ chăm sóc
sức khỏe sinh sản vị thành niên do thị trấn thành lập. Việc tham gia
vào các câu lạc bộ này không chỉ cung cấp cho các em những kiến thức
cơ bản về sức khỏe sinh sản để có thể tự chăm sóc mình mà còn truyền
đạt lại những kiến thức đó cho các thành viên khác trong gia đình.
Đặc biệt, những cặp vợ chồng sinh từ 1 đến 2 con luôn được nêu gương
điển hình trong các cuộc họp bon, bình xét gia đình văn hóa… Đồng
thời, cán bộ dân số cũng thu hút các cặp vợ chồng này trở thành
những “cộng tác viên” dân số nhiệt tình của bon để thuyết phục những
cặp vợ chồng khác thực hiện KHHGĐ.
Có thể nói, với những nỗ lực của ngành Y tế trong
việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền nên nhận thức của xã hội, cộng
đồng về công tác DS-KHHGĐ ngày càng được nâng cao. Nhờ đó, mức giảm
sinh trên địa bàn tỉnh cũng đã giảm đáng kể từ 28,1%o năm 2004 xuống
chỉ còn 22,9%o. Đặc biệt, nhận thức của bà con đồng bào dân tộc
thiểu số về chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng như thực hiện KHHGĐ đã
có những bước chuyển biến tích cực. Chỉ cách đây vài năm, hầu hết
đồng bào dân tộc thiểu số không mấy quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức
khỏe sinh sản, KHHGĐ, nhưng đến nay đã có trên 58% cặp vợ chồng sử
dụng biện pháp tránh thai; trên 60% phụ nữ đến các cơ sở y tế để
sinh đẻ, khám và điều trị phụ khoa. Nam giới tham gia thực hiện
KHHGĐ ngày càng tăng, thể hiện qua số lượng các ca đình sản nam và
tỷ lệ sử dụng bao cao su hàng năm… Những kết quả trên là tín hiệu
vui để ngành Y tế dần thực hiện thành công mục tiêu nâng cao chất
lượng dân số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bài, ảnh: Nguyễn Hiền
Về đầu trang
Ghi nhận công tác dân số KHHGĐ ở Hồng Sơn
Ngay từ đầu năm 2011, xã Hồng Sơn, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận
đã chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền DS – KHHGĐ mạnh mẽ bằng
nhiều hình thức nhằm tác động sâu sắc trong nhân dân. Công tác
truyền thanh được thực hiện thường xuyên trên 9 cụm loa FM trong các
bản tin thường ngày, nhất là tuyên truyền lưu động, băng rôn, khẩu
hiệu trong các đợt chiến dịch được thực hiện trên địa bàn xã. Chi,
tổ hội ở các khu dân cư tổ chức sinh hoạt lồng ghép trong các buổi
sinh hoạt nhóm, tổ phụ nữ, đồng thời tổ chức tư vấn chị em trong độ
tuổi sinh đẻ tại nhà về các kiến thức DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe
sinh sản. Nhờ đó người dân hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa tích cực của mô
hình gia đình ít con, có ý thức tốt hơn trong chăm sóc sức khỏe sinh
sản, có điều kiện chăm lo phát triển kinh tế gia đình.
Ngoài đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ngay từ đầu năm xã tiến
hành củng cố kiện toàn đội ngũ CTV dân số ở các thôn. Qua vận động
tìm hiểu, thuyết phục, đến nay đã củng cố được 21 CTV, đảm bảo hoạt
động ở các địa bàn 5 thôn trên toàn xã. Cán bộ chuyên trách xã và
các CTV hầu hết làm việc rất nhiệt tình, trách nhiệm vì cộng đồng
nên công tác này được duy trì tương đối đều và thường xuyên. Các đơn
vị liên quan như trạm y tế, mặt trận và các đoàn thể, Ban điều hành
thôn luôn tạo mọi điều kiện và có sự phối hợp tích cực trong công
tác DS- KHHGĐ. Nhất là trong 2 đợt chiến dịch tổ chức tại xã đã phối
hợp vận động đạt và vượt chỉ tiêu, được huyện đánh giá là xã có kết
quả chiến dịch khá nhất trong toàn huyện. Các chế độ thù lao cho CTV,
bồi dưỡng cho đối tượng thực hiện đình sản, đặt vòng đều được chi
trả kịp thời. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng UBND xã quan tâm bồi
dưỡng thêm 150.000 đồng cho mỗi ca đình sản, góp phần động viên
khuyến khích đối tượng tham gia thực hiện.
Nhờ đó từ đầu năm đến nay, toàn xã vận động được 152/190 ca
đặt vòng, đạt 80% kế hoạch, đình sản 5/8 ca đạt 63% kế hoạch. Tỷ lệ
giảm sinh hiện nay đạt 0,1% đảm bảo đạt chỉ tiêu đề ra.
Kết quả trên thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của các ngành, các
cấp trong việc lãnh, chỉ đạo, vận động đối tượng và nhân dân thực
hiện. Theo kế hoạch huyện giao từ nay đến cuối năm, Hồng Sơn phải
tiếp tục vận động 38 ca đặt vòng và 3 ca đình sản. Đây là chỉ tiêu
phấn đấu không phải khó nếu so với những năm trước đây, nhưng trong
tình hình hiện nay chỉ tiêu này là không dễ. Chị Phạm Thị Kiệm - cán
bộ chuyên trách DS - KHHGĐ xã cho biết, hiện nay phần lớn chị em
trong độ tuổi sinh đẻ đều nhận thức đúng đắn lợi ích của việc KHHGĐ
nên cũng chỉ muốn sinh từ 1 đến 2 con để lo làm ăn, phát triển kinh
tế gia đình. Thế nhưng khi lựa chọn biện pháp tránh thai, hầu hết
đều sử dụng thuốc viên, tiêm cấy dưới da hoặc sử dụng bao cao su là
chính. Những đối tượng này rất ngại thực hiện đặt vòng và đình sản
nên việc vận động thực hiện biện pháp này là rất khó khăn. Thực tế
từ đầu năm đến nay toàn xã đã có 227/210 đối tượng sử dụng thuốc
tránh thai đạt 108%, 85/85 đối tượng sử dụng thuốc tiêm đạt 100%.
Nhật Hiền
Về đầu trang
Cánh chim đầu đàn trong công tác DS - KHHGĐ
Với những thành tích và sự nỗ lực của cán bộ làm công tác dân
số, kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ), nhiều năm qua Trung tâm DS –
KHHGĐ huyện Than Uyên , Lao Cai được Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh đánh
giá là cánh chim đầu đàn trong công tác DS - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh.
Những năm trở lại đây quy mô dân số trên địa bàn huyện Than
Uyên tương đối ổn định, tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở
lên hàng năm giảm từ 1,5 - 2%, số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp
tránh thai (BPTT) hàng năm tăng 2 - 3%.
Hiện nay, huyện Than Uyên có 12 trạm y tế xã, thị trấn. Trong
đó có 7 trạm đạt chuẩn quốc gia về y tế, 12 cán bộ dân số, kế hoạch
hóa gia đình (DS-KHHGĐ) chuyên trách và 175/162 cộng tác viên DS-KHHGĐ
ở 100% thôn, bản. Mặc dù tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên địa bàn
giảm song vẫn còn cao, ở một số xã vẫn còn tình trạng tảo hôn và kết
hôn cận huyết thống...
Để thực hiện tốt kế hoạch đề ra, Trung tâm DS-KHHGĐ huyện chủ
động phối hợp với các ban, ngành, địa phương đa dạng hóa công tác
tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: lưu động, trên hệ thống loa
truyền thanh, cấp phát tờ rơi, truyền thông lồng ghép trong các kỳ
sinh hoạt Đoàn, Đội, trong các buổi họp ở các khu dân cư, các ban,
ngành, đoàn thể. Đặc biệt trung tâm đã tham mưu đưa tiêu chí thực
hiện công tác DS - KHHGĐ vào quy ước, bình xét tiêu chuẩn khu phố,
thôn bản văn hóa, chi bộ trong sạch vững mạnh, khen thưởng hàng năm;
xử lý, kỷ luật cán bộ, đơn vị vi phạm chính sách DS - KHHGĐ...
Mặt khác, tăng cường tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, kỹ năng truyền thông cho đội ngũ cộng tác viên DS-KHHGĐ ở
cơ sở nhằm giúp họ có khả năng tuyên truyền tốt nhất.
Với phương châm “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”,
trong đó chú trọng đến các cặp vợ chồng sinh con một bề, đội ngũ
cộng tác viên luôn bám sát các khu dân cư, nắm bắt nguyện vọng, tìm
hiểu thực tế, đến từng gia đình trong độ tuổi sinh đẻ, từ đó tuyên
truyền nâng cao nhận thức cho người dân về chính sách DS-KHHGĐ với
việc phát triển kinh tế gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản theo
phương châm “DS-KHHGĐ vì sức khỏe, hạnh phúc của mỗi gia đình và sự
phát triển bền vững của đất nước”. Tăng cường phối hợp với Đội sức
khỏe sinh sản, các trạm y tế kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ dân
số ở cơ sở, cập nhật thông tin, thống kê báo cáo, theo dõi biến động
dân cư...
Cùng với thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ, Trung tâm DS -
KHHGĐ huyện thường xuyên phối hợp với trung tâm y tế, trạm y tế các
xã, thị trấn tổ chức tốt các đợt chiến dịch đưa dịch vụ KHHGĐ đến
vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và tổ chức giám sát chiến dịch có
hiệu quả.
Trao đổi với chúng tôi, bà Trần Thị Oanh - Quyền Giám đốc
Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Than Uyên cho biết: "Để thực hiện được mục
tiêu giảm sinh và nâng cao chất lượng dân số trong thời gian tới,
Trung tâm sẽ tiếp tục xây dựng kế hoạch, tham mưu cho lãnh đạo huyện
đề ra những biện pháp, chế tài xử phạt mạnh hơn nữa nhằm hạn chế
tình trạng sinh con thứ 3 để bình ổn quy mô dân số, từ đó dần nâng
cao chất lượng cuộc sống của người dân".
Với những kết quả và sự nỗ lực của cán bộ làm công tác DS -
KHHGĐ, nhiều năm qua Trung tâm được UBND tỉnh, Sở Y tế tặng Bằng
khen, Giấy khen…
Nguyễn Thúy
Về đầu trang
Thôn 22 năm
không có người sinh con thứ 3
Xác định công tác dân số/kế hoạch hóa gia đình là một nhiệm
vụ quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng
an ninh của địa phương, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền thôn Bảo
Thịnh, xã Minh Bảo, TP Yên Bái đã tập trung làm tốt công tác tuyên
truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ.
Để công tác DS-KHHGĐ đạt kết quả cao, lãnh đạo thôn đã cùng
với ban công tác Mặt trận và cán bộ y tế thôn, cộng tác viên dân số
thường xuyên đến vận động các hộ gia đình, đặc biệt là các cặp vợ
chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện mô hình gia đình ít con. Tập
trung tuyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn, họp đoàn thể.
Hàng tháng, cán bộ dân số phối hợp cùng Hội Phụ nữ, Trạm Y tế xã tổ
chức sinh hoạt, hướng dẫn chị em áp dụng các biện pháp tránh thai
hiện đại để bảo vệ sức khỏe, giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Cùng với đó, để giúp người dân hiểu hơn về lợi ích thiết thực
của việc thực hiện KHHGĐ, cán bộ y tế, dân số của thôn căn cứ vào
các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) từ thành phố
triển khai đến xã đều vận động các chị em trong độ tuổi sinh đẻ đi
khám, tư vấn, chữa trị các bệnh phụ khoa, hướng dẫn chế độ dinh
dưỡng cho bà mẹ mang thai và ý nghĩa của việc xây dựng mô hình gia
đình ít con. Vì vậy, hàng năm gần 100% các chị em trong độ tuổi sinh
đẻ ở thôn đều tham gia các chiến dịch CSSKSS, 100% các cháu trong độ
tuổi đều được tiêm phòng đầy đủ các loại vac xin phòng bệnh. Năm
2010, cả thôn có 2 cháu bị suy dinh dưỡng thì đến năm 2011 không còn
trường hợp nào bị suy dinh dưỡng.
Chị Lương Thị Hương, thôn Bảo Thịnh tâm sự: “Mình sinh 2 con
đều là con gái,hiện cháu lớn đã học xong lớp 12, cháu thứ 2 đang
học lớp 7. Được cán bộ dân số và Hội Phụ nữ thôn thường xuyên tuyên
truyền về công tác CSSKSS, các chính sách dân số, đã giúp mình nâng
cao nhận thức về chính sách dân số, không muốn sinh thêm con để tập
trung phát triển kinh tế và chăm sóc con cái học hành tiến bộ. Để
công tác DS-KHHGĐ đạt kết quả cao, chi bộ thôn Bảo Thịnh đã chú
trọng xây dựng những nghị quyết chuyên đề, định hướng cho các đoàn
thể và cộng tác viên dân số, y tế thôn, bản thực hiện. Đồng thời lấy
đó làm tiêu chí đánh giá phân xếp loại đảng viên.
Nhờ thực hiện tốt khâu tuyên truyền, vận động, đến nay thôn
có trên 90% hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa, thôn nhiều năm liên
tục đạt danh hiệu thôn văn hóa, chi bộ, các ban, ngành, đoàn thể
thôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đời sống vật chất tinh thần
của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Hiện thôn có trên 60% người dân
có mức sống khá và giàu, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7%.
Đường làng ngõ xóm khang trang sạch đẹp, nhân dân đoàn kết,
giúp đỡ nhau cùng phát triển kinh tế. Với những kết quả đạt được,
thôn Bảo Thịnh đã và đang trở thành thôn có những đóng góp tích cực
vào công tác DS-KHHGĐ của xã Minh Bảo và xứng đáng là mô hình hay
cần được nhân rộng.
Lê Hương
Về đầu trang
Các gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc
phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh
Ðể chung tay với ngành dân số giải quyết tình trạng
mất cân bằng giới tính khi sinh nan, từ năm 2009, dưới sự chỉ đạo và
hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN),
Ủy ban MTTQVN tỉnh Thái Bình đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm
điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải)
và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau 3 năm triển khai, mô hình đã góp phần
làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói
riêng và cả tỉnh nói chung.
Thái Bình vốn là tỉnh đất chật, người đông, ngay từ
những năm 80 của thế kỷ trước, toàn tỉnh đã đẩy mạnh quyết tâm hạ
thấp tỷ lệ sinh, nâng cao chất lượng dân số, do đó công tác dân số
của tỉnh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng
giới tính khi sinh lại có chiều hướng gia tăng. Ðể chung tay với
ngành dân số giải quyết bài toán nan giải này, từ năm 2009, dưới sự
chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
(MTTQVN), Ủy ban MTTQVN tỉnh đã xây dựng và tổ chức thực hiện làm
điểm mô hình "Gia đình tín hữu công giáo tham gia khắc phục tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh" ở hai xã: Nam Hải (Tiền Hải)
và Ðông Cường (Ðông Hưng). Sau 3 năm triển khai, mô hình đã góp phần
làm giảm sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở hai xã làm điểm nói
riêng và cả tỉnh nói chung.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng mất cân bằng
giới tính khi sinh là do tư tưởng trọng nam, khinh nữ đã ăn sâu, bám
rễ trong suy nghĩ, hành động của nhiều người, để thay đổi không phải
một sớm, một chiều là có thể làm được. Sự can thiệp của y học hiện
đại ngày nay trong việc xác định giới tính thai nhi vô tình lại càng
khiến cho tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trở nên đáng lo
ngại hơn…
Khó khăn thì vô vàn, nhưng nhờ có sự chỉ đạo thường
xuyên của Ủy ban Trung ương MTTQVN, hỗ trợ kinh phí của Quỹ dân số
Liên hiệp quốc (Văn phòng UNFA); MTTQ các cấp có ít nhiều kinh
nghiệm trong việc lồng gắn chương trình dân số vào nội dung hoạt
động; cán bộ mặt trận vốn gần gũi, thân thiết với các vị chức sắc,
chức việc, quan trọng hơn cả là nội dung, ý nghĩa của mô hình phù
hợp với giáo lý, giáo luật tôn giáo, thiết thực phục vụ xây dựng
cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo" của gia đình giáo dân nên việc tuyên
truyền, vận động diễn ra tương đối thuận lợi, nhanh chóng tạo được
sự đồng thuận. Ðảng ủy 2 xã làm điểm đã đưa việc tham gia khắc phục
mất cân bằng giới tính khi sinh vào nội dung Nghị quyết Ðại hội Ðảng
bộ xã, kêu gọi cán bộ, đảng viên, các vị chức sắc, gia đình tín hữu
công giáo, lương giáo tích cực hưởng ứng.
