|
NGÀY
16 THÁNG 12 NĂM 2004 , THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
BAN HÀNH
QUYẾT ĐỊNH
SỐ 212/2004/QĐ-TTg
Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến,
giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ,
nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2002 của Thủ tư ớng Chính
phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1.
Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ
năm 2005 đến năm 2010 (gọi tắt là Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục
pháp luật) gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
1. Mục tiêu: tạo chuyển biến căn bản trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật,
ý thức tôn trọng pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân ở xã,
phường, thị trấn góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn an
ninh và trật tự an toàn xã hội.
2. Nội dung của Chương trình gồm: 4 Đề án kèm theo Quyết định này.
Điều 2.
Tổ chức thực hiện và kinh phí của Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục
pháp luật.
1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở trung ương
và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện Chương
trình này.
2. Kinh phí thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật do
ngân sách nhà nước bảo đảm (bao gồm ngân sách trung ương, ngân sách địa
phương).
Điều 3.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 4.
Trách nhiệm thực hiện
1. Các bộ, ngành được giao chủ trì và phối hợp thực hiện Đề án chịu trách
nhiệm triển khai thực hiện có hiệu quả và đúng tiến độ Đề án được phân công.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc thực hiện Chương
trình này.
3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Phan Văn
Khải - Đã ký
Về đầu trang
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO Ý THỨC CHẤP HÀNH
PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, NHÂN DÂN Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
TỪ
NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg
ngày 16 tháng 12 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ)
A.
MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH
I. Mục tiêu chung:
Tạo chuyển biến căn bản trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn
trọng pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị
trấn góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh và trật
tự an toàn xã hội.
II. Mục tiêu cụ thể:
1. Nâng cao năng lực, trách nhiệm thực hiện và thi hành pháp luật của cán bộ,
công chức ở xã, phường, thị trấn.
2. Đẩy mạnh phổ biến, hướng dẫn thực hiện những quy định pháp luật gắn trực
tiếp đến cuộc sống của ngời dân, phù hợp với đối tượng, đặc thù kinh tế, xã
hội và tình hình thi hành pháp luật ở từng địa bàn.
3. Từng bước ngăn chặn và hạn chế vi phạm pháp luật ở khu dân cư; xây dựng môi
trường sống lành mạnh trong từng gia đình, trong cộng đồng; tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ về chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực đất đai, khiếu nại, tố cáo,
an toàn giao thông, phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, bảo vệ và
phát triển rừng, dân số... tại các địa bàn trọng điểm.
4. Xây dựng các mô hình, cơ chế phối hợp trong hoạt động phổ biến, giáo dục
pháp luật và vận động chấp hành pháp luật có hiệu quả, phù hợp với địa bàn xã,
phường, thị trấn.
5. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn trong việc
phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân
cư.
B. CÁC ĐỀ ÁN CỦA CHƯƠNGTRÌNH
I. Đề án thứ nhất: Đưa thông tin pháp luật đến cán bộ, nhân dân thông qua
phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hoá thông tin ở xã,
phường, thị trấn.
1. Nội dung và mục tiêu:
a) Thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật một cách thường xuyên, có
trọng điểm, bằng nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ, nhân dân. Coi trọng việc biểu dương các nhân tố tích cực, điển hình tiên
tiến trong thi hành, chấp hành pháp luật, đồng thời phê phán những hành vi vi
phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tăng thời lượng, trang viết
tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số.
b) Sử dụng có hiệu quả hệ thống truyền thanh cơ sở trong phổ biến, thông tin
pháp luật. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cần thiết, kỹ năng biên soạn thông
tin pháp luật cho cán bộ đài truyền thanh xã, phường, thị trấn.
c) Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động nhân dân chấp hành
pháp luật thông qua hoạt động của các Đội thông tin lưu động, Trung tâm văn
hoá thông tin, Nhà văn hoá các cấp. Xây dựng các chương trình văn hoá, văn
nghệ, thông tin cổ động, thông tin lưu động gắn với vận động chấp hành pháp
luật, xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, tệ nạn xã hội trong cộng đồng
dân cư.
d) Phấn đấu đến năm 2010, 100% phóng viên báo, đài chuyên trách về công tác
tuyên truyền, phổ biến pháp luật và cán bộ văn hoá - thông tin xã, phường, thị
trấn thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo
dục pháp luật để tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.