Ngay sau khi 2 xã điểm thành lập ban điều hành, 4
nhóm sinh hoạt (mỗi xã 2 nhóm, mỗi nhóm 100 thành viên là người công
giáo tuổi từ 18 đến 60) cũng được ra mắt. Ðể tranh thủ tiếng nói của
các vị linh mục, trùm trưởng xứ họ đạo, chủ nhiệm các nhóm ít nhất
phải có một vị chức sắc tôn giáo tham gia. Theo yêu cầu của cơ sở,
mỗi xã tiến hành thành lập thêm 4 nhóm, thành phần là người lương
giáo, trước là để thu hút nhiều người tham gia, sau là tránh sự phân
biệt giữa các tổ chức giáo hội. Tiếp theo đó, tiến hành tổ chức cho
các thành viên ký cam kết thực hiện mô hình và tham gia sinh hoạt
định kỳ. MTTQ tỉnh thường xuyên hỗ trợ 2 xã tổ chức sinh hoạt nhóm,
cử người xuống đôn đốc, kiểm tra, trực tiếp đứng lên mời các vị linh
mục, báo cáo viên cấp tỉnh về truyền giảng tại các nhà thờ và hội
trường UBND xã.
Trong 3 năm qua, mỗi nhóm tổ chức sinh hoạt được 9 kỳ.
Nội dung sinh hoạt xoay quanh những chủ đề chính là: Thực trạng,
nguyên nhân, hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh,
kèm theo là những lời tham vấn, lời khuyên của Giáo hội, của những
người làm công tác dân số, mặt trận với đồng bào giáo dân và lương
dân hãy tham gia tích cực ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới
tính khi sinh để nâng cao chất lượng dân số. Các nội dung: Luật Bình
đẳng giới, quy định của giáo luật về bạo lực gia đình, hôn nhân gia
đình, chính sách dân số, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, phương
pháp xây dựng gia đình hạnh phúc, trách nhiệm của mỗi người trong
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư… cũng được truyền tải tới học
viên.
Không chỉ có hình ảnh minh họa hấp dẫn, tại lớp
truyền thông các học viên còn được trao đổi thẳng thắn, thân mật về
nội dung bài giảng với linh mục và báo cáo viên, nên nhiều người
không phải thành viên của nhóm cũng đến tham dự, có buổi lên tới 600
người. Các lớp về giáo lý hôn nhân được tiến hành thường xuyên, MTTQ
in ấn, phát hàng nghìn tờ tài liệu giúp các học viên hiểu thêm về
hậu quả của việc mất cân bằng giới tinh khi sinh và tham gia khắc
phục.
Không dừng lại ở các giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh
thực hiện mô hình, MTTQ các cấp còn gắn kết mô hình với các phong
trào "Dân vận khéo", xây dựng chùa cảnh, xứ, họ đạo "4 gương mẫu",
cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư"… đã có tác động hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường hiệu quả làm thay
đổi nhận thức và hành vi sinh đẻ có kế hoạch của nhân dân nói chung,
đồng bào theo đạo nói riêng. Bình quân trong 5 năm (2004- 2008), tỷ
lệ giới tính khi sinh ở xã Nam Hải là 108,8 nam/100 nữ, đến cuối năm
2011, giảm xuống còn 106 nam/100 nữ. Còn ở Ðông Cường, nếu như năm
2007, cấp ủy, chính quyền, MTTQ lo lắng vì tỷ lệ sinh nam nhiều hơn
nữ (48 nam/45 nữ), thì sau 3 năm cố gắng, nỗ lực thực hiện mô hình
tình thế đã đảo ngược (26 nam/34 nữ). Với toàn tỉnh, tỷ lệ nam/nữ
khi sinh cũng có chiều hướng giảm: từ 115/100 (năm 2008) xuống còn
114/100 (năm 2011). Với kết quả đáng mừng này, Trung ương MTTQVN đã
chỉ đạo MTTQ tỉnh nhân rộng mô hình này để góp phần cùng ngành dân
số khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao
chất lượng dân số hơn nữa.
Thu Hiền
Về đầu trang
Cao Bằng tăng cường đưa công tác Dân số vào
hương ước, quy ước thôn, xóm
Việc đưa một số quy định của chính sách Dân số -
KHHGĐ vào hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, xóm là việc làm
cần thiết để mọi người dân trong cộng đồng cùng tham gia thực hiện
tốt chính sách Dân số - KHHGĐ. Những năm gần đây, cùng với việc đổi
mới hệ thống pháp luật phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội bằng pháp luật, các hương ước, quy ước của thôn, xóm, bản,
làng đã hỗ trợ không nhỏ trong việc thực hiện pháp luật của Nhà nước,
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tính tự quản trong cộng đồng
xã hội.
Tại Cao Bằng, từ năm 1993 đến nay, Tỉnh uỷ, HĐND,
UBND tỉnh đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quyết định về công
tác Dân số - KHHGĐ, được các phương tiện truyền thông đại chúng, các
hoạt động truyền thông cộng đồng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi
trong các cấp, ngành, đoàn thể và toàn thể cộng đồng. Trong đó, có
sự lồng ghép trong nội dung các Quy định về nếp sống văn hoá trong
cộng đồng dân cư; Quy ước nếp sống văn hoá người Mông ở tỉnh; Quy
ước nếp sống văn hoá người Dao... Chính sự lồng ghép này đã phát huy
thuần phong, mỹ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lý và đạo đức truyền
thống của dân tộc, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho cuộc vận động thực
hiện chính sách Dân số - KHHGĐ, thực hiện tốt các mục tiêu giảm sinh,
giảm sinh con thứ ba trở lên; giảm tình trạng kết hôn tảo hôn và hôn
nhân cận huyết thống; tư vấn và khám sức khoẻ tiền hôn nhân..., góp
phần xoá đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn một số
hạn chế, như: việc xây dựng hương ước, quy ước ở một số nơi chưa
được tiến hành một cách khoa học, nội dung soạn thảo cùng với các
quy định mới chỉ là công việc của một tổ chức hay một nhóm người,
chưa có sự bàn thảo, thông tin hai chiều về nội dung các quy định
cần có sự sửa đổi hoặc bổ sung cho sát với tình hình thực tế của địa
phương. Nội dung hương ước, quy ước còn một số hạn chế, chưa phản
ánh đúng tình hình, đặc điểm KT - XH, truyền thống văn hoá, phong
tục, tập quán của từng địa phương. Nhất là việc quy định thực hiện
chính sách Dân số -KHHGĐ còn chung chung, chưa cụ thể hoá các tiêu
chí cần có trong triển khai thực hiện. Những năm qua, việc triển
khai xây dựng hương ước, quy ước ở các làng, bản, thôn, xóm đã được
tiến hành với sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, có sự
phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể. Ban chỉ đạo UBND các cấp đã
tiến hành rà soát chính sửa, bổ sung cho phù hợp với phong tục, tập
quán và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Chính sách
Dân số - KHHGĐ được đa số bản làng đưa vào hương ước nhưng tiêu chí
còn chung chung, chưa thể hiện đầy đủ và cụ thể các yêu cầu cơ bản,
như: Dân số là gì? Gia đình là gì? Tại sao phải thực hiện KHHGĐ và
thực hiện như thế nào theo đúng quy định của chính sách Dân số-KHHGĐ
trong giai đoạn mới.
Công tác dân số - KHHGĐ về bản chất là một cuộc vận
động xã hội có liên quan trực tiếp đến các nhóm: Hộ gia đình; Cặp vợ
chồng trong độ tuổi sinh đẻ; Nam giới làm chủ hộ gia đình; Vị thành
niên, thanh niên, cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và người có uy
tín trong cộng đồng. Do vậy trong thời gian tới những quy định về
công tác Dân số-KHHGĐ, đặc biệt là các quy định về chế đô, chính
sách trong thực hiện Dân số - KHHGĐ khi lồng ghép đưa vào hương ước,
quy ước của làng, bản cần cụ thể hơn để các ban, ngành, đoàn thể và
mọi người dân dễ hiểu và dễ triển khai thực hiện.
Khánh
Duy
Về đầu trang
Nỗ lực nâng cao chất lượng dân số ở Vĩnh Linh,
Quảng Trị
Sinh ra những đứa con khỏe mạnh, từ đó nâng cao chất
lượng dân số- chất lượng cuộc sống, là vấn đề được toàn xã hội quan
tâm. Đề án “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền, vận
động phát hiện can thiệp sớm tật, bệnh ở thai nhi và sơ sinh” (gọi
tắt là đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh) được triển khai thực
hiện từ năm 2009 ở 5 huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong
và Hải Lăng (Quảng Trị) có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát hiện
thai nhi bị dị tật sớm để có các biện pháp can thiệp, điều trị kịp
thời, giảm bớt nỗi đau cho gia đình và giảm gánh nặng cho xã hội.
Qua 2 năm triển khai thực hiện, huyện Vĩnh Linh trở
thành điểm sáng trong tuyên truyền, vận động phát hiện sớm tật, bệnh
ở thai nhi và sơ sinh, tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động
của các cấp ủy đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân, góp phần
nâng cao chất lượng “đầu vào” của quá trình dân số, từ đó nâng cao
chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống cho mọi người.
Nhằm nâng cao nhận thức về sàng lọc trước sinh và sơ
sinh cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn 19 xã, thị trấn (năm 2010
có 12 xã, thị trấn tham gia, đến năm 2011 có thêm 7 xã, thị trấn
tham gia đề án) triển khai thực hiện đề án, Trung tâm Dân số- KHHGĐ
huyện Vĩnh Linh phối hợp với Chi cục Dân số- KHHGĐ tỉnh mời giảng
viên là các bác sĩ có kinh nghiệm ở trung ương về tham gia tập huấn
kỹ năng tuyên truyền, vận động thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ
sinh cho 100% cán bộ dân số, cán bộ y tế xã, cộng tác viên, tuyên
truyền viên dân số.
Các hoạt động chiến dịch tuyên truyền thực hiện chính
sách dân số- KHHGĐ, các buổi tọa đàm, hội nghị, tư vấn cộng đồng,
nói chuyện chuyên đề, lồng ghép tuyên truyền về ý nghĩa, lợi ích của
việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh đã thu hút hàng ngàn đối tượng
tham gia. Cùng với việc nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về
lợi ích của việc sàng lọc trước sinh và sơ sinh, Trung tâm Dân số-
KHHGĐ, Tiểu BQL đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh huyện Vĩnh Linh
đã chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng thực hiện siêu âm phát
hiện tật, bệnh bẩm sinh cho thai nhi, kỹ thuật lấy máu gót chân để
sàng lọc…
Đến nay, các tuyến y tế từ huyện đến xã đều có thể
thực hiện các kỹ thuật cơ bản trong sàng lọc trước sinh và sơ sinh,
có 80-90% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và 100% phụ nữ đang mang thai
ở 19 xã, thị trấn hưởng lợi trên địa bàn huyện đã được tư vấn, tuyên
truyền vận động và sẵn sàng tham gia thực hiện đề án. Bệnh viện đa
khoa Vĩnh Linh là đơn vị duy nhất đã tiến hành thực hiện kỹ thuật
lấy máu gót chân để sàng lọc sơ sinh, được Trung tâm Sàng lọc trước
sinh và sơ sinh khu vực miền Trung đánh giá đạt kết quả tốt.
Bác sĩ Lê Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Bệnh viện đa khoa
Vĩnh Linh, người trực tiếp phụ trách chương trình sàng lọc sơ sinh ở
Vĩnh Linh, cho biết: Việc sàng lọc tật, bệnh bẩm sinh ở thai nhi và
trẻ sơ sinh là công việc khá mới mẻ và lạ lẫm đối với người dân.
Thời gian gần đây, rất nhiều thai phụ đã đến Bệnh viện đa khoa Vĩnh
Linh để được kiểm tra sức khỏe của người mẹ lẫn thai nhi, siêu âm
phát hiện sớm các bệnh như: não úng thủy, thoát vị cơ hoành, thoát
vị rốn, dị dạng ở tay, chân, thai vô sọ, khuyết tật ống thần kinh,
khuyết tật về tim... từ đó có hướng điều trị và can thiệp kịp thời
cho thai nhi.
Tuy nhiên, việc siêu âm phát hiện sớm tật, bệnh cho
thai nhi ở Vĩnh Linh vẫn chưa làm được vì thiếu máy móc, trang thiết
bị hiện đại đảm bảo yêu cầu. Còn việc triển khai kỹ thuật lấy máu
gót chân (sàng lọc sơ sinh) để xét nghiệm sàng lọc các bệnh thiếu
men G6PD (gây biến chứng vàng da, dẫn đến biến chứng về não có thể
tử vong hay biến chứng thần kinh, chậm phát triển tâm thần, vận động),
suy tuyến giáp trạng bẩm sinh (gây chậm phát triển trí tuệ- bệnh
down) và tăng sản lượng thận bẩm sinh (khiến bộ phận sinh dục nửa
nam, nửa nữ) được Bệnh viện đa khoa Vĩnh Linh thực hiện từ tháng
9/2011.
Chỉ trong vòng 7 ngày triển khai thực hiện kỹ thuật
lấy máu gót chân, bệnh viện đã lấy đủ hết số mẫu đề án chuyển về (30
mẫu) để gửi đến Trường Đại học Y dược Huế (Trung tâm Sàng lọc trước
sinh và sơ sinh khu vực miền Trung) xét nghiệm, trong đó có 29 mẫu
đạt yêu cầu kỹ thuật, được trung tâm đánh giá rất cao. Khó khăn nhất
hiện nay trong thực hiện đề án là thiếu máy siêu âm hiện đại để sàng
lọc trước sinh và thiếu mẫu lấy máu gót chân để sàng lọc sơ sinh,
nên nhu cầu của người dân thì nhiều bệnh viện đành “lực bất tòng tâm”.
Để đề án Sàng lọc trước sinh và sơ sinh mang lại hiệu
quả như mong muốn, huyện Vĩnh Linh cần được trang bị đầy đủ phương
tiện máy móc, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ nhu cầu khám,
siêu âm, xét nghiệm, phát hiện sớm bệnh, tật và có hướng điều trị,
can thiệp kịp thời cho thai nhi và trẻ sơ sinh, góp phần nâng cao
chất lượng dân số.
Về lâu dài, để xây dựng và duy trì hoạt động mạng
lưới sàng lọc trước sinh và sơ sinh, đảm bảo tất cả các xã, thị trấn
trong huyện triển khai sàng lọc trước sinh bằng kỹ thuật siêu âm đòi
hỏi có sự phối hợp chặt chẽ và sự hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên từ
trung ương cho đến tỉnh, huyện và sự tham gia tích cực của cộng đồng.
Có như vậy mới giảm thiểu được các tật, bệnh bẩm sinh đáng tiếc xảy
ra, giảm bớt nỗi đau cho gia đình và gánh nặng cho xã hội, góp phần
nâng cao chất lượng dân số, nâng cao sức khỏe cho mọi người.
THANH HẢI
Về đầu trang
Mô hình CLB không sinh con
thứ 3 ở Hưng Yên góp phần nâng cao chất lượng dân số
Nhằm đưa chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
(DS – KHHGĐ) vào cuộc sống, góp phần giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 và
giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh, những năm qua, tỉnh Hưng
Yên đã xây dựng và triển khai nhiều mô hình truyền thông có hiệu quả.
Tiêu biểu là mô hình Câu lạc bộ “Không sinh con thứ 3” ở các thôn,
xã trên địa bàn tỉnh.
Theo Chi cục DS – KHHGĐ tỉnh trên địa bàn Hưng Yên đã
thành lập được gần 300 mô hình “CLB không sinh con thứ 3”. Mô hình
này có sự phối hợp giữa Ban DS – KHHGĐ xã với hội phụ nữ, đoàn thanh
niên và hội người cao tuổi. Với các hoạt động thiết thực như: tuyên
truyền vận động các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện kế
hoạch hóa gia đình; tư vấn các biện pháp tránh thai, phòng tránh
thai ngoài ý muốn; trao đổi kinh nghiệm về cách làm mẹ an toàn, nuôi
con theo khoa học…mô hình CLB không sinh con thứ ba đã góp phần
quan trọng trong việc thực hiện chính sách DS – KHHGĐ và phát triển
kinh tế - xã hội ở từng địa phương. Ông Vũ Văn Nhạ, Phó Chi cục
trưởng Chi cục DS- KHHGĐ tỉnh Hưng Yên cho biết: “Việc thành lập Câu
lạc bộ không sinh con thứ 3 là một giải pháp thiết thực góp phần
giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và giảm tỷ lệ sinh con
thứ 3. Vì vậy, thời gian tới, Chi cục sẽ tăng cường phối hợp với các
cấp hội phụ nữ và đoàn thể để nhân rộng mô hình này trên toàn tỉnh”.
Nhận biết được tầm quan trọng của việc thực hiện kế
hoạch hóa gia đình, năm 2005, Chi hội phụ nữ xã Trung Hòa (huyện Yên
Mỹ) đã thành lập CLB không sinh con thứ 3 ở thôn Nội Tây. Những ngày
đầu thành lập, CLB gặp rất nhiều khó khăn trong công tác vận động
chị em. Chị Trần Thị Hường, Chủ nhiệm CLB cho biết: “Tranh thủ thời
gian vào các buổi tối hay vào những lúc nông nhàn, chúng tôi đến
từng nhà, vừa tâm sự vừa giải thích cho các chị em hiểu được lợi ích
của việc sinh đẻ có kế hoạch, đẻ ít con. Ban đầu do có nhiều chị em
trình độ học vấn còn thấp, mang nặng tư tưởng “trọng nam khinh nữ”
nên công tác tuyên truyền, vận động gặp rất nhiều khó khăn”. Ngoài
việc đến từng nhà vận động, CLB còn lồng ghép nội dung tuyên truyền
sinh đẻ có kế hoạch vào các buổi họp thôn, buổi sinh hoạt của đoàn
thanh niên, hội nông dân, hội người cao tuổi để khuyến khích chị em
tích cực tham gia. Ngày mới thành lập, CLB chỉ có 15 hội viên tham
gia, đến nay, sau 7 năm hoạt động, số hội viên tăng lên 40 người.
Định kỳ 3 tháng, CLB tổ chức sinh hoạt một lần. Mỗi lần sinh hoạt
theo một chủ đề, với mỗi chủ đề các chị em được phát tài liệu, sách
báo để tham khảo, đồng thời các chị trong CLB thường xuyên chia sẻ,
trao đổi kinh nghiệm của bản thân, qua đó giúp chị em trang bị thêm
kiến thức về KHHGĐ và chăm sóc gia đình. Đến nay, 100% cặp vợ chồng
trong độ tuổi sinh đẻ ở xã đều sử dụng các biện pháp tránh thai, 6
năm liền CLB không có trường hợp nào sinh con thứ 3. Chị Nguyễn Thị
Hảo, thôn Nội Tây (xã Trung Hòa, Yên Mỹ), thành viên CLB cho biết:
“Từ khi tham gia CLB, tôi đã nhận thức rõ hơn về ý nghĩa thiết thực
của việc sinh ít con. Mặc dù vợ chồng tôi sinh được hai con gái,
nhưng chúng tôi quyết định không sinh tiếp, vì dừng lại ở hai con,
chúng tôi có thêm điều kiện và thời gian để chăm sóc, nuôi dạy con
cái tốt hơn”. Tham gia CLB, các chị em không những được tư vấn về
kiến thức KHHGĐ, cách xây dựng gia đình hạnh phúc, lối sống văn
minh, lành mạnh, phòng chống tình trạng bạo lực trong gia đình, nuôi
con khỏe, dạy con ngoan mà còn phát huy được tinh thần tương thân,
tương ái, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Để giúp nhau trong phát
triển kinh tế, các chị em sinh hoạt trong CLB đã thành lập tổ tiết
kiệm, mỗi tổ gồm khoảng 10 thành viên, mỗi thành viên trong tổ đóng
góp 1 triệu đồng/ tháng. Số tiền tiết kiệm được hàng tháng sẽ cho
hội viên vay để tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế. Đây chính là
một cách làm hay và sáng tạo của CLB “Không sinh con thứ 3” thôn Nội
Tây.
Mô hình CLB “Không sinh con thứ 3” không chỉ được
phát triển ở Yên Mỹ mà còn được nhân rộng ra nhiều địa phương khác
trên địa bàn tỉnh, trong đó Ân Thi cũng là một điểm sáng về việc
thực hiện mô hình này. Được thành lập từ năm 2009, đến nay, CLB
“không sinh con thứ 3” của thôn Gia Cốc (xã Quang Vinh), đã thu hút
gần 50 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tham gia sinh hoạt. CLB đã chủ
động xây dựng nội dung, kế hoạch hoạt động cụ thể, phù hợp với từng
đối tượng. Theo chị Nguyễn Thị Tuyết, Chủ nhiệm CLB thì nhiệm vụ
trọng tâm của CLB là tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho phụ nữ
trong thôn về DS – KHHGĐ cũng như tư vấn các vấn đề liên quan đến
chăm sóc sức khỏe sinh sản, làm mẹ an toàn, thực hiện các biện pháp
tránh thai hiện đại. Tham gia CLB, chị em thường xuyên được cập nhật
thông tin về đời sống, xã hội, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, cũng như nâng cao kiến thức về KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe
sinh sản. Với những hình thức tuyên truyền phong phú, đến nay, 100%
chị em trong độ tuổi sinh đẻ của thôn đã tự nguyện đăng ký tham gia
phong trào xây dựng gia đình theo tiêu chuẩn “no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc” với phương châm “dù gái hay trai, chỉ hai là đủ”. Nhờ
đó cuộc sống của người dân trong thôn từng bước được cải thiện,
không còn hộ nghèo. Bên cạnh đó, trẻ em sinh ra có điều kiện được
chăm sóc hợp lý về dinh dưỡng, sức khỏe và được tiêm chủng đầy đủ
nên không còn tình trạng suy dinh dưỡng… Chị Nghiêm Thị Chín, thành
viên CLB tâm sự: ”Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê thuần nông, nên
tư tưởng phải sinh bằng được con trai để nối dõi tông đường luôn
thường trực trong tôi. Khi lập gia đình, tôi lại sinh được hai cô
con gái. Lúc đó tôi rất chán và có ý định sinh tiếp cháu thứ 3. Biết
được tâm lý đó của tôi, các chị em trong CLB đã đến động viên, phân
tích điều hơn lẽ thiệt, giúp tôi nhận ra lợi ích của việc đẻ ít con.
Từ đó, vợ chồng tôi tập trung vào làm ăn và nuôi dạy hai con học
hành. Bây giờ, nhìn thấy các cháu ngoan ngoãn, học hành giỏi giang,
vợ chồng tôi thấy rất hãnh diện và tự hào”.
Câu lạc bộ “Không sinh con thứ 3” có vai trò quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số và xây dựng gia đình no
ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Trong những năm qua, nhờ hoạt
động thiết thực của mô hình Câu lạc bộ không sinh con thứ 3 mà tỷ lệ
phát triển dân số và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trên toàn tỉnh đều
giảm. Số sinh toàn tỉnh năm 2011 là 17.893 trẻ, trong đó có 8.370
trẻ nữ. So với năm 2009 tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh
đã giảm mạnh từ 131 nam/100 bé nữ xuống còn 120 nam/ 100 nữ vào năm
2011. Số con thứ 3 trở lên được sinh ra là 1615 trẻ, chiếm 8,5% (tỷ
lệ này năm 2009 là 9,2%). Nhận thức của nhân dân chuyển biến rõ rệt,
quy mô gia đình 1 đến 2 con được chấp nhận ngày càng rộng rãi, tốc
độ gia tăng dân số đã được khống chế, chất lượng dân số từng bước
được nâng cao. Hơn 10 năm nay, tỷ lệ tăng dân số bình quân của tỉnh
là 0,5%, thấp hơn bình quân toàn quốc. Tỷ lệ phát triển dân số của
tỉnh giảm từ 1,24% năm 2000 xuống còn 0,92% năm 2011. Tỷ lệ sử dụng
các biện pháp KHHGĐ tăng từ 77,1% năm 2000 lên 80% năm 2011, vượt
chỉ tiêu đề ra. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, mô hình CLB
không sinh con thứ 3 vẫn gặp rất nhiều khó khăn như: các chi phí cho
hoạt động của CLB rất hạn chế; tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn
ăn sâu bám rễ vào tiềm thức của không ít người dân nên việc tuyên
truyền gặp nhiều khó khăn. Hi vọng, trong thời gian tới, nhờ hoạt
ddoonhj tích cực các CLB “Không sinh con thứ 3” sẽ được các cấp, các
ngành quan tâm hơn nữa để góp phần giảm thiểu mất cân bằng giới tính
khi sinh và nâng cao chất lượng dân số.
VŨ HUẾ
Về đầu trang
Trưởng thành từ công tác Dân số ở xã Việt Thống,
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Trong số 10 CTV dân số của xã Việt Thống (Quế Võ),
chị Nguyễn Thị Ninh là một trong 3 người “mới” nhất. Nhận công tác
dân số tại địa bàn 5, thôn Yên Ngô từ năm 2009, chị nhanh chóng tiếp
cận các kiến thức chuyên môn cũng như các kỹ năng tuyên truyền vận
động các tầng lớp nhân dân thực hiện chính sách dân số. Qua đó, kết
quả dân số trên địa bàn chị phụ trách có chuyển biến rõ rệt, góp
phần vào kết quả chung của toàn xã.
Địa bàn số 5, thôn Yên Ngô tương đối rộng với 164 hộ,
698 nhân khẩu. Cũng như các địa bàn khác trong xã, người dân chủ yếu
làm nông nghiệp. Công việc làm thêm của phụ nữ là đi chợ, đi gánh
gạch cho các công trình xây dựng. Đàn ông thì làm thợ xây, phụ vôi
vữa… Ba năm gần đây một số lao động đủ điều kiện tuyển dụng vào làm
việc tại các nhà máy trong KCN Quế Võ, số lao động quá độ tuổi tuyển
dụng thì làm việc theo thời vụ, mỗi đợt vài ba tháng. Tính ra, số
người lao động trong KCN có lúc lên tới từ 60 đến 70% tổng số lao
động tại địa phương. Từ đặc thù đó hoạt động dân số gặp không ít khó
khăn. Trước đây, việc triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép
dịch vụ KHHGĐ thường lựa vào thời điểm nông nhàn - khi cây lúa xanh
đồng. Bây giờ muốn tổ chức thành công chiến dịch truyền thông, người
làm công tác dân số phải lựa “ba bề, bốn bên”: Ngoài thời điểm nông
nhàn, còn phải lựa vào ngày nghỉ cuối tuần, ngoài ra còn phải phù
hợp với tiến độ chiến dịch của xã, của huyện… Những thách thức đó
đòi hỏi phải làm tốt công tác tuyên truyền và các khâu chuẩn bị phải
hết sức chu đáo, khoa học.
Canh cánh những suy nghĩ đó, chị Ninh đã chủ động
tham mưu với cấp ủy, chính quyền thôn phối hợp chặt chẽ với ban Mặt
trận làng, chi hội phụ nữ và các đoàn thể khác tổ chức thực hiện
từng bước của chiến dịch. Vào ngày diễn ra chiến dịch đã thu hút
được đông đảo đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ tham gia; các hoạt
động dịch vụ luôn kịp thời đã mang lại thành công cho chiến dịch.
Đối tượng hưởng dịch vụ hài lòng với chất lượng cũng như sự đa dạng
của các biện pháp tránh thai đã tự giác thực hiện chính sách dân số,
chấp nhận mô hình gia đình ít con để tập trung phát triển kinh tế.
Ngoài các đợt chiến dịch, chị còn tranh thủ mọi lúc,
mọi nơi để gặp gỡ vận động các gia đình sinh con một bề là gái, các
cặp vợ chồng trẻ… thực hiện các biện pháp tránh thai, thực hiện giãn
cách thời gian giữa hai lần sinh cho phù hợp.
Ba năm trở lại đây, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của
địa bàn số 5 đã giảm rõ rệt. Nếu như trước đây, năm nào cũng có 1
hoặc 2, cá biệt có tới 3 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên (trong
tổng số từ 10 đến 13 ca sinh/năm), thì ba năm vừa qua chỉ còn 1
trường hợp sinh con thứ 3 ở đối tượng có con bị bệnh bại não. Các
cặp vợ chồng trẻ đều tự giác chấp nhận mô hình gia đình ít con, góp
phần giảm tỷ suất sinh của toàn xã năm 2011 xuống còn 0.77%, là xã
có tỷ suất sinh thấp nhất huyện Quế Võ.
Từ sự nhiệt tình, năng động đó, tháng 4 năm 2011 tại
Đại hội Đại biểu Hội phụ nữ xã lần thứ 19, chị đã được tín nhiệm bầu
làm Chủ tịch Hội phụ nữ xã tại nhiệm kỳ 2011-2016. Từ đây vai trò
CTV dân số của chị có thêm thuận lợi, song cũng không ít khó khăn
bận rộn. Chị tâm sự “Tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ xã hội trên cả hai
cương vị là nhờ sự hỗ trợ rất lớn từ chồng và hai người con. Anh là
người đàn ông không nề hà bất cứ công việc gì từ nặng nhọc đến các
việc đòi hỏi sự tỉ mỉ chu đáo. Còn hai cháu luôn tự giác trong học
tập và trong công việc trong gia đình”.
Việt
Tâm-Ngọc Mai
Về đầu trang
Yên Mỹ làm tốt công tác dân số - KHHGĐ
Xóm Yên Mỹ, xã Nghĩa Mỹ, thị xã Thái Hòa (Nghệ
An)luôn là địa phương đi đầu trong việc triển khai, thực hiện công
tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) với điểm nổi bật là
trong suốt 16 năm liền xóm không có người sinh con thứ 3. Xác định
được tầm quan trọng của công tác DS - KHHGĐ, những năm qua, Đảng ủy,
chính quyền, MTTQ xã rất quan tâm đến công tác này góp phần xây dựng
và phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.
Xóm Yên Mỹ có 70 hộ dân với 302 nhân khẩu chủ yếu làm
nông nghiệp. Trước đây đời sống nhân dân trong xóm còn nhiều khó
khăn, phần lớn rơi vào những hộ gia đình đông con, tuy lao động vất
vả nhưng họ vẫn không thoát khỏi được đói nghèo. Xác định được
nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do đông con, cộng với Nghị
quyết của Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn năm 1993 về không sinh con thứ ba,
Ban chỉ đạo công tác Dân số được củng cố, kiện toàn quyết tâm thực
hiện công tác DS-KHHGĐ.
Với quyết tâm đó, Ban chỉ đạo giao trách nhiệm cho
đảng viên trong chi bộ xóm thực hiện trước, kết quả đến năm 1995 đạt
100% đảng viên trong chi bộ không sinh con thứ 3 (có 4 đảng viên trẻ
đi đình sản). Khi đảng viên gương mẫu đi trước, làng nước tất sẽ
theo sau. Cùng với các biện pháp tuyên truyền rộng rãi, xây dựng các
mô hình hoạt động đa dạng, phong phú về công tác DS-KHHGĐ, phát huy
vai trò của Hội người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng, tộc
trưởng tham gia công tác tuyên truyền vận động, tiến hành thi đua
giữa các ban ngành, thông qua các buổi sinh hoạt hàng tháng, quý đều
tiến hành bình xét thi đua thưởng, phạt phân minh, rõ ràng... nên
công tác vận động người dân thực hiện DS - KHHGĐ luôn đạt kết quả
cao.