2. Cơ quan thực hiện:
Bộ Văn hoá - Thông tin chủ trì; Bộ Tư pháp, Bộ Bưu chính, Viễn thông, Ban Tư
tưởng - Văn hoá Trung ương, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam
và các cơ quan thông tấn, báo chí khác phối hợp thực hiện.
II. Đề án thứ hai: Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp
hành pháp luật trong cộng đồng dân cư.
1. Nội dung và mục tiêu:
a) Lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động nhân dân chấp hành
pháp luật với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư; phong trào phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; hoạt động hoà giải ở cơ
sở và việc thực hiện hương ước, quy ước ở cộng đồng dân cư.
b) Lựa chọn một số địa bàn xã, phường, thị trấn thuộc khu vực thành thị, nông
thôn, miền núi và tại 3 vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để xây dựng điểm
sáng trong chấp hành pháp luật.
c) Xây dựng nhóm cộng đồng ở khu dân cư tham gia phổ biến pháp luật, vận động
chấp hành pháp luật phù hợp với đặc thù từng địa bàn, từng nhóm đối tượng.
2. Cơ quan thực hiện:
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì; Hội Nông dân Việt Nam,
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá - Thông tin
và các bộ, ngành khác phối hợp thực
hiện.
III. Đề án thứ ba: Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu
nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn.
1. Nội dung và mục tiêu:
a) Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về công tác tiếp
dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn bằng nhiều hình thức
thiết thực, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, ý thức chấp hành pháp
luật về khiếu nại, tố cáo của cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn.
b) Tuyên truyền việc chấp hành các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã
có hiệu lực pháp luật, củng cố lòng tin của nhân dân vào tính đúng đắn của các
quyết định giải quyết cụ thể; phê phán các hành vi lợi dụng quyền khiếu nại,
tố cáo để gây rối, coi thường và chống đối pháp luật.
c) Định kỳ bồi dưỡng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ làm
công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn nhằm
nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo
của cán bộ ở xã, phường, thị trấn.
2. Cơ quan thực hiện:
Thanh tra Chính phủ chủ trì; Bộ Tư pháp, Bộ Văn hoá - Thông tin, Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và các bộ, ngành khác
phối hợp thực hiện.
IV. Đề án thứ tư: Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong phổ
biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân
dân ở xã, phường, thị trấn.
1. Nội dung và mục tiêu:
a) Phát huy vị trí, vai trò của tư pháp xã, phường, thị trấn trong công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân thông qua nhiều hình thức
phù hợp và có hiệu quả thiết thực như tuyên truyền miệng, thông qua câu lạc bộ
pháp luật, thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở, tủ sách pháp luật...
b) Thực hiện cung cấp thông tin pháp luật, hướng dẫn, tư vấn pháp luật miễn
phí định kỳ cho các đối tượng là người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào
dân tộc thiểu số thông qua các trung tâm tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý.
c) Tổ chức tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho
đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn.
d) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức của
hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp
luật nhằm nâng cao sự hiểu biết pháp luật cho cán bộ, nhân dân.
đ) Nâng cao vai trò của cán bộ tư pháp, công an xã trong việc tham mưu cho
chính quyền xã, phường, thị trấn thực hiện nhiệm vụ thi hành bản án, quyết
định của Toà án trong phạm vi thẩm quyền.
e) Thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân xã, phường, thị trấn thông qua các
phiên toà xét xử lưu động và công tác thi hành án trên địa bàn.