Nhận thức của người dân được nâng lên, họ thấy được
lợi ích thiết thực của việc sinh ít con để xây dựng gia đình hạnh
phúc, nuôi dạy con cái trưởng thành, dần xóa bỏ tư tưởng trọng nam
khinh nữ. Kết quả của các chiến dịch lồng ghép DS-KHHGĐ luôn đạt và
vượt chỉ tiêu; tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh
thai luôn đạt trên 80%; tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh phụ khoa giảm hơn
nhiều so với trước đây, có 15 cặp vợ chồng đi đình sản, 50/70 hộ gia
đình thực hiện tốt phong trào 5 không 3 sạch... Từ năm 1995 ở Yên Mỹ
không còn trường hợp nào sinh con thứ 3 trở lên, thành tích đó được
giữ vũng cho đến bây giờ.
Từ thực tiễn đã xuất hiện nhiều cách làm hay, nhiều
tấm gương tiêu biểu. Ở Yên Mỹ chi bộ Đảng của xóm có 12 đảng viên
thì cũng chính là 12 cộng tác viên dân số, phụ trách 12 tổ dân số
của toàn xóm, đến ngày họp chi bộ hàng tháng, 12 cộng tác viên dân
số sẽ báo cáo tình hình tổ dân số mình phụ trách để chi bộ có giải
pháp cụ thể. Phát huy tối đa uy tín của những người cao tuổi, tộc
trưởng tham gia công tác tuyên truyền vận động tiêu biểu như cụ
Trương Văn Tuyển đã 80 tuổi nhưng luôn nhiệt tình, vận động con cháu
không sinh con thứ 3 dù trước đó là trai hay gái, tuân thủ đúng, đầy
đủ hương ước, quy ước của làng, pháp luật của nhà nước...
Ông Hoàng Văn Tuất, Bí thư chi bộ kiêm cán bộ Mặt
trận Tổ quốc xóm, người đã có trên 20 năm gắn bó với công tác chính
quyền cho biết, trước đây Yên Mỹ là một trong những xóm nghèo nhất
của xã Nghĩa Mỹ, cuộc sống của người dân vô cùng khó khăn, đời sống
văn hóa, tinh thần thấp, tình trạng bạo lực gia đình diễn ra phổ
biến. Từ năm 1993 nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo cũng
như sự quyết tâm, nỗ lực của toàn chi bộ, các ban ngành liên quan
của xóm, nên công tác DS-KHHGĐ tại địa phương luôn đạt kết quả cao,
là ngọn cờ đầu của toàn thị xã Thái Hòa trong công tác DS-KHHGĐ, kết
quả đó đã đem lại sự thay đổi lớn trong cuộc sống của người dân.
Những người làm công tác Dân số đã giúp cho người dân hiểu được
nguyên nhân của đói nghèo, vất vả do sinh nhiều con, từ đó người dân
tự ý thức được việc mình cần phải làm và họ tự nguyện tìm đến với
các biện pháp kế hoạch hóa gia đình...”.
Trên cơ sở những kết quả Yên Mỹ đạt được về DS-KHHGĐ
đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của địa phương, đời
sống người dân ổn định, thu nhập tăng lên, an ninh trật tự, văn hóa
giáo dục được nâng cao.
Với những nỗ lực và thành tích mà chính quyền và nhân
dân Yên Mỹ đã đạt được, năm 2007 Yên Mỹ được UBND tỉnh Nghệ An công
nhận là làng văn hóa, UBND huyện Nghĩa Đàn, UBND thị xã Thái Hòa đã
trao tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Đặc biệt năm 2011, được UBMTTQ
tỉnh Nghệ An trao tặng bằng khen về "Đã có thành tích xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư”.
Nguyễn Đăng Hiệp
Về đầu trang
Nhân rộng mô hình Câu lạc bộ vì sức khỏe sinh sản
vị thành niên/thanh niên
Toàn tỉnh hiện có 20 Câu lạc bộ Cha mẹ về sức khỏe
sinh sản vị thành niên/thanh niên (CLB Cha mẹ về SKSS VTN/TN). Riêng
tại TX Sông Cầu, tỉnh Phú Yên địa phương được Trung tâm nghiên cứu
Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển - một tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực DS-KHHGĐ tại Việt Nam thực hiện mô hình thí điểm
này có đến 12 CLB. Hình thức sinh hoạt theo mô hình CLB đem lại hiệu
quả khả quan trong công tác tuyên truyền SKSS VTN/TN, nên Chi cục
DS-KHHGĐ đã triển khai, nhân rộng tại các trường học.
Kết quả điều tra mức độ hiểu biết kiến thức CSSKSS
của VTN/TN Phú Yên do Chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên thực hiện so với tỉ
lệ điều tra của Tổng cục DS-KHHGĐ: trung bình tuổi kết hôn lần đầu
20,4 tuổi/18,2 tuổi; sự hiểu biết toàn diện về HIV/AIDS 27,9%/42,5%;
sự hiểu biết về đồng tính 39,4%/63%; sử dụng internet 8,2%/20%; sử
dụng máy vi tính:15%/20%.
CLB Cha mẹ về SKSS VTN/TN gồm các bậc cha mẹ và con
cái sẽ cùng tham gia vào sinh hoạt của CLB với những nội dung: đóng
kịch tương tác (có sự giao lưu giữa diễn viên và khán giả), tiểu
phẩm, hỏi đáp… từ đó lồng ghép kiến thức, kỹ năng ứng xử tình huống
của các bậc cha mẹ, con cái về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục
cho VTN/TN.
Học sinh, sinh viên được xem là một trong những nhân
tố quan trọng mà ngành DS-KHHGĐ Phú Yên quan tâm chăm lo SKSS trong
dự án Nâng cao chất lượng dân số của tỉnh. Bà Đỗ Thị Như Mai, Phó
Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên, nói: “Chúng tôi vừa thực
hiện một cuộc điều tra về hiểu biết kiến thức SKSS của VTN/TN Phú
Yên. Qua đó cho thấy, kiến thức về mang thai và KHHGĐ, HIV/AIDS của
đối tượng này vẫn thấp. Tuy nhiên, khác với VTN/TN cả nước, sự hiểu
biết về kiến thức SKSS vùng ven biển lại cao hơn vùng nông thôn;
thành thị lại là vùng có hiểu biết về kiến thức này thấp nhất. Trong
khi cả nước, kiến thức của VTN/TN hiểu biết theo mức độ giảm dần là
thành thị, nông thôn, ven biển. Tôi cho rằng sự khác nhau cơ bản này
là do các vùng ven biển Phú Yên như Sông Cầu, Tuy An, Đông Hòa đã
triển khai sớm mô hình sinh hoạt CLB Cha mẹ về SKSS VTN/TN”.
Đầu năm 2012, Chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên tư vấn cho
Trường cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa và Trường đại học Phú Yên thành
lập CLB vì SKSS VTN/TN. Tuy mới đi vào hoạt động, nhưng các CLB này
đã có những hình thức sinh hoạt thu hút sự quan tâm của các bạn trẻ.
Em Hồ Thanh Nghị, sinh viên Trường cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa, nói:
“Tôi cho rằng đây là một hình thức sinh hoạt hiệu quả, nhằm giúp
sinh viên có thể cởi mở trong những vấn đề xưa nay vẫn cho là tế nhị
như sức khỏe tình dục”. “Việc sống thử đã trở thành một vấn đề mà xã
hội đang tranh cãi. Tôi cũng băn khoăn không biết chuyện đó có nên
hay không? Thông qua tiểu phẩm Lầm lỡ, cùng với sự trao đổi thẳng
thắn giữa sinh viên, tôi nhận ra sống thử là không nên và nếu thật
sự yêu nhau thì đến với nhau bằng việc kết hôn cũng chưa muộn”, sinh
viên Nguyễn Thị Hoàng Nhi đã chia sẻ trong buổi sinh hoạt đầu tiên
của CLB vì SKSS VTN/TN Trường cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa.
Các kiến thức về giới tính, hệ thống sinh sản, bệnh
tâm lý mang tính xã hội lứa tuổi VTN/TN, HIV/AIDS… được các chuyên
gia, cùng với sinh viên phân tích, mổ xẻ đến tận cùng của vấn đề đã
giúp sinh viên hào hứng khi tham gia sinh hoạt CLB.
Theo bà Mai, hiện nay toàn tỉnh đã có 17 CLB vì SKSS
VTN/TN ở các trường đại học, cao đẳng, THPT. Sắp tới, Chi cục DS-KHHGĐ
Phú Yên sẽ tiến hành thành lập 16 CLB ở các trường học, và đến năm
2015, mô hình này sẽ được phủ khắp ở tất cả các trường THPT, THCS và
THPT.
TUYẾT TRẦN
Về đầu trang
Công tác Dân số- KHHGĐ ở Ba Bể
Là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước, thời gian
qua Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn đã tích cực nâng cao nhận thức cộng đồng về
công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, qua đó đạt được những thành
tựu nhất định, góp phần cải thiện chất lượng dân số và đời sống xã
hội.
Làm tốt công tác dân số, trẻ em sẽ có điều kiện tốt
hơn để học hành
Huyện Ba Bể có 10.782 hộ, bao gồm 48.367 người trong
đó có 13.475 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Năm 2011 toàn huyện có
2.712 người sử dụng biện pháp tránh thai đạt 104,7% kế hoạch, 6/16
xã nhiều năm liền không có người sinh con thứ 3, công tác dân số kế
hoạch hoá gia đình đã đi vào nề nếp. Đạt được những kết quả đó là do
sự quan tâm của cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội, đội
ngũ cán bộ dân số từ huyện đến cơ sở.
Năm 2011 là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội 5 năm 2011 – 2015 của huyện, xác định công
tác dân số là bộ phận rất quan trọng của chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của huyện nhà, nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn
có ý nghĩa về văn hoá, xã hội do đó cấp uỷ, lãnh đạo chính quyền
huyện Ba Bể đặc biệt quan tâm đến công tác dân số kế hoạch hoá gia
đình, coi đây là công tác thường xuyên, trọng tâm. UBND huyện đã ra
quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch chương trình mục tiêu quốc gia về
dân số – kế hoạch hoá gia đình cho các xã, thị trấn, triển khai kịp
thời và tích cực hướng dẫn chỉ đạo, đôn đốc các hoạt động của từng
chương trình truyền thông dân số – kế hoạch hoá gia đình, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho ban Dân số – kế hoạch hoá gia đình các xã,
thị trấn tổ chức triển khai thực hiện kịp thời thuận lợi và đạt hiệu
quả.
Mặt khác công tác tuyên truyền, giáo dục chuyển đổi
hành vi được Ba Bể đặt lên hàng đầu, bởi lẽ là huyện nghèo, trình độ
dân trí còn hạn chế nên công tác tuyên truyền phải thực hiện nhiều
hơn, sâu hơn, rộng hơn... bằng nhiều phương pháp khác nhau, áp dụng
đối với những đối tượng cụ thể qua đó nâng cao nhận thức của người
dân về công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hoá gia
đình. Trung tâm Dân số – kế hoạch hoá gia đình phối kết hợp với
Trung tâm y tế, Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân,
Huyện đoàn xây dựng mô hình câu lạc bộ, tuyên truyền pháp lệnh dân
số, luật hôn nhân và gia đình trên các địa bàn dân cư.
Đặc biệt từ tháng 7 đến tháng 10 triển khai 16 chiến
dịch tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình đến vùng đông dân vùng có
mức sinh cao, vùng khó khăn đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông
trực tiếp, tư vấn vận động đối tượng tại nhà. Trung tâm Dân số kế
hoạch hoá gia đình đã phối hợp với Trung tâm Y tế huyện cử đội dịch
vụ lưu động đến thực hiện các dịch vụ y tế về chăm sóc sức khoẻ sinh
sản, kế hoạch hoá gia đình cho các đối tượng trong chiến dịch tại xã.
Đội ngũ thầy thuốc vừa thực hiện dịch vụ kỹ thuật vừa làm tốt công
tác tư vấn, tuyên truyền cho các đối tượng đến nhận dịch vụ tại
chiến dịch, vì vậy 2 gói dịch vụ kế hoạch hoá gia đình và gói viêm
nhiễm đường sinh sản được phổ biến rộng rãi tại 16/16 xã trong đó có
11 xã nằm trong chiến dịch triển khai của tỉnh, 5 xã còn lại do
huyện chi ngân sách hỗ trợ, thu hút đông đảo bà con nhân dân hưởng
ứng.
Bên cạnh những mặt đã đạt được công tác dân số kế
hoạch hoá gia đình ở huyện Ba Bể vẫn còn những tồn tại cần khắc phục
như: Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên chiếm 3,6%, một số địa phương vẫn
còn Đảng viên sinh con thứ 3 như xã Khang Ninh, một số xã nhiều năm
không có người sinh con thứ 3 trở lên nay có nguy cơ không giữ được
phong trào, một số gia đình có điều kiện về kinh tế có xu hướng sinh
con thứ 3 trở lên. Tình trạng mất cân bằng giới tính còn ở mức cao
và có nguy cơ càng tăng, năm 2010 là 115 nam/100 nữ, năm 2011 tăng
lên 129 nam/100 nữ.
Năm 2012 này cũng là năm đầu tiên thực hiện chiến
lược dân số và sức khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, để
khắc phục những tồn tại trong công tác dân số huyện Ba Bể đang triển
khai một số giải pháp cụ thể như tăng cường sự quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp, tích cực tuyên truyền, vận
động và giáo dục chuyển đổi hành vi, nâng cao chất lượng dịch vụ kế
hoạch hoá gia đình và hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành, tăng
cường kiểm tra giám sát./.
Duy Khánh
Về đầu trang
Trấn Yên (Yên
Bái): Tăng cường giải pháp cho công tác dân số
Với mục tiêu giảm sinh 0,2%o, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 xuống còn
4,8%, tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai, phấn
đấu 6 xã không có người sinh con thứ 3 trở lên, năm 2012, huyện Trấn
Yên, tỉnh Yên Bái đã tăng cường các giải pháp cho công tác dân số.
Đánh giá đúng thực trạng công tác dân số, Trấn Yên đã chỉ rõ
những mặt được và chưa được trong công tác này. Nét nổi bật là cấp
ủy, chính quyền cơ sở ở Trấn Yên luôn xác định công tác dân số là
nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và
được đưa vào nghị quyết để tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, đại đa số
nhân dân, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đã nhận thức được
lợi ích của việc sinh ít con, sinh thưa và tích cực thực hiện các
biện pháp kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) để giãn khoảng cách sinh;
chấp nhận qui mô gia đình nhỏ, ít con. Năm qua, huyện đã có 6 xã
gồm: Việt Hồng, Việt Thành, Cổ Phúc, Cường Thịnh, Nga Quán, Minh
Quán không có người sinh con thứ 3 trở lên; tỷ lệ các cặp vợ chồng
sử dụng các biện pháp tránh thai đạt trên 72%.
Bên cạnh đó, công tác dân số ở Trấn Yên vẫn còn những tồn
tại. Một số cấp uỷ, chính quyền cơ sở chưa thực sự quan tâm thường
xuyên trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, đôn đốc nên kết
quả thực hiện đạt thấp; có nơi hạn chế trong hoạt động phối hợp giữa
các ban, ngành, đoàn thể liên quan. Việc đầu tư nguồn lực cho công
tác dân số chưa thoả đáng; chế độ đãi ngộ cho cán bộ chuyên trách
dân số xã chưa bảo đảm nên chưa động viên, khuyến khích được sự năng
động cũng như lòng nhiệt tình của cán bộ dân số.
Đáng ngại là kết quả giảm sinh và giảm sinh con thứ 3 trở lên
chưa mang tính bền vững, thậm chí có xu hướng tăng trở lại. Tổng tỷ
suất sinh, tỷ suất sinh thô, tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên đã
giảm nhưng không vững chắc, không đồng đều giữa các xã, đặc biệt ở
xã Lương Thịnh vẫn còn trường hợp đảng viên sinh con thứ 3.
Công tác tuyên truyền, giáo dục ở cơ sở hạn chế về nội dung
và hình thức; vẫn còn 4/6 cán bộ huyện chưa được tập huấn nghiệp vụ
dân số. Nguyên nhân của những tồn tại này là do cán bộ dân số xã,
thị trấn đều mới, mặc dù có trình độ nhưng kinh nghiệm công tác còn
hạn chế nên ảnh hưởng đến kết quả công việc.