2. Cơ quan thực hiện:
Bộ Tư pháp chủ trì; Ban Nội chính Trung ương, Toà án nhân dân tối cao, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ quan khác phối hợp thực hiện.
C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
I. Thời gian thực hiện
Chương trình
quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật được
thực hiện từ năm 2005 đến năm 2010, chia làm 2 giai đoạn:
1. Từ năm 2005 đến năm 2007
triển khai một số hoạt động chính sau:
a) Xây dựng các Đề án của Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật,
kế hoạch thực hiện cụ thể và tổ chức triển khai.
b) Xác định những địa bàn trọng điểm, tập trung chỉ đạo.
c) Tổ chức chiến dịch truyền thông; phát động phong trào sâu rộng trong nhân
dân về tìm hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
d) Sơ kết giai đoạn 1.
2. Từ năm 2008 đến năm 2010:
Tiếp tục triển khai Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật trên
phạm vi cả nước. Tổng kết việc thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo
dục pháp luật vào năm 2010.
II. Giải pháp chủ yếu thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp
luật
1. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp,
nhất là cấp xã; phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật ở xã, phường, thị trấn. Huy động tổ trưởng tổ dân
phố, già làng, trưởng thôn, làng, ấp, bản, các chức sắc tôn giáo, cán bộ hoà
giải và các lực lượng hoạt động tình nguyện ở cơ sở tham gia tuyên truyền, phổ
biến pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.
2. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tham gia phổ biến, giáo dục
pháp luật ở cơ sở của các ngành và địa phưương nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện
Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Xây dựng chính sách, chế
độ cho cán bộ và cộng tác viên thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật.
3. Triển khai đồng bộ các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật,
vận động chấp hành pháp luật phù hợp với từng địa bàn, từng vùng và từng nhóm
đối tượng ở xã, phường, thị trấn.
4. Đầu tư hợp lý các phương tiện, điều kiện phục vụ phổ biến, giáo dục pháp
luật ở những vùng dân tộc ít người, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn. Huy động sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài, các nguồn lực
của cộng đồng tham gia tích cực vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vận
động chấp hành pháp luật ở xã, phường, thị trấn.
5. Phát động phong trào chấp hành pháp luật sâu rộng trong từng hộ gia đình,
từng khu dân cư. Thu hút sự tham gia của nhân dân trong việc thực hiện Chương
trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật; phát huy tính chủ động, tự giác
của nhân dân trong tìm hiểu pháp luật và tự giác chấp hành pháp luật.
6. Gắn kết chặt chẽ việc thực hiện Chương trình
quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật với
cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, với phong trào đấu
tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở khu dân cư, với việc thực hiện
các chương trình kinh tế - xã hội, hoạt động áp dụng và chấp hành pháp luật ở
từng địa bàn xã, phường, thị trấn.
III. Tổ chức điều hành
1. Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải được tổ chức
thực hiện đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên của các ngành, các
cấp, các đoàn thể, sự hưởng ứng tham gia của toàn dân.
2. Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp
luật, tổ chức điều hành và kiểm tra các hoạt động của Chương trình trên phạm
vi cả nước, phối hợp chỉ đạo thực hiện các Đề án trong Chương trình trên cùng
một địa bàn cụ thể nhằm khai thác tốt nhất các nguồn lực, các phương tiện,
điều kiện, đội ngũ để tập trung tạo sự chuyển biến trong những lĩnh vực đã xác
định.
3. Các cơ quan chủ trì đề án thành lập Ban Điều hành Đề án, do lãnh đạo của cơ
quan đó làm Trưởng ban và các thành viên là lãnh đạo các cơ quan phối hợp thực
hiện Đề án.