Bên cạnh đó là do trình độ dân trí không đồng đều giữa các
vùng, các xã; tư tưởng trọng nam, khinh nữ, phải có con trai nối dõi
vẫn tồn tại; số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ lớn. Không
những vậy, việc động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân thực
hiện tốt chính sách dân số còn bó hẹp trong qui định, qui chế thi
đua - khen thưởng hàng năm nên không động viên được phong trào. Đồng
thời, việc lồng ghép công tác dân số cho cán bộ y tế thôn, bản ban
đầu do chưa có kinh nghiệm nên công tác tuyên truyền gặp khó khăn.
Để khắc phục những khó khăn, tồn tại, từ đầu năm đến nay, các
địa phương của huyện Trấn Yên tiếp tục đưa công tác dân số trở thành
nội dung quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội
để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát. Công tác tuyên
truyền, vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức đa dạng,
phong phú, tập trung vào các cặp vợ chong trong độ tuổi sinh đẻ chưa
áp dụng các biện pháp tránh thai, các cặp vợ chồng đã sinh 2 con gái
và vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số, vùng công giáo.
Huyện đang duy trì các mô hình nâng cao chất lượng dân số,
xây dựng mới và nhân rộng mô hình thôn, bản, xã không có người sinh
con thứ 3 trở lên; đưa chính sách dân số vào qui ước, hương ước
thôn, bản. Bên cạnh đó, Trấn Yên mở rộng, nâng cao chất lượng dịch
vụ, đáp ứng việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng an toàn, kịp thời
nhằm giảm tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai để giảm sinh và
giảm sinh con thứ 3 trở lên.
Huyện đảm bảo đủ phương tiện tránh thai, quản lý chặt chẽ
việc phân phối, sử dụng thuốc tránh thai, bao cao su cấp miễn phí và
tăng cường tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai; hoàn thiện hệ
thống thông tin dữ liệu dân số - KHHGĐ cập nhật đầy đủ, kịp thời,
chính xác các thông tin biến động hàng tháng, quí; ứng dụng tin học
để quản lý thông tin dân số, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành công
tác dân số các cấp.
Trấn Yên còn phát động phong trào thi đua thực hiện tốt chính
sách dân số trong toàn huyện; ký giao ước thi đua xây dựng thôn,
bản, xã không có người sinh con thứ 3 trở lên. Các thôn, bản, tổ dân
phố đưa việc thực hiện KHHGĐ thành tiêu chí bắt buộc trong xây dựng
thôn, bản, khu phố, đơn vị văn hoá; động viên kịp thời các đơn vị,
cá nhân thực hiện tốt chính sách, hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch,
không có người sinh con thứ 3 trở lên...
Ngành chức năng và cấp uỷ, chính quyền tăng cường kiểm tra,
giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm chính
sách dân số. Các gia đình, thôn, bản, xã, thị trấn, cơ quan, đơn vị
vi phạm chính sách dân số, có người sinh con thứ 3 trở lên không xét
gia đình, thôn, bản và không công nhận đơn vị văn hoá. Các chi, Đảng
bộ, thôn, bản không chỉ đạo thực hiện hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch
về dân số - KHHGĐ và có người sinh con thứ 3 trở lên trong năm sẽ
không được xét công nhận Đảng bộ, chính quyền trong sạch, vững mạnh
và đơn vị văn hoá.
Bà Nguyễn Thị Hương - Giám đốc Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện
Trấn Yên cho biết: “Từ đầu năm đến nay, các giải pháp đã được thực
hiện, bước đầu tạo chuyển biến quan trọng trong công tác dân số -
KHHGĐ. Trung tâm mong muốn, các cấp, các ngành liên quan quan tâm
hơn nữa tới đội ngũ cán bộ dân số xã, tạo điều kiện cho họ được
hưởng chế độ như công chức cấp xã, được đóng bảo hiểm xã hội và bảo
hiểm y tế. Đồng thời tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn chuyên môn,
nghiệp vụ dân số cho đội ngũ làm công tác dân số từ huyện đến cơ sở
nhằm thực hiện ngày một hiệu quả hơn công tác dân số - KHHGĐ”.
Đào
Minh
Về đầu trang
Ngày Dân số Thế
giới: 11/7/2012: Tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản.
Hưởng ứng ngày Dân số thế giới 11/7, hôm nay tại Hà Nội, Bộ Y
tế phối hợp với Quỹ Dân số Liên hiệp quốc tổ chức họp báo với chủ đề
"Tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản". Ông
Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ông Dương Quốc Trọng, Tổng Cục
Trưởng Tổng cục DS/KHHGĐ; Bà Mandeep K.O'Brien quyền Trưởng đại diện
UNFPA tại Việt
Nam cùng chủ trì
cuộc họp báo.

Theo ông Nguyễn Viết Tiến, Thứ Trưởng Bộ Y tế, trong 10 năm
qua, công tác DS-SKSS đã đạt được những kết quả quan trọng góp phấn
đáng kể vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đổi
mới, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, nâng cao sức khỏe bà mẹ
và trẻ em, tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, quyền năng
cho phụ nữ. Xu thế giảm sinh được duy trì và mục tiêu đạt mức sinh
thay thế đã được thực hiện; chất lượng dân số được nâng lên; sức
khỏe sinh sản được cải thiện (đến năm 2009, tỷ số chết mẹ giảm
xuống còn 69/100 000 trẻ sinh ra sống, tỷ suất chết trẻ em dưới 1
tuổi giảm xuống còn 16%o; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
giảm xuống còn 18,9%, tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh
thai tăng lên 78%); mạng lưới dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ được
củng cố và phát triển (đến nay 98% số xã có Trạm y tế, 55,5% xã
đạt chuẩn quốc gia về y tế, 65,9% số Trạm y tế xã có bác sĩ, 93%
Trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 64,4% thôn, bản có nhân
viên y tế, 100% thôn, bản, tổ dân số có cộng tác viên dân số).
Tuy nhiên, công tác Chăm sóc sức khỏe sinh sản của nước ta
vẫn còn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: tai biến
sản khoa và tử vong mẹ vẫn còn có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng
miền; tỷ lệ phá thai, bao gồm cả phá thai ở vị thành niên/thanh niên
còn cao; tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh
nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, HIV và ung thư đường sinh
sản còn cao; Tình trạng quan hệ tình dục không an toàn, mang thai
ngoài ý muốn và phá thai, mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua
đường tình dục ở vị thành niên/thanh niên có xu hướng gia tăng...
Để góp phần tiếp tục giải quyết các khó khăn, thách thức, Thủ
tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản
Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 và đang triển khai đồng bộ trong cả
nước với mục tiêu: "Nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em; khống chế
tốc độ gi tăng tỷ số giới tính khi sinh; đáp ứng đầy đủ nhu cầu
KHHGĐ, duy trì mức sinh thấp hợp lý; tận dụng giai đoạn dân số vàng;
thích ứng với giai đoạn già hóa dân số; cải thiện sức khỏe sinh sản,
kể cả SKSS vị thành niên/thanh niên; tăng cường chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi; cải thiện chất lượng giống nòi; nâng cao chất lượng
dân số các dân tộc ít người".
Cũng trong buổi họp báo, Bà Mandeep K.O'Brien quyền Trưởng
đại diện UNFPA tại Việt Nam cũng nhấn mạnh, chủ đề năm nay hướng tới
tiếp cận phổ cập các dịch vụ sức khỏe sinh sản cũng như ghi nhận
những công lao của những người cung cấp thông tin, dịch vụ và các
nhu yếu phẩm cần thiết khác. Bà cho rằng, tiếp cận phổ cập các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản có thể phòng chống được hầu hết các
trường hợp tử vong mẹ và trẻ sơ sinh. Để đạt được điều này, cần phải
tăng cường hệ thống y tế để cải thiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình,
cụ thể là đầu tư vào đội ngũ cán bộ y tế với các kỹ năng hộ sinh và
đảm bảo tiếp cận chăm sóc cấp cứu sản khoa khi có tai biến xẩy ra.
Nếu làm tốt biện pháp này, không chỉ cứu sống được rất nhiều người,
mà còn cải thiện được hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước. Cuối
cùng, Bà cũng hy vọng rằng tất cả chúng ta hãy chung tay tiếp tục
những nỗ lực của mình giúp mỗi lần có thai đều là mong đợi, mỗi lần
sinh con đều được an toàn và mỗi thanh niên được phát triển hết tiềm
năng của mình./.
Mai
Hương
Về đầu trang
Tổ dân phố 12 năm không có người sinh con thứ ba
Đây là kết quả thực hiện công tác dân số, kế hoạch
hóa gia đình của tổ dân phố 30, phường Quang Trung (T.P Thái Nguyên),
đơn vị được Sở Y tế khen thưởng cộng đồng về thực hiện tốt công tác
DS-KHHGĐ năm 2011.
Tổ hiện có 75 hộ dân, trong đó có tới 90% là cán bộ,
công nhân viên Nhà máy Z159 đang công tác hoặc đã nghỉ hưu. Ý thức
của người dân trong tổ về thực hiện dân số, kế hoạch hóa gia đình
rất tốt, hiện 52 phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ đều đã được
tuyên truyền để sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại phù hợp
với tình hình sức khỏe.
Bà Lê Thị Minh Đấu, cộng tác viên dân số Tổ 30 cho
biết: Khi tuyên truyền chị em sử dụng các biện pháp tránh thai như
đặt vòng, uống thuốc, tiêm thuốc... ban đầu một số chị em ngại dùng
nên nói là có bệnh không uống thuốc được hay đặt vòng không hợp, tôi
đã mang bao cao su đến tận nhà để phát cho họ và khuyến cáo nên sử
dụng biện pháp tránh thai để đảm bảo sức khỏe cũng như tránh được
các bệnh phụ khoa. Trong các buổi họp phụ nữ, cựu chiến binh, tổ dân
phố hay khi tập văn nghệ... tôi đều lồng ghép tuyên truyền về công
tác này để chị em thêm hiểu và tự giác thực hiện. Một thuận lợi là
từ năm 2005-2010, bà Đấu vừa làm tổ trưởng dân phố vừa kiêm cộng tác
viên dân số nên việc tuyên truyền, vận động các gia đình càng sát
sao hơn, được người dân đồng tình ủng hộ. Nay không làm tổ trưởng
dân phố nữa, nhưng bà Đấu tiếp tục làm cộng tác viên dân số, hàng
ngày vẫn đến vận động các gia đình thực hiện sinh đẻ kế hoạch, nhất
là 14 cặp vợ chồng sinh con một bề. Bà Đấu tâm sự: Trong tổ có những
gia đình sinh hai con gái nhưng cuộc sống rất hạnh phúc, kinh tế khá
giả, trong khi có gia đình có con trai mà cha mẹ không được dựa lúc
tuổi già mà luôn phải lo lắng, đau đầu vì không chí thú làm ăn,
nghiện hút ma túy...
Chị Nguyễn Thị Bích Phượng, cán bộ chuyên trách dân
số phường Quang Trung cho biết: Phường có 39 tổ dân phố thì Tổ 30
thực hiện công tác này nổi bật hơn cả. Sự nhiệt tình, trách nhiệm
của cộng tác viên dân số đã góp phần thay đổi nhận thức của người
dân, bởi hiện nay người vi phạm Pháp lệnh Dân số (sinh con thứ ba)
chưa có biện pháp gì để xử phạt ngoài việc cắt danh hiệu gia đình
văn hóa. Đây cũng là cái khó của những người làm công tác dân số ở
cơ sở. Nhưng chúng tôi tin rằng, xã hội ngày càng phát triển, nhận
thức của người dân ngày càng cao, cùng với công tác tuyên truyền của
đội ngũ làm công tác dân số từ tỉnh đến cơ sở, công tác DS-KHHGĐ sẽ
hiệu quả.
Thu Quỳnh
Về đầu trang
Phú Thọ đồng hành thực hiện mục tiêu thiên niên
kỷ về DS/SKSS
Ngày Dân số Thế giới (11-7) năm nay diễn ra trong bối
cảnh nhân loại đã đạt được những tiến triển mới trong nỗ lực điều
chỉnh qui mô dân số và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh
sản (SKSS), chất lượng cuộc sống của con người. Tuy nhiên, những
thách thức to lớn đang đặt ra phía trước: Hiện nay dân số thế giới
đã vượt ngưỡng 7 tỷ người, đẩy thế giới ngày càng vượt xa giới hạn
của sự mất cân đối giữa số lượng dân số với khả năng đáp ứng các
nguồn lực, dân số với môi trường, với sự phát triển bền vững. Chủ đề
Ngày Dân số Thế giới năm nay được Quĩ Dân số, Liên hiệp quốc lựa
chọn nhằm tăng cường các cam kết hướng tới tiếp cận phổ cập tới các
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản nhằm cứu sống sinh mạng của hàng
trăm ngàn phụ nữ mỗi năm bị tử vong do liên quan đến sinh nở, hàng
chục triệu phụ nữ bị tàn phế hay di chứng liên quan đến thai sản.
Trong hai thập kỷ qua, cùng với cả nước, Phú Thọ đã
và đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về dân số/SKSS.
Về qui mô dân số, tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm của giai đoạn
1999-2009 là 0,4%; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm từ 7,7% năm
2005 xuống 6,11% năm 2010, tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của
một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) ở mức 2,1 con; tỷ lệ tăng tự nhiên
dân số 1,2%. Qui mô dân số 1.322.652 người, thấp hơn so với mục tiêu
đến năm 2010: 52.348 người.
Về SKSS, các chỉ tiêu đều đạt ở mức cao: Tỷ lệ phụ nữ
có thai được quản lý, được duy trì ở mức 98,8%; tỷ lệ phụ nữ đẻ được
khám thai 3 lần trở lên 97,2%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế
đạt 100%; tỷ lệ phụ nữ đẻ được cán bộ y tế đỡ 100%; tỷ số phá thai
còn khoảng 20 ca/100 trẻ đẻ sống; tai biến sản khoa giảm xuống còn
0,03%; tỷ số chết mẹ luôn được duy trì ở mức thấp tương đương 10,5
ca/100.000 trẻ đẻ sống; tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi 5,51‰; tỷ
suất chết trẻ em dưới 5 tuổi 6,05‰; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới
5 tuổi còn 17,2%.
Mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ được
mở rộng và nâng cao chất lượng ở cả 3 tuyến. Tuyến tỉnh có Bệnh viện
Phụ sản quy mô 100 giường bệnh, khoa sản Bệnh viện đa khoa tỉnh có
80 giường bệnh, khoa sản Bệnh viện đa khoa khu vực Phú Thọ có 40
giường bệnh, Trung tâm CSSKSS tỉnh. Tuyến huyện: 10 Bệnh viện đa
khoa huyện đều có khoa ngoại sản với 20 - 30 giường bệnh và 13/13
Trung tâm y tế đều có khoa chăm sóc SKSS; tuyến xã, 100% trạm y tế
có bác sỹ và nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, 100% thôn, bản có nhân
viên y tế hoạt động và 275/277 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Hệ thống cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ cả 3 tuyến tỉnh,
huyện, xã đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Các bệnh viện
tuyến tỉnh, 8/10 bệnh viện đa khoa huyện đã đạt tiêu chuẩn cung cấp
dịch vụ sản khoa và cấp cứu sản khoa toàn diện; 100% trạm y tế xã
thực hiện được các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ thông thường (đặt
vòng, khám chữa phụ khoa), trong đó 72,45% trạm y tế đạt tiêu chuẩn
cung cấp dịch vụ sản khoa thiết yếu cơ bản. Dịch vụ tránh thai ngày
càng được mở rộng, đảm bảo tính sẵn có, tiếp cận và sử dụng thuận
tiện, an toàn.
Tuy nhiên trong giai đoạn 2012-2015 có nhiều thách
thức đặt ra đối với công tác dân số/SKSS. Về mức sinh: Trong 4 năm
tới, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hàng năm vẫn tiếp tục tăng do
hệ quả của mức sinh cao từ những năm 1976 - 1990. Bên cạnh đó, ý
thức thực hiện gia đình qui mô có 1 hoặc 2 con trong người dân chưa
thực sự bền vững, tâm lý phải có con trai vẫn còn tồn tại trong một
bộ phận nhân dân. Vì vậy, nguy cơ tăng mức sinh trở lại chưa thực sự
được loại trừ, mục tiêu giảm sinh vẫn là một trong những ưu tiên
hàng đầu ở giai đoạn này. Tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh của
Phú Thọ (116,5 nam/100 nữ) đang ở mức cao hơn so với cả nước và xu
hướng sẽ còn tiếp tục tăng nếu như không có những giải pháp hữu hiệu.
Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn đến những hệ quả khó lường
đối với gia đình và xã hội, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội
và cản trở việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai. Chất
lượng dân số còn nhiều hạn chế về sức bền, chiều cao và cân nặng;
tuổi thọ tăng (71,95 tuổi) nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp (58,2
tuổi); tỷ lệ người khuyết tật cao; tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên
môn, kỹ thuật còn thấp. Tình trạng sức khỏe bà mẹ còn nhiều thách
thức. Tỷ lệ phá thai và vô sinh còn cao; tỷ lệ nhiễm khuẩn đường
sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV và ung thư đường
sinh sản chưa được kiểm soát. Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục ở
nhóm vị thành niên/thanh niên (VTN/TN) chưa được quan tâm đúng mức;
tình trạng quan hệ tình dục không an toàn, mang thai, nạo phá thai,
mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm tuổi này còn khá
phổ biến và có xu hướng tăng. Dịch vụ SKSS cho các nhóm đối tượng
đặc thù: VTN/TN, nam giới, người cao tuổi chưa sẵn có, chưa đáp ứng
được nhu cầu của người dân. Cung ứng phương tiện tránh thai gặp khó
khăn, nguồn cung ứng miễn phí các phương tiện tránh thai giảm mạnh
từ năm 2011, trong khi đó đa số người dân chưa sẵn sàng tiếp cận trả
phí khi thực hiện các biện pháp tránh thai.
Kế hoạch thực hiện Chiến lược dân số và SKSS của tỉnh
giai đoạn 2012-2015 nhằm thực hiện Chiến lược dân số/SKSS Việt Nam,
thực hiện mục tiêu 5b- mục tiêu phát triển thiên niên kỷ- đạt được
tiếp cận phổ cập sức khoẻ sinh sản vào năm 2015 đã đề ra mục tiêu:
Tiếp tục nỗ lực giảm mức sinh, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện
tình trạng sức khỏe sinh sản, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu
dân số, đặc biệt là kiềm chế và giảm dần mất cân bằng giới tính khi
sinh, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện chất lượng cuộc
sống của nhân dân trong tỉnh. Để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch thực
hiện Chiến lược đã đề ra 7 nhóm giải pháp cơ bản: Tăng cường sự lãnh
đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, hoàn thiện hệ thống
tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác DS/SKSS
các cấp. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền vận động, truyền thông giáo
dục thay đổi hành vi. Củng cố, mở rộng mạng lưới, nâng cao chất
lượng dịch vụ DS/SKSS; xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách
DS/SKSS. Đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường phối hợp liên ngành và hợp
tác quốc tế. Chú trọng đào tạo, nghiên cứu và công tác thông tin số
liệu. Đầu tư nguồn lực cho công tác DS/SKSS.
Giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với việc thực
hiện các mục tiêu DS/SKSS đó là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của
các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự tham gia phối hợp của các ngành,
đoàn thể, tổ chức, lực lượng trong xã hội. Ngành y tế, hệ thống dân
số dù có nỗ lực bao nhiêu cũng không thể đạt được kết quả nếu công
tác dân số không có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và được xã hội hoá.
Sự quan tâm đó thể hiện trước hết từ nhận thức sâu sắc về tính xã
hội lâu dài, phức tạp của công tác này. Những kết quả mà tỉnh đạt
được mới chỉ là bước đầu, công tác dân số cần phải tiếp tục kiên trì,
bền bỉ, từng ngày, từng giờ cho đến khi qui mô “Gia đình nhỏ, dù gái
hay trai chỉ hai là đủ” trở thành một giá trị, chuẩn mực; chăm sóc
SKSS trở thành một nhu cầu được mọi gia đình, mọi người hưởng ứng và
tự giác thực hiện, lúc đó công tác dân số/SKSS mới thực sự thành
công.
Việt Phương
Về đầu trang
Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thái Bình tuyên
truyền, thực hiện chính sách dân số KHHGĐ trong đồng bào công giáo
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân
thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ nên công tác dân số trong đồng
bào công giáo ngày càng đạt kết quả cao. Kết quả này góp phần không
nhỏ trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó góp phần thúc
đẩy nền kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội toàn tỉnh ngày càng phát
triển.

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế đất nước, sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đặc
biệt là việc triển khai thực hiện các chế độ chính sách nhằm xóa đói
giảm nghèo, đời sống của người dân trong tỉnh ngày càng được cải
thiện và nâng cao. Số hộ khá, giàu tăng, không có hộ đói, hộ nghèo
ngày càng giảm. Thái Bình có dân số trên 1,8 triệu người; trong đó
đồng bào công giáo có 107.940 người ở 278/286 xã, phường, thị trấn,
chiếm 6,06% dân số trong tỉnh; có 2 vị giám mục, 59 vị linh mục và
81 xứ, 266 họ giáo. Cùng với thành tựu về kinh tế, nhận thức của
nhân dân về quy mô gia đình ít con đã thực sự có chuyển biến, chất
lượng dân số hiện nay ở tỉnh ta từng bước được nâng lên. Nhận thức
của cộng đồng, đặc biệt là các cặp vợ chồng trẻ về quy mô gia đình
ít con đã có chuyển biến rõ rệt. Số sinh và số người sinh con thứ 3
trở lên hàng năm giảm. Số xã, phường, thị trấn, số thôn, làng, tổ
dân phố không có người sinh con thứ 3 trở lên ngày càng nhiều…
Tuy nhiên, trong lĩnh vực DS - KHHGĐ tỉnh ta cũng
đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn. Kết quả giảm sinh chưa
ổn định và thiếu vững chắc; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn cao
(11,36% năm 2011), nhất là vùng xa, khó khăn, ven biển và vùng đồng
bào có đạo. Chất lượng dân số chưa đáp ứng yêu cầu; các tố chất về
thể lực còn hạn chế, đặc biệt chiều cao, cân nặng, sức bền của vị
thành niên và thanh niên...
Trước thực trạng trên, Ủy ban MTTQ các cấp đã tích
cực phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ, tuyên truyền vận động toàn
dân phát huy sức mạnh đại đoàn kết, thực hiện các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chủ trương chính sách về lĩnh
vực Dân số - KHHGĐ.
Cuộc vận động lớn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư" do Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát
động được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng, trong đó có tiêu
chí là khu dân cư không có người sinh con thứ ba và làm tốt công tác
chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngoài ra, MTTQ còn phối hợp với ngành
Dân số, Văn hóa, Tư pháp xây dựng hướng dẫn liên ngành về việc đưa
chính sách dân số, gia đình, trẻ em vào hương ước, quy ước thôn
làng, tổ dân phố. Đến nay toàn tỉnh hầu hết các thôn làng đã xây
dựng được hương ước, quy ước của địa phương, trong đó có những quy
định cụ thể về chính sách DS - KHHGĐ, được nhân dân đồng tình và
tích cực hưởng ứng. MTTQ phối hợp với Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh tổ
chức hội nghị biểu dương các xứ họ đạo tiêu biểu thực hiện tốt công
tác DS, CSSK cộng đồng.
Mô hình “Đồng bào công giáo tham gia khắc phục tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh” được triển khai thí điểm tại
2 xã: Đông Cường (Đông Hưng) và xã Nam Hải (Tiền Hải) được quần
chúng nhân dân nhiệt tình hưởng ứng, trong đó vai trò của các chức
sắc tôn giáo trong việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc khắc phục tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh được đề cao.
Bên cạnh đó, Ủy ban MTTQVN tỉnh phối hợp cùng Chi cục
Dân số - KHHGĐ (Sở Y tế) hướng dẫn Ban công tác mặt trận khu dân cư
kết hợp với các vị linh mục, ban trùm xứ họ đạo và cấp ủy, chính
quyền tổ chức truyền thông, vận động giáo dân thực hiện tốt dự án
“Tuyên truyền, vận động truyền thông thay đổi hành vi trong lĩnh vực
dân số - KHHGĐ”, dự án VIE/01-P04, xây dựng mô hình “Tín hữu công
giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh”,
gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư”, phong trào xây dựng “Xứ, họ đạo 4 gương mẫu”.
Nhiều vị linh mục hưởng ứng bằng cách thường xuyên
nhắc nhở các gia đình tín hữu thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ
thông qua các lớp giáo lý hôn nhân hoặc làm phép cưới, giảng lễ ở
nhà thờ. Qua đó, nhận thức của các vị chức sắc, chức việc và đồng
bào giáo dân về tầm quan trọng của công tác dân số - KHHGĐ đã được
nâng cao. Hàng năm, có 100% xứ, họ đạo đăng ký phấn đấu xây dựng
“Xứ, họ đạo 4 gương mẫu”, có trên 55% xứ, họ đạt “4 gương mẫu”.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân
thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ nên công tác dân số trong đồng
bào công giáo ngày càng đạt kết quả cao. Tính đến năm 2011, toàn
tỉnh có 53 xứ họ đạo có từ 3 năm liền trở lên không có người sinh
con thứ 3, đặc biệt có một số họ giáo có từ 15 đến trên 20 năm liền
không có người sinh con thứ 3 trở lên (họ giáo Phụng Thượng (Kiến
Xương) 24 năm; họ giáo Nam Đài (Quỳnh Phụ) 23 năm; họ giáo Lương Cầu
(Quỳnh Phụ) 15 năm; họ giáo An Châu (Đông Hưng) 20 năm; họ giáo Đống
Cao (Vũ Thư) 16 năm; họ giáo Phù Sa (Thái Thụy) 15 năm… Kết quả này
góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, từ đó
góp phần thúc đẩy nền kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội toàn tỉnh
ngày càng phát triển.
Bài, ảnh: Mạnh Cường
Về đầu trang
Những kết quả
đạt được trong công tác DS-KHHGĐ ở Tân Sơn
Huyện Tân Sơn có 17 xã, thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là
68.858 km2; có 19.164 hộ với 81.419 nhân khẩu trong đó phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ có chồng là 23.723; tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là
1,27%; đồng bào dân tộc thiểu số 66.315 người chiếm 82 % bao gồm các
dân tộc Mường, Dao, Tày, Nùng, Thái, Hơ Mông...

Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, người dân sống chủ
yếu bằng nghề nông và trồng rừng. Một trong những thách thức lớn
trong công tác Dân số – KHHGĐ trên địa bàn huyện trong những năm gần
đây đó là tỉ lệ sinh con thứ 3 cao; tỷ số mất cân bằng giới tính cao
(năm 2010 là 119 nam/100 nữ, năm 2011 là 126 nam/100 nữ, 6 tháng đầu
năm 2012 138 nam/100 nữ). Từ thực trạng và xác định rõ những khó
khăn thách thức đặt ra đối với công tác Dân số – KHHGĐ, huyện Tân
Sơn đã tập trung lãnh đạo, triển khai các biện pháp cụ thể nhằm tạo
chuyển biến tích cực trong chỉ đạo, thực thi các mục tiêu về Dân số
- KHHGĐ.
Trao đổi với chúng tôi ông Hà Mạnh Hùng - Phó Chủ tịch UBND
xã, Trưởng ban Dân số- KHHGĐ xã Thu Cúc cho biết: Công tác tuyên
truyền vận động người dân thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ trong
giai đoạn hiện nay là hết sức khó khăn, địa bàn xã Thu Cúc rộng,
đường xá đi lại khó khăn, dân cư sống không tập trung, chủ yếu là
đồng bào dân tộc thiểu số; song với Đảng uỷ, HĐND, UBND xã đã ban
hành Nghị quyết chuyên đề về công tác Dân số và thành lập Ban chỉ
đạo công tác Dân số tại cơ sở; phân công nhiệm vụ cho từng thành
viên phụ trách các địa bàn; đồng thời phối hợp tốt với ban ngành tại
địa phương tuyên truyền vận động người dân thực hiện tốt chính sách
Dân số - KHHGĐ, nên hàng năm xã đều hoàn thành chỉ tiêu do cấp trên
giao.
Ông Bùi Văn Huấn - Phó Chủ tịch UBND huyện, Trưởng ban chỉ
đạo công tác Dân số - KHHGĐ huyện Tân Sơn cho biết: Huyện ủy, UBND
huyện đã thành lập Ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ với 12 thành
viên, ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo và phân công nhiệm
vụ cho từng thành viên phụ trách các lĩnh vực và địa bàn khác nhau;
đồng thời chỉ đạo 100% các xã thành lập ban chỉ đạo công tác Dân số
và tiến hành phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; đặc biệt
công tác Dân số - KHHGĐ được coi là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
xếp loại thi đua hàng năm; cuối năm Ban chỉ đạo công tác Dân số -
KHHGĐ của huyện đã tổ chức giám sát, kiểm tra các hoạt động của ban
chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ tại cơ sở, mở hội nghị sơ kết, tổng
kết đánh giá kết quả của ban chỉ đạo. Song song với việc triển khai
các hoạt động của ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ; Huyện ủy đã
ban hành Nghị quyết chuyên đề số 06/NQ-HU về việc tăng cường sự lãnh
đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc tiếp tục thực hiện chính sách
Dân số - KHHGĐ giai đoạn 2012-2015; UBND huyện ban hành Kế hoạch
hành động thực hiện Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn
2011-2015; công văn số 218/UBND-TTDS về tăng cường biện pháp thực
hiện chính sách Dân số - KHHGĐ ở các xã; trong đó có hỗ trợ kinh phí
cho các hoạt động công tác Dân số - KHHGĐ hàng năm của huyện và xã
trên 50 triệu đồng.
Do được sự quan tâm lãnh chỉ đạo kịp thời của cấp ủy Đảng,
chính quyền huyện, Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Tân Sơn đã làm tốt
công tác truyền thông- giáo dục trên cả diện rộng và chiều sâu, duy
trì hoạt động thường xuyên và trong các đợt chiến dịch. Công tác vận
động được chú trọng, tranh thủ được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo
của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức
xã hội và những người có uy tín trong cộng đồng. Các CLB dân số và
phát triển tại cộng đồng; CLB thanh niên với công tác Dân số - KHHGĐ
được duy trì và hoạt động đều đặn; thông qua các hoạt động CLB để
tuyên truyền, vận động, giải đáp thắc mắc về các vấn đề
DS/SKSS/KHHGĐ. Trung tâm Dân số- KHHGĐ huyện còn chú trọng các hoạt
động truyền thông trực tiếp, tư vấn, gặp gỡ tại nhà với sự tham gia
tích cực của đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên. Đồng thời tập
trung các hoạt động trong chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận
động lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ vùng có mức sinh cao,
vùng khó khăn.
Năm 2012, huyện Tân Sơn có 8/17 xã, thị trấn triển khai chiến
dịch “Tăng cường tuyên truyền vận động lồng ghép dịch vụ SKSS/KHHGĐ
đến vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn”. Kết quả thực hiện chiến
dịch đã tác động không nhỏ tới nhận thức của các cấp ủy, chính quyền
và nhân dân về công tác DS-KHHGĐ, đồng thời nâng cao hiệu quả thực
hiện các dịch vụ chăm sóc thai nghén, khám chữa bệnh phụ khoa cho
phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Cụ thể đã khám phụ khoa cho 1.711 lượt
người bằng 70% KH, điều trị cho 753 ca mắc bệnh viêm nhiễm đường
sinh sản, khám thai cho 216 người có thai; đặt vòng 346 ca, soi tươi
497 ca bằng 68% KH. Các xã làm tốt là: Xã Kiệt Sơn, Kim Thượng, Văn
Luông... Kết quả chỉ tiêu 6 tháng đầu năm toàn huyện đã đạt được:
Tổng số cặp vợ chồng mới sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại
là 5.084 ca, đạt 90,1% KH năm; tỷ lệ cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh
đẻ sử dụng BPTT hiện đại đạt 60,2%; tổng số trẻ em sinh ra 749 trẻ,
tăng 136 trẻ so với cùng kỳ năm 2011; tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên
đã giảm 11 trường hợp so với cùng kỳ năm 2011. Trên địa bàn huyện có
3 xã trên 5 năm liền không có người sinh con thứ 3 là xã Kiệt Sơn,
Tam Thanh, Lai Đồng; có 14 khu dân cư trên 10 năm liền không có
người sinh con thứ 3 như: Khu Gác 3 (xã Thu Cúc); khu Thử 2, khu
Thính, khu Lèn, khu Sận, khu Bương, khu Hoạt (xã Tân Sơn); khu Vắt
2, khu Vường 2, khu Chiềng, khu Đồng, khu Kết (xã Lai Đồng)...