4. Các bộ, ngành được giao chủ trì Đề án có trách nhiệm xây dựng Đề án chi
tiết trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nội dung; trực tiếp chỉ đạo, triển
khai có hiệu quả các Đề án trong Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp
luật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
IV. Phân công trách nhiệm
1. Bộ Tư pháp:
a) Xây dựng kế hoạch từng giai đoạn, từng năm, cơ chế, chính sách, giải pháp
để thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật một cách phù
hợp, có hiệu quả; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực
hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật; định kỳ hàng năm báo
cáo Thủ tướng Chính phủ về tiến độ và kết quả thực hiện Chương trình quốc gia
phổ biến, giáo dục pháp luật.
b) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương chỉ đạo điểm việc thực hiện Chương trình quốc gia phổ
biến, giáo dục pháp luật tại một số địa bàn để rút kinh nghiệm.
c) Phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành có liên
quan lập dự trù kinh phí và các phương tiện cần thiết để thực hiện Chương
trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả.
2. Bộ Tài chính:
a) Chủ trì xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể việc quản lý, sử dụng kinh phí từ
ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp
luật.
b) Hàng năm, căn cứ báo cáo dự toán kinh phí của các cơ quan chủ trì Đề án,
thẩm tra và tổng hợp trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm theo quy định
của Luật Ngân sách nhà nước; đồng thời thực hiện việc kiểm tra công tác quản
lý và sử dụng kinh phí theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.
c) Phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và các bộ, ngành có liên quan xây dựng
chính sách, chế độ cho cộng tác viên thực hiện công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
Phối hợp với Bộ Tài chính bố trí ngân sách cho Chương trình quốc gia phổ biến,
giáo dục pháp luật trong kế hoạch hàng năm trình Chính phủ theo quy định của
Luật Ngân sách nhà nước.
4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
Xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện Chương trình quốc gia phổ biến,
giáo dục pháp luật phù hợp với tình hình của địa phương; lồng ghép các hoạt
động của Chương trình này với hoạt động của các chương trình, kế hoạch khác có
liên quan trên cùng địa bàn; bố trí từ ngân sách địa phương để thực hiện các
nội dung của Chương trình quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn.
Chỉ đạo xây dựng các điểm sáng trong chấp hành pháp luật tại khu dân cư.
5. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Hội đồng phối hợp công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp có trách nhiệm tổ chức triển khai
thực hiện Chương trình này.
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Phan
Văn Khải -
Đã
ký
Về đầu trang
NGÀY 28 THÁNG 01 NĂM 2006, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
BAN
HÀNH
QUYẾT ĐỊNH SỐ 28/2006/QĐ – TTg
Phê duyệt các Đề án chi tiết thuộc Chương trình hành động quốc gia
phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010
______
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ vào Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ
biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ,
nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1.
Phê duyệt các Đề án chi tiết thuộc Chương trình hành động quốc gia phổ biến,
giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân
ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010 thực hiện trong hai giai đoạn:
từ năm 2005 đến năm 2007 và từ năm 2008 đến năm 2010 (kèm theo Quyết định
này) cụ thể như sau:
1. Đề án thứ nhất:
Đưa thông tin pháp luật đến cán bộ, nhân dân thông qua phương tiện thông tin
đại chúng và các thiết chế văn hoá thông tin ở xã, phường, thị trấn.
a) Cơ quan chủ trì: Bộ Văn hoá - Thông tin.
b) Nội dung Đề án: phổ biến kịp thời quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước tới cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn trong
cả nước thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hoá
- thông tin cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức tự giác chấp
hành pháp luật trong nhân dân, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và hạn chế vi
phạm pháp luật trong cộng đồng dân cư. Bảo đảm công tác thông tin, tuyên
truyền pháp luật đến cán bộ, nhân dân ở cơ sở một cách thường xuyên và có hiệu
quả.
2. Đề án thứ hai:
Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong
cộng đồng dân cư.
a) Cơ quan chủ trì: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
b) Nội dung Đề án: tập trung vào việc tuyên truyền pháp luật, vận động nhân
dân chấp hành pháp luật, xây dựng các điểm sáng trong chấp hành pháp luật; thu
hút, vận động nhân dân tham gia các phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư; phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; hoạt động
hoà giải ở cơ sở và thực hiện hương ước, quy ước ở cộng đồng dân cư.
3. Đề án thứ ba:
Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị
trấn.
a) Cơ quan chủ trì: Thanh tra Chính phủ.
b) Nội dung Đề án: tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các quy định về
tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn bằng nhiều hình
thức thiết thực; bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ cho cán bộ làm
công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phổ biến pháp luật về khiếu
nại, tố cáo thông qua xuất bản, biên dịch các tài liệu liên quan phù hợp với
ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc; xây dựng quy chế phối hợp giữa Hội Nông
dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn với chính quyền cấp xã trong
tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo cho
cán bộ, nhân dân ở các xã, phường, thị trấn.
4. Đề án thứ tư:
Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong phổ biến, giáo dục pháp
luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường,
thị trấn.
a) Cơ quan chủ trì: Bộ Tư pháp
b) Nội dung Đề án: tập trung khai thác có hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật thông qua các hoạt động tư pháp ở xã, phường, thị trấn; bồi dưỡng lý
luận chính trị, kiến thức pháp luật, tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến,
giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn; lồng ghép
phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đặc thù từng loại hoạt động tư pháp;
xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan tư pháp và các cơ quan, tổ
chức của hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn trong phổ biến, giáo dục
pháp luật.
Điều 2.
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 3.
Trách nhiệm thực hiện
1. Ban Chỉ đạo Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật
có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các Đề án
chi tiết, định kỳ tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
2. Các Bộ, ngành, đoàn thể được giao chủ trì các Đề án có trách nhiệm phối hợp
với các Bộ, ngành, đoàn thể có liên quan ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện các Đề án chi tiết đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
3. Các Bộ, ngành được giao chủ trì thực hiện Đề án, căn cứ vào mục tiêu, nội
dung Đề án chi tiết, lập dự toán kinh phí gửi Bộ Tài chính tổng hợp trình cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm
của Bộ, ngành.
4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
THỦ TƯỚNG
Phan Văn Khải
– Đã ký
Về đầu trang
ĐỀ ÁN THỨ HAI
XÂY DỰNG VÀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG
CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 28/2006/QĐ-TTg
ngày 28 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ
________
Cơ quan chủ trì:
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Cơ quan phối hợp:
- Hội Nông dân Việt Nam;
-
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
- Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
- Hội Cựu chiến binh Việt Nam;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Văn hoá - Thông tin;
- Bộ Tài chính.
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN
Một hệ thống pháp luật phù hợp và dễ tiếp cận đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây các văn bản pháp luật ban hành ngày càng nhiều, trong khi công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở còn nhiều bất cập, nhất là trình độ đội ngũ
cán bộ cơ sở và điều kiện phương tiện, tài liệu phục vụ công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật còn hạn chế; tuyên truyền, phổ biến chưa kết hợp chặt chẽ
với vận động, thuyết phục, giáo dục. Mặt khác, trình độ dân trí của nhân dân ở
nhiều nơi còn thấp, khiến cho người dân khó có thể nắm bắt thông tin pháp luật
thiết yếu để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Từ thực trạng trên dẫn đến hiểu biết pháp luật của nhân dân còn hạn chế, ý
thức chấp hành pháp luật của nhân dân chưa cao. Theo thống kê thì tỷ lệ mất
rừng của Việt Nam cao nhất trong khu vực, chiếm 2,8%/năm do tình trạng chặt
phá rừng. Tình trạng người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai và tình
hình khiếu kiện về đất đai diễn ra nghiêm trọng và phổ biến, có đến 70 % vụ
khiếu kiện có nội dung liên quan đến đất đai. Năm 2004 cả nước xảy ra trên
17.600 vụ tai nạn giao thông làm trên 12.200 người chết mà nguyên nhân chủ yếu
vẫn là ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của người dân còn nhiều hạn
chế. Tệ nạn xã hội và tội phạm còn xảy ra nhiều. Nhận thức về môi trường và ý
thức bảo vệ môi trường còn hạn chế, dẫn đến môi trường – sinh thái hiện đã ở
ngưỡng suy thoái. Hàng năm chính quyền cấp xã cả nước đã phải xử phạt hành
chính hàng trăm nghìn vụ việc vi phạm pháp luật của người dân ở nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Những tồn tại trên làm hạn chế đến hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở,
các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói
giảm nghèo nói riêng; việc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nói chung.