Hồng
Quân
(Chi
cục DS - KHHGĐ)
Về đầu trang
Lương Bằng với công tác chăm sóc sức khoẻ sinh
sản - kế hoạch hoá gia đình
Những năm qua, công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản -
kế hoạch hoá gia đình tại xã Lương Bằng (huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn)
đã có nhiều khởi sắc. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh
thai hiện đại ngày càng nhiều, số người sinh con thứ 3 đã giảm dần.

Để đạt được những kết quả đó là nhờ sự quan tâm của
cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, các cấp hội trên địa bàn đã
luôn quan tâm đến công tác dan số - kế hoạch hóa gia đình. Đội ngũ
cán bộ dân số, y tế thôn bản, cộng tác viên dân số đã tích cực tuyên
truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, những kiến thức cơ
bản giúp người dân hiểu và có ý thức hơn trong việc chăm sóc sức
khoẻ sinh sản cho bản thân cũng như gia đình.
Trong những đợt Trung tâm y tế huyện Chợ Đồn triển
khai chiến dịch Chăm sóc sức khoẻ sinh sinh sản - kế hoạch hoá gia
đình tại địa phương, xã Lương Bằng luôn phối hợp tổ chức rất tốt. Để
chiến dịch đạt hiệu quả cao, xã đã thành lập Ban tổ chức chiến dịch,
phân công thành viên đến từng hộ gia đình tuyên truyền động viên chị
em đến tham gia. Chị Hoàng Thị Nhâm, thôn Nà Chang cho biết: Năm nào
cũng vậy, bà con luôn chờ đợi chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản
kế hoạch hoá gia đình được tổ chức tại xã nhà. Dịp đó bà con sẽ được
được các bác sỹ tư vấn về cách chăm sóc sức khoẻ cho người phụ nữ,
cách phòng một số bệnh phụ khoa và được trực tiếp kiểm tra sức khoẻ
sinh sản.
Tại Lương Bằng có 15 thôn bản thì có 3 thôn gần 100%
là bà con dân tộc Dao, trình độ văn hoá không cao, kiến thức xã hội
còn hạn chế, kinh tế còn khó khăn nên các chị em thường không có
điều kiện thăm khám sức khoẻ tại các cơ sở y tế. Chiến dịch chăm sóc
sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình được tổ chức tại xã là một
dịp rất tốt để chị em được chăm sóc và sử dụng các biện pháp tránh
thai hiện đại. Trong đợt chăm sóc vừa qua, toàn xã đã có hơn 120 chị
em tham gia và có hơn 30 chị em được điều trị, hơn 10 chị em được
tránh thai bằng phương pháp đặt dụng cụ tử cung.
Mục tiêu của Ban tổ chức chiến dịch xã Lương Bằng đưa
ra là tất cả các chị em trong độ tuổi sinh sản phải được biết đến có
chiến dịch tổ chức tại xã và tham gia thăm khám và khi bị bệnh phải
thực hiện điều trị. Bên cạnh đó cũng trong đợt chiến dịch này, Ban
tổ chức đã tổ chức truyền thông lồng ghép cụ thể là tổ chức chiếu
các đĩa DVD về kế hoạch hoá gia đình, tổ chức truyền thông đối với
một số đối tượng nhận thức còn kém. Ngoài ra tại các cuộc họp thôn,
sinh hoạt phụ nữ, các tổ chức đoàn thể đã lồng ghép các nội dung
tuyên truyền về Pháp lệnh Dân số, tuyên truyền truyền thông về vấn
đề lựa chọn giới tính khi sinh...
Hiện nay tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi từ 15
- 49 của xã là 407 cặp. Từ đầu năm đến nay đã có 203 cặp vợ chồng sử
dụng đặt dụng cụ tử cung, uống thuốc tránh thai 68 cặp, triệt sản nữ
38 cặp và nhiều biện pháp khác nhằm hạn chế tình trạng sinh con
ngoài ý muốn. Do đó 9 tháng năm 2012 xã chưa có trường nào sinh con
thứ 3 trở lên.
Thực hiện tốt công tác dân số đã tạo điều kiện cho
các hộ gia đình có điều kiện chăm sóc con cái, các cháu có điều kiện
học hành được tốt hơn, do đó tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học và đi học
chuyên nghiệp tại xã ngày một cao hơn. Riêng trong kỳ thi đại học
vừa qua xã đã có 4 em trúng tuyển đợt 1, hiện toàn xã có khoảng 80
người có trình độ đại học. Thực hiện tốt công tác dân số cũng giúp
cho các gia đình phát triển kinh tế được tốt hơn, nhiều hộ đã xoá
được đói, giảm được nghèo vươn lên làm giàu, góp phần vào sự phát
triển chung của xã nhà, đến nay tỷ lệ hộ nghèo ở Lương Bằng chỉ còn
7,8%.
Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia
đình mà đặc biệt là Chiến dịch chăm sóc do Trung tâm y tế huyện Chợ
Đồn triển khai thật sự đã giúp chị em phụ nữ- đặc biệt là chị em
nông thôn được thuận lợi hơn trong việc được thăm khám sức khoẻ sinh
sản, giúp họ mạnh khoẻ hơn tạo điều kiện cho chị em vun đắp hạnh
phúc gia đình, phát triển kinh tế góp phần xây dựng quê hương ngày
càng giàu đẹp./.
Về đầu trang
Hạnh phúc từ CLB “Gia đình hạnh phúc”
Thành lập tháng 6 năm 2002, đến nay, CLB “Gia đình
hạnh phúc” xã Hồng Phương (Yên Lạc, Vĩnh Phúc) đã trở thành hạt nhân
trong phong trào của phụ nữ xã, đi đầu trong các phong trào thi đua
của huyện và là mô hình điểm của tỉnh. Chị Đặng Thị Hến, Chủ nhiệm
CLB, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Hồng Phương vui vẻ cho biết: Đã 10 năm
nay, 100% hội viên trong CLB không sinh con thứ ba, tỷ lệ hội viên
có mức sống khá và giàu đạt hơn 80%, 100 % đạt gia đình văn hóa.
Khi mới thành lập, CLB chỉ có 27 hội viên, tâm lý chị
em còn e ngại, mặc cảm với bản thân. Nhưng đến nay, CLB có 29 hội
viên, chia làm 3 nhóm tương ứng với 3 thôn: Trung Nha, Phú Phong và
Phương Nha, mỗi nhóm có 1 nhóm trưởng và phụ trách CLB là ban chủ
nhiệm gồm 5 hội viên. Điều đáng nói là các cặp vợ chồng tham gia CLB
không chỉ là những cặp vợ chồng hạnh phúc, CLB thường xuyên vận động
những cặp vợ chồng chưa thực sự hạnh phúc. Các buổi sinh hoạt được
tổ chức định kỳ 3 tháng/ lần, với những chủ đề khác nhau, nội dung
tập trung tuyên truyền kiến thức pháp luật về phòng chống bạo lực
gia đình, luật Hôn nhân- gia đình; bình đẳng giới; chăm sóc sức khỏe
bà mẹ- trẻ em, nuôi dạy con ngoan, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa
gia đình… Qua đó, các hội viên được trang bị những kiến thức xã hội
cần thiết, từng bước nâng cao kỹ năng nuôi dạy con ngoan, xây dựng
gia đình văn hóa, chống lại bạo lực gia đình. Đặc biệt, phong trào
thi đua phát triển kinh tế được CLB chú trọng. Ban chủ nhiệm CLB đã
phối hợp với Trung tâm Khuyến nông huyện, tỉnh tổ chức các buổi tập
huấn hướng dẫn về cách sử dụng phân bón, trang bị những kiến thức về
chuyển giao KHKT trồng trọt và chăn nuôi theo phương pháp mới, hiện
đại…Từ đầu năm đến nay, CLB đã tổ chức được 2 lớp tập huấn thu hút
120 học viên tham gia. Sau buổi tập huấn, nhiều học viên đã mạnh dạn
áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, hưởng ứng phong trào trồng lúa
cao sản, trồng xen canh rau màu, phát triển chăn nuôi gia súc, gia
cầm. Không có điều kiện giúp về vốn, các hội viên trong CLB giúp đỡ
lẫn nhau dưới nhiều hình thức: giúp đỡ ngày công, cây con giống, phổ
biến kiến thức về kỹ năng chuyển đổi KHKT, kỹ thuật chăn nuôi và
trồng trọt theo phương pháp mới… Nhiều chị em mạnh dạn vay vốn, mở
rộng sản xuất chăn nuôi tại gia đình, thu nhập trên 50 triệu đồng/
năm. Không ít chị em trong CLB đã vươn lên thoát nghèo và làm giàu
như chị Nguyễn Thị Hoa, thôn Phú Phong với mô hình chăn nuôi gia súc,
gia cầm; chị Lê Thị Thu Thanh, thôn Phong Nha với mô hình kinh doanh
thuốc Tây; chị Đỗ Thị Trinh thôn Phong Nha với mô hình kinh tế trang
trại VAC…
Một trong những hội viên tiêu biểu trong phong trào
phát triển kinh tế và xây dựng gia đình hạnh phúc là chị Nguyễn Thị
Tuyết, thôn Trung Nha với mô hình kinh tế kinh doanh thuốc tân dược.
Chị Tuyết là một trong những hội viên gắn bó với CLB ngay từ những
ngày đầu thành lập. Năm 2004, nhận thấy thu nhập từ làm ruộng nhiều
bấp bênh, chị quyết tâm đi học và theo nghề dược. Mặc dù kinh tế gia
đình còn khó khăn nhưng được chị em trong CLB động viên, giúp đỡ,
chị đã quyết tâm theo đuổi ước mơ. Đến nay, cửa hàng thuốc tân dược
của chị phục vụ cho nhân dân toàn xã, mỗi năm thu nhập hàng trăm
triệu đồng. Từ hộ nghèo, chị đã vươn lên trở thành một trong những
hộ gia đình khá và giàu của xã. Với tâm huyết của một Chi hội trưởng
Chi hội Phụ nữ thôn Trung Nha, gắn bó với công tác phụ nữ gần 10 năm,
chị thường xuyên giúp đỡ chị em trong CLB về kiến thức nuôi dạy con
ngoan, xây dựng gia đình hạnh phúc, phòng chống bạo lực gia đình và
sức khỏe sinh sản. Chị tâm sự: Từ khi tham gia CLB, các chị em trong
CLB giúp đỡ chị rất nhiều, thường xuyên trao đổi, chia sẻ về phương
thức làm kinh tế, xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ và
hạnh phúc”. Những năm qua, CLB như là ngôi nhà thứ hai của chị.
Trong hơn 10 năm qua, câu lạc bộ “Gia đình hạnh phúc”
đã mang lại hạnh phúc thực sự cho hang trăm phụ nữ ở Hồng Phương.
Kim Ngân
Về đầu trang
Công tác vận động đồng bào các tôn giáo thực
hiện chính sách DS-KHHGĐ ở Phú Thọ
Tỉnh Phú Thọ có 2 tôn giáo chính là đạo Phật và đạo
Công giáo với hơn 180.000 tín đồ, chiếm 13,9% dân số toàn tỉnh.
Trong đó đạo Công giáo có hơn 113.000 tín đồ, chiếm 8,5% dân số, có
120 cơ sở thờ tự (nhà thờ, nhà nguyện); đạo Phật gần 72.000 phật tử
chiếm 5,4% dân số sinh hoạt tôn giáo tại 296 ngôi chùa.
Bên cạnh 2 tôn giáo chính, trên địa bàn tỉnh còn có
đạo BaHa’i và đạo Tin Lành. Trong những năm qua, UBMTTQ tỉnh Phú Thọ
và Chi cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình (DS- KHHGĐ) đã tích cực
triển khai vận động đồng bào là tín đồ các tôn giáo thực hiện công
tác DS- KHHGĐ lồng ghép vào cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" thu hút được kết quả đáng khích
lệ.

Cán bộ dân số- kế hoạch hóa gia đình kết hợp với khu
dân cư tuyên truyền, vận động người công giáo không sinh con thứ 3
tại xã Chí Đám (Đoan Hùng).
Đặc biệt là vận động và phát huy vai trò của các vị
chức sắc các tôn giáo, các dòng họ, những người tiêu biểu trong cộng
đồng dân cư tham gia thực hiện công tác DS -KHHGĐ nhằm ổn định dân
số, phát triển kinh tế- xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi và sức
khoẻ gia đình, xây dựng và củng cố gia đình, mang bản sắc văn hoá
dân tộc Việt Nam với các chuẩn mực "no ấm, khoẻ mạnh, bình đẳng,
tiến bộ và hạnh phúc". Xác định công tác dân số- KHHGĐ là một bộ
phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một yếu tố cơ
bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình
và toàn xã hội, hàng năm ngay từ đầu năm Ban Thường trực MTTQ tỉnh
đều ra các văn bản hướng dẫn hoạt động công tác tôn giáo cho hệ
thống MTTQ và các tổ chức thành viên để phối hợp thực hiện công tác
tuyên truyền, vận động các tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc tôn
giáo thực hiện các chủ trương đường lối, chính sách pháp luật của
Đảng, Nhà nước, gắn tổ chức công tác truyền thông DS- KHHGĐ vào cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư''.
Trong đó, đặc biệt chú trọng công tác phối hợp với các tổ chức thành
viên tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về các chủ trương, đường lối
chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước thông qua nhiều hình thức
như tuyên truyền miệng, qua hệ thống truyền thanh, tài liệu, sách
báo, hội nghị nhân dân, kết hợp việc thuyết giảng giáo lý kinh sách
của các vị chức sắc gắn với công tác DS- KHHGĐ.
Qua thực tiễn cho thấy hiệu quả cuộc vận động "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" được tăng lên
rõ rệt, như công tác xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, chăm sóc
sức khoẻ cộng đồng, chăm sóc, bảo vệ gia đình và trẻ em, xây dựng
gia đình hạnh phúc, thu hút được mọi tầng lớp, lứa tuổi, các chức
sắc tôn giáo tham gia. Vì vậy mà chương trình được xã hội hoá cao,
mang lại cơ hội tốt cho mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, dòng họ;
kinh tế, văn hoá, xã hội được phát triển, đời sống của đồng bào có
đạo được cải thiện rõ rệt, tình làng nghĩa xóm được củng cố bền vững.
Qua đánh giá, hàng năm luôn có 95% hộ gia đình có đồng bào các tôn
giáo cam kết thực hiện các phong trào, có hơn 90% khu dân cư (KDC)
đồng bào có đạo tổ chức tốt ngày hội đại đoàn kết, đạt KDC văn hoá
và KDC tiên tiến thực hiện tốt công tác DS KHHGĐ, không có người
sinh con thứ 3. Nhiều đồng bào các tôn giáo được khen thưởng trong
ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư.
Hàng năm, MTTQ tỉnh hướng dẫn chỉ đạo MTTQ các huyện,
thành, thị và các tổ chức thành viên đưa tiêu chí không có người
sinh con thứ 3 vào việc bình xét phong trào "Ông bà, cha mẹ mẫu mực,
con trung hiếu cháu thảo hiền" và mở rộng việc tập hợp, phát huy vai
trò các vị chức sắc vào làm thành viên, hội viên Hội chữ thập đỏ,
Hội khuyến học, Hội nạn nhân chất độc da cam, các tổ chức xã hội, xã
hội nghề nghiệp, các tổ chức đoàn thể nhân dân ở cộng đồng dân cư.