Hiện nay, cả nước có gần 17 triệu hộ gia đình, trong đó có 82,5% dân số sống ở
vùng nông thôn; có trên 100.000 khu dân cư. Việc nâng cao dân trí pháp luật và
ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp
thiết, nhất là vùng nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, do đặc điểm về điều
kiện tự nhiên, dân tộc, vùng miền, lứa tuổi rất khác nhau, điểm xuất phát
thấp, nên việc xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân là một quá
trình lâu dài, thường xuyên, có bước đi, hình thức phù hợp, từ thấp đến cao.
Để thực hiện mục tiêu làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức và ý thức chấp hành
pháp luật của nhân dân, giúp họ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng, hình thành nếp sống và làm việc theo pháp luật, góp phần ngăn ngừa vi
phạm pháp luật, thì không chỉ dùng biện pháp hành chính đơn thuần, mà cần kết
hợp nhiều biện pháp như tuyên truyền, vận động, thuyết phục, hướng dẫn, giải
thích. Mặt khác, việc phổ biến, giáo dục, vận động thuyết phục thực hiện pháp
luật theo hình thức một chiều từ trên xuống ít có hiệu quả, cần phải xây dựng
mô hình, điển hình cụ thể để nhân dân mắt thấy tai nghe, từ đó phát huy tính
tự giác, chủ động chấp hành pháp luật của người dân. Đồng thời, muốn thực hiện
được mục tiêu này, phải tạo sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị, trong
đó Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải đóng vai trò
nòng cốt.
Một trong những mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra là "...đảm bảo thực
hiện công bằng xã hội, thực hiện dân chủ cơ sở; chăm lo cho con người, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mọi người; phòng chống tệ nạn xã hội; phát
huy vai trò của từng người dân, từng cộng đồng trong việc tham gia đấu tranh,
ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn này...". Nghị quyết lần thứ V Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính
trị cơ sở xã, phường, thị trấn" đã đặt ra nhiệm vụ đối với Mặt trận và các
đoàn thể ở cơ sở: "Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận
và các đoàn thể sát hợp với nhu cầu và lợi ích của hội viên, đoàn viên ...
nâng cao tính tự giác của hội viên, đoàn viên, xây dựng tổ chức vững mạnh;
tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến mọi người
dân; vận động nhân dân thực hiện.....". Nghị quyết lần thứ VII Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng yêu cầu: "Mặt
trận và các Đoàn thể nhân dân cần có kế hoạch vận động, giáo dục, bồi dưỡng ý
thức giác ngộ chính trị cho đoàn viên, hội viên và nhân dân”. Điều 2 Luật
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm
vụ tuyên truyền vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp
luật...”
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy việc triển khai Đề án “Xây dựng và
đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng
dân cư” là rất cần thiết; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ việc chấp hành
pháp luật của người dân trên một số lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp
đến người dân ở một số địa bàn cụ thể. Đề án sẽ góp phần hỗ trợ việc nâng cao
hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân
cư" do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì tổ chức chỉ đạo,
đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức thành viên trong tham gia phổ biến,
giáo dục pháp luật, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
1. Mục tiêu chung
Huy động sự phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên Mặt trận
Tổ quốc, phát huy sáng kiến và tính chủ động sáng tạo của mỗi tổ chức thành
viên, tạo nên sức mạnh tổng hợp để tuyên truyền sâu, rộng pháp luật đến từng
người dân; góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật một cách
tự giác của mỗi người dân, tạo nếp sống tự quản theo pháp luật trong từng cộng
đồng dân cư; từng bước hạn chế mọi vi phạm pháp luật; giữ vững ổn định trật tự
an toàn xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Nâng cao kỹ năng tập hợp, tuyên truyền nhận thức pháp luật và vận động nhân
dân chấp hành pháp luật của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức Đoàn thể nhân
dân, Ban công tác Mặt trận và các tổ chức thành viên ở cộng đồng khu dân cư.
Phấn đấu đến hết năm 2010 các đối tượng sau được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức
pháp luật: hầu hết Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, người đứng
đầu của các tổ chức thành viên Mặt trận của cấp xã; Ban công tác Mặt trận, chi
hội, chi đoàn của các tổ chức thành viên ở cộng đồng khu dân cư thuộc địa bàn
trọng điểm.
b) Xây dựng điểm sáng trong chấp hành pháp luật tại các cơ sở xã, phường, thị
trấn. Phấn đấu đến hết năm 2010 mỗi xã, phường, thị trấn trong cả nước xây
dựng được một "Nhóm nòng cốt", "Câu lạc bộ pháp luật" ở khu dân cư hoạt động
có hiệu quả.
c) Thông qua việc thực hiện Đề án, rút ra những kinh nghiệm trong xây dựng nội
dung, hình thức, cơ chế phối hợp tuyên truyền vận động chấp hành pháp luật,
huy động sức mạnh của toàn dân tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, hiệu quả thiết thực
đối với việc tuân thủ pháp luật của cộng đồng dân cư.
III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ ÁN
1. Phát huy vai trò gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên, và
của các cá nhân tiêu biểu ở cộng đồng dân cư; khả năng tập hợp, vận động nhân
dân chấp hành pháp luật của Ban công tác Mặt trận, Chi hội, Chi đoàn của các
tổ chức Đoàn thể nhân dân.
2. Xây dựng và nhân rộng các hình thức thu hút đông đảo nhân dân tham gia đấu
tranh phòng, chống vi phạm pháp luật ngay tại khu dân cư như: xây dựng "Nhóm
nòng cốt", "Câu lạc bộ pháp luật" để phổ biến, tuyên truyền vận động chấp hành
pháp luật tại khu dân cư. Tổ chức tập huấn bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền, vận
động chấp hành pháp luật, cung cấp các tài liệu, văn bản pháp luật thiết yếu
cho các thành viên "Nhóm nòng cốt", "Câu lạc bộ pháp luật".
3. Lựa chọn một số địa bàn khu dân cư có nhiều bức xúc về chấp hành pháp luật
đại diện cho các khu vực thành thị, nông thôn, miền núi; trong đó chú trọng
vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ để xây dựng mô hình điểm sáng trong chấp
hành pháp luật.
4. Lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động chấp hành pháp luật
với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư",
trọng tâm là phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội; giám sát thực hiện Quy chế
dân chủ, công tác hoà giải ở cơ sở và việc thực hiện quy ước, hương ước ở cộng
đồng khu dân cư.
5. Thực hiện khen thưởng đối với tập thể, gia đình, cá nhân và khu dân cư thực
hiện tốt việc chấp hành pháp luật; khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân tích
cực trong công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật ở cở sở, cộng
đồng dân cư.
IV. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Phát động phong trào chấp hành pháp luật trong từng cộng đồng dân cư
a) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp xây dựng chương trình kế hoạch chung về
phong trào tuyên truyền và vận động chấp hành pháp luật ở cộng đồng dân cư,
theo đó các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ chức phát động phong trào chấp
hành pháp luật theo từng đối tượng đoàn viên, hội viên và các tầng lớp dân cư.
b) Xây dựng các tiêu chí và hình thức công nhận cộng đồng dân cư chấp hành tốt
pháp luật gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
khu dân cư" và được lồng ghép với các phong trào của từng tổ chức thành viên
thực hiện.
c) Phát động và tổ chức cho các hộ gia đình, cá nhân ký cam kết không vi phạm
phạm pháp luật, chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt trong chấp hành pháp
luật và đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật.
d) Vận động nhân dân chấp hành pháp luật gắn với thực hiện hương ước, quy ước
nhằm phát huy vai trò của hương ước, quy ước ở cộng đồng khu dân cư.