Đồng thời xây dựng cơ cấu hợp lý để các vị chức sắc tham gia vào các
hội nghị biểu dương các điển hình tiên tiến; xây dựng cơ cấu hợp lý
để các vị chức sắc, chức việc tham gia vào các hoạt động xã hội. Đến
nay, nhiều vị chức sắc tôn giáo đã tham gia các tổ chức xã hội, đây
là những nhân tố điển hình làm nòng cốt trong công tác vận động
tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thực hiện các chiến lược các
chính sách về DS- KHHGĐ trên địa bàn tỉnh. Tranh thủ sự ủng hộ của
các chức sắc tôn giáo, UBMTTQ tỉnh đưa nội dung tuyên truyền về dân
số, sức khoẻ, sinh sản, sức khoẻ tình dục tại cộng đồng theo dự án
VNM7PG0002. UBMTTQ tỉnh chọn Cẩm Khê là huyện có nhiều xã công giáo
toàn tòng làm điểm triển khai sau đó nhân rộng ra các huyện, xã khác
trong toàn tỉnh nhằm thường xuyên thông tin và nâng cao nhận thức về
sức khoẻ sinh sản cho đồng bào các tôn giáo. Hàng tháng, hàng quý và
6 tháng đều tổ chức giao lưu giữa các góc truyền thông của các xã,
nhằm chia sẻ kinh nghiệm, tổ chức toạ đàm, giao lưu văn hoá, văn
nghệ, thể thao. Qua đó, nâng cao chất lượng và sử dụng dịch vụ sức
khoẻ sinh sản, tập trung chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ sơ sinh tại
vùng khó khăn đồng bào các dân tộc tôn giáo. Đến nay, xây dựng được
2.947 tổ hoà giải với 13.915 tổ viên, trong đó 10.214 tổ viên là
những chức sắc, chức việc trong các tôn giáo…
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Việt Phương- Chi
cục phó Chi cục DS- KHHGĐ cho biết: Hiện nay, Chi cục và các trung
tâm thành viên phối hợp với MTTQ các cấp đẩy mạnh các hoạt động
tuyên truyền vận động về công tác DS-KHHGĐ lồng ghép vào cuộc vận
động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" phù
hợp với điều kiện thực tế ở địa phương, cơ sở, đặc biệt ở vùng có
đông đồng bào là tín đồ các tôn giáo. Đưa các nội dung DS- KHHGĐ vào
các lớp tập huấn đối với cán bộ chủ chốt của MTTQ, Trung tâm DS-
KHHGĐ, các vị chức sắc tôn giáo, Trưởng dòng họ, Trưởng Ban công tác
Mặt trận và những người tiêu biểu trong cộng đồng dân cư nói chung
và đồng bào có đạo nói riêng. Đồng thời đưa nội dung công tác DS-
KHHGĐ vào quy ước, hương ước làng, vào tiêu chuẩn xây dựng "khu dân
cư tiên tiến" coi đó là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá, bình
xét công nhận các danh hiệu thi đua trong các phong trào "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"… Tuy nhiên, có thực
tế vẫn còn tồn tại như: Tỷ lệ sinh con thứ 3 ở khu vực các đồng bào
công giáo vẫn còn cao, do nhiều nguyên nhân như người dân hạn chế
trong sử dụng các biện pháp tránh thai, khi mang thai lại để sinh,
có những trường hợp cố ý sinh con lần 3 để có thêm con trai, gái
hoặc do gia đình có điều kiện kinh tế…
Trong thời gian tới công tác DS- KHHGĐ trong hệ thống
Mặt trận, Chi cục DS-KHHGĐ và các trung tâm thành viên, nhất là
trong các vùng đồng bào có đạo trên địa bàn tỉnh, cần thực hiện tốt
các nhiệm vụ như: Thường xuyên thực hiện tốt công tác phối hợp tuyên
truyền với các ngành chức năng, vận động cán bộ, đảng viên và các
tầng lớp nhân dân, các vị chức sắc các tôn giáo hiểu đầy đủ các chủ
trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về
công tác DS-KHHGĐ; tăng cường gặp gỡ tiếp xúc, trao đổi với chức sắc
các tôn giáo những người có vị trí quan trọng trong tổ chức giáo hội
có uy tín và ảnh hưởng lớn trong các tín đồ, phật tử để hiểu biết
lẫn nhau cùng nhau bàn bạc, xoá dần khoảng cách để cùng vận động
thực hiện các chủ trương chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước và
các phong trào thi đua yêu nước trong quần chúng tín đồ; quan tâm
đến việc xây dựng lực lượng cốt cán là chức sắc các tôn giáo, các
già làng, trưởng dòng họ, các quần chúng tín đồ tiêu biểu có uy tín
tham gia vào các tổ chức xã hội. Phát triển đoàn viên hội viên trong
tín đồ các tôn giáo nhằm bồi dưỡng phát huy những yếu tố tích cực và
phù hợp với giáo lý, giáo luật của các tôn giáo nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả các phong trào, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước,
MTTQ phát động. Đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng và triển khai các
mô hình như: Kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân; cung cấp
dịch vụ gia đình nhằm xác định những thông tin và nhu cầu dịch vụ
phục vụ cho đời sống gia đình, cá nhân về các lĩnh vực bảo vệ sức
khoẻ, CSSKSS-KHHGĐ; tập huấn, tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản vị
thành niên ở các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh; tuyên
truyền, vận động, phổ biến pháp luật và các chính sách về DS-KHHGĐ
cho tín đồ các tôn giáo, đặc biệt nhấn mạnh về tình trạng mất cân
bằng giới tính khi sinh, đồng thời nghiêm cấm việc chẩn đoán giới
tính thai nhi tại các Trung tâm và cơ sở y tế địa phương… Thực hiện
giám sát, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm và khen thưởng các tổ
chức cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác DS-KHHGĐ. Thông
qua các phong trào nhằm sáng tạo nhiều cách làm phong phú về bảo vệ,
chăm sóc sức khỏe sinh sản. Phát động toàn dân nêu cao ý thức, động
viên, khuyến khích cá nhân, tập thể làm tốt công tác DS- KHHGĐ. Đồng
thời yêu cầu chính quyền và các ngành chức năng có biện pháp xử lý
nghiêm minh đối với các gia đình và những người vi phạm Pháp lệnh
DS- KHHGĐ. Từ đó có giải pháp tuyên truyền vận động cán bộ, đảng
viên và nhân dân địa phương nói chung và tín đồ, chức sắc các tôn
giáo nói riêng hiểu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước để
thực hiện thật tốt công tác dân số- kế hoạch hoá gia đình trên địa
bàn.
Ngọc Lam
Về đầu trang
Điểm sáng công tác DS-KHHGĐ khu 5, xã Gia Điền,
huyện Hạ Hòa
Đó là khu 5, xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
Khu có 80 hộ và 276 nhân khẩu, bên cạnh nghề truyền thống làm nông
nghiệp, trồng rừng, trồng chè gần đây bà con còn phát triển thêm mô
hình nuôi ong và may mặc nên kinh tế của khu đã khá hơn rất nhiều. Ở
khu 5, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khá cao 48/77 trong đó 45/48
cặp vợ chồng đang sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại. Vì vậy để
duy trì thành tích 18 năm liền kể từ năm 1994 đến nay không có người
sinh con thứ 3, đặc biệt có 9 cặp vợ chồng sinh con một bề là gái;
tỉ lệ nạo phá thai rất thấp, cùng với sự quan tâm chỉ đạo của các
cấp ủy Đảng, chính quyền của xã và của khu dân cư, sự phối hợp chặt
chẽ của các ngành, đoàn thể nhân dân khu 5 đã đưa chính sách DS-KHHGĐ
vào quy ước, hương ước của khu, coi chỉ tiêu dân số là một trong
những chỉ tiêu quan trọng để xét duyệt các danh hiệu thi đua và xét
duyệt các ưu tiên khác.

Đã nhiều năm tham gia công tác DS-KHHGĐ nên chị Phạm
Thị Lan - cộng tác viên dân số của khu hiểu:. Do tâm lý thích có con
trai để nối dõi tông đường vẫn ăn sâu trong phần lớn tâm trí người
dân nên trong tuyên truyền vận động, chị thường xuyên lồng ghép nội
dung DS-KHHGĐ vào các buổi sinh hoạt của các ban, ngành, đoàn thể.
Chị còn tranh thủ trao đổi với các nhóm đối tượng ngay cả khi lao
động trên thửa ruộng hay nương chè. Chị đã không quản nắng, mưa đến
từng gia đình để tư vấn, tuyên truyền, vận động các cặp vợ chồng
biết tác hại của việc nạo phá thai và cách lựa chọn biện pháp tránh
thai cho phù hợp, đến nay chị vẫn được bà con thôn xóm tin yêu gọi
với cái tên "Bác sĩ KHHGĐ".
Trao đổi với ông Trần Văn Biên - Bí thư chi bộ và ông
Lê Văn Phúc - trưởng khu được biết: Để duy trì thành tích không có
các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, không sinh con thứ 3, khu
phải nỗ lực rất nhiều trong công tác tuyên truyền, vận động bà con
chấp hành tốt công tác DS-KHHGĐ, giải thích, tuyên truyền giúp bà
con hiểu rõ lợi ích của việc sinh đẻ có kế hoạch. Đồng thời chỉ ra
nguyên nhân của sự đói nghèo và lạc hậu một phần là do đẻ nhiều, đẻ
mau. Do vậy 9 cặp vợ chồng sinh con một bề của khu đã không có ý
định sinh con thứ 3 mà dành thời gian phát triển kinh tế gia đình,
cho nên kinh tế cả 9 hộ gia đình đều khá giả, các cháu chăm ngoan
học giỏi. Tiêu biểu là gia đình anh chị Quý Hương có hai cháu gái
hiện đang theo học tại các trường đại học, kinh tế gia đình anh
thuộc diện khá giả của khu. Hiện nay, toàn khu số hộ kinh tế ở mức
trung bình trở lên là 71/80 hộ chiếm 88,7%, tỉ lệ hộ nghèo giảm chỉ
còn 9/80 hộ chiếm 11,3%; đặc biệt có tới 72/80 hộ đạt gia đình văn
hóa chiếm tới 90%. Thành quả mà khu đã đạt được trong những năm qua
là không nhỏ. Năm 2001-2005 được UBDSGĐ&TE tỉnh tặng danh hiệu khu 5
năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên; năm 2008-2011 đạt
khu dân cư văn hóa cấp huyện.
Hồng
Tuyết
Về đầu trang
Tăng cường thực
hiện công tác truyền thông về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Cùng với cả nước, chất lượng dân số ở Bắc Kạn đã từng bước ổn
định về quy mô, ngày càng được nâng cao. Có được kết quả đó một phần
là do thực hiện hiệu quả công tác truyền thông về Dân số - Kế hoạch
hóa gia đình.

Trong 10 năm thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam và chiến
lược Quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001 – 2010,
Bắc Kạn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên giảm từ 1,47% (2001) xuống còn 1% (2011); tỷ lệ sinh con
thứ 3 trở lên giảm xuống còn 3,98% vào năm 2011 (năm 2000 là 8,86%)…
Đặc biệt, tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của phụ nữ trong độ
tuổi sinh đẻ) giảm nhanh, từ 2,61 con/phụ nữ (1999) xuống còn 1,91
con (2011). Như vậy, mức sinh của Bắc Kạn thấp hơn mức sinh của cả
nước và thấp hơn mức sinh thay thế (bình quân trong toàn xã hội mỗi
cặp vợ chồng có hai con) và là một trong 24 tỉnh, thành phố có mức
sinh thấp hơn mức sinh thay thế.
Tuy nhiên, công tác dân số ở tỉnh Bắc Kạn vẫn đang đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức như: Mức sinh thấp nhưng thiếu bền vững,
tiềm ẩn việc gia tăng trở lại; tỷ số giới tính khi sinh tăng từ 102
năm 2009 lên 117 bé trai trên 100 bé gái năm 2011. Bên cạnh đó, chất
lượng dân số của tỉnh còn thấp, thể hiện ở các chỉ số như tỷ lệ hộ
đói nghèo còn cao, thu nhập bình quân đầu người thấp, tình trạng trẻ
em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng năm 2011 là 23% cao hơn cả nước
(16,8%).
Ngoài ra, vẫn còn tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết
thống; còn nhiều phụ nữ chuẩn bị kết hôn hoặc trước khi sinh chưa
được tư vấn và khám sức khoẻ để ngăn ngừa những yếu tố có nguy cơ
cao ảnh hưởng trực tiếp đến sự mang thai và chất lượng bào thai. Trẻ
sơ sinh chưa được phát hiện và can thiệp điều trị sớm các bệnh
chuyển hóa, di truyền... Đây là những thách thức đặt ra cho chương
trình dân số hiện nay và những năm tiếp theo.
Trước thực tế đó, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh
xác định cần tăng cường công tác truyền thông, triển khai các nội
dung tuyên truyền tới từng nhóm đối tượng, từng độ tuổi, từng vùng,
từng dân tộc, nhất là ở vùng sâu, vùng xa có mức sinh cao. Thực hiện
phương châm xã hội hóa công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, tỉnh
Bắc Kạn đã huy động sự tham gia của các lực lượng xã hội trong công
tác tuyên truyền, phối hợp lồng ghép mục tiêu dân số với phát triển
thông qua các hoạt động và chương trình công tác của các ban, ngành,
đoàn thể, tổ chức xã hội.
Bên cạnh đó, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh đã
triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân về
thực hiện mô hình gia đình nhỏ, ít con để có cuộc sống ấm no, tiến
bộ, hạnh phúc và được đông đảo nhân dân trong tỉnh đồng tình hưởng
ứng. Hoạt động truyền thông, tư vấn tại cộng đồng, sinh hoạt câu lạc
bộ thuộc các nhóm đối tượng phụ nữ, thanh niên, nông dân... đã phát
huy hiệu quả tốt. Đồng thời, công tác Dân số - KHHGĐ cũng được đưa
vào hương ước, quy ước của địa phương khi triển khai phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, từ đó được nhân dân
đồng tình hưởng ứng.
Đặc biệt, các chính sách xóa đói, giảm nghèo, chính sách ưu
tiên, trợ giúp cho các đối tượng khó khăn được quan tâm hơn đã tác
động đáng kể đến nâng cao chất lượng dân số, ổn định xã hội. Đi đôi
với đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Dân số - Kế hoạch hóa gia
đình với các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã mang lại hiệu
quả, đã phát huy được khả năng, thế mạnh của mỗi bên trong việc lồng
ghép chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình với chương trình
hoạt động thường xuyên của các đơn vị phối hợp.
Do vậy, công tác này đã từng bước thu được những kết quả đáng
phấn khởi, người dân đã có nhận thức đúng đắn về lợi ích của việc
chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, mô hình gia đình
ít con, khỏe mạnh được được xã hội chấp nhận và được coi là một
chuẩn mực của gia đình văn hóa. Bên cạnh các hoạt động truyền thông
thì việc nhân bản và phân phối những sản phẩm truyền thông của Trung
ương đã được Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh thực hiện,
phù hợp với đặc thù của địa phương, nhận thức và phong tục tập quán
của người dân; các trang thiết bị truyền thông phát huy được hiệu
quả, hỗ trợ cho các hoạt động truyền thông ở tuyến cơ sở.
Có thể nói, công tác truyền thông về Dân số - Kế hoạch hóa
gia đình ở Bắc Kạn trong những năm qua được triển khai đồng bộ,
thường xuyên ở cả 3 tuyến: tỉnh, huyện và xã. Các kênh truyền thông
được vận dụng phong phú, hiệu quả; các hình thức tư vấn trực tiếp
được chú trọng, lực lượng tham gia hoạt động truyền thông là những
tuyên truyền viên, cộng tác viên dân số cơ sở...
Trong giai đoạn 2011 – 2015, Bắc Kạn xác định chuyển trọng
tâm từ các hoạt động nhằm giảm mức sinh sang ưu tiên các hoạt động
nhằm nâng cao chất lượng dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
theo nội dung của Chiến lược Dân số - Sức khoẻ sinh sản giai đoạn
2011 – 2020. Do đó công tác truyền thông giáo dục về chăm sóc sức
khỏe sinh sản cần được chú trọng thực hiện. Để thực hiện được nhiệm
vụ này cần sự vào cuộc của cơ quan Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và
các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội cùng tham gia
vào công tác truyền thông./.
Vi
Ngân
Về đầu trang
|