đ) Lồng ghép các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật vào nội dung, chương
trình hoạt động tại các trung tâm văn hoá, nhà văn hoá, tụ điểm sinh hoạt văn
hoá, câu lạc bộ văn hoá, đội thông tin lưu động, câu lạc bộ pháp luật.
e) Tăng cường các hình thức tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt khu dân cư,
câu lạc bộ; thông qua "Nhóm nòng cốt", từng bước xây dựng tủ sách pháp luật ở
cộng đồng dân cư, biên tập và phát hành tờ rơi tờ gấp đến từng khu dân cư, xây
dựng bảng tin ở khu dân cư; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật dưới các
hình thức giao lưu văn nghệ.
2. Xây dựng lực lượng nòng cốt vận động nhân dân chấp hành pháp luật ở khu
dân cư
a) Xây dựng và tổ chức hoạt động "Nhóm nòng cốt" tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật tại cộng đồng dân cư, bao gồm đại diện: Ban công tác Mặt trận,
Chi hội Nông dân, Chi đoàn Thanh niên, Chi hội Phụ nữ, Chi hội Cựu chiến binh
và Người có trình độ - uy tín tại khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, khu phố, tổ
dân phố...). Mỗi "Nhóm nòng cốt" ở khu dân cư có từ 5 - 10 người tùy theo quy
mô dân số và địa bàn.
b) Định kỳ tổ chức tập huấn bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng tập hợp
tuyên tuyền vận động nhân dân cho Ủy ban Mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn
thể nhân dân.
- Trung ương tổ chức tập huấn cho các tỉnh, thành phố trong cả nước và những
cơ sở xã, phường, thị trấn và khu dân cư được chọn triển khai điểm theo vùng,
miền.
- Các tỉnh, thành phố tổ chức tập huấn cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân ở cơ sở xã, phường, thị trấn và khu dân cư được chọn triển khai điểm
của địa phương.
c) Cung cấp một số tài liệu pháp luật thiết yếu có liên quan trực tiếp đến
việc tổ chức thực hiện Đề án ở cộng đồng dân cư.
d) Đẩy mạnh các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật: trợ giúp pháp lý,
truyền thanh nội bộ, tuyên truyền miệng, tờ gấp, sinh hoạt tổ nhân dân. v.v...
3. Lựa chọn địa bàn xây dựng mô hình điểm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong
việc chấp hành pháp luật ở một số lĩnh vực trọng điểm
a) Tại một số địa bàn tập trung xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật
trong một số lĩnh vực thiết yếu sau:
- Địa bàn thành thị xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh
vực: môi trường, tệ nạn xã hội...
- Địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc xây dựng mô hình
điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh vực: bảo vệ phát triển rừng, hôn nhân
gia đình...
- Địa bàn nông thôn ven đô thị xây dựng mô hình điểm về chấp hành pháp luật
trong lĩnh vực đất đai, giao thông...
- Các địa bàn trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ xây dựng mô hình
điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh vực: tôn giáo, dân tộc, đất đai.
- Tại những nơi làm điểm thực hiện đồng bộ các giải pháp và tập trung vào một
số việc sau:
+ Xây dựng và tổ chức hoạt động của "Nhóm nòng cốt", củng cố "Câu lạc bộ pháp
luật"; từng bước xây dựng tủ sách pháp luật tại khu dân cư nhằm thu hút đông
đảo nhân dân tham gia hoạt động, tìm hiểu nắm vững pháp luật để đấu tranh,
phòng chống vi phạm pháp luật ngay tại cộng đồng dân cư;
+ Đẩy mạnh và đa dạng hoá các hoạt động phổ biến giáo
dục pháp luật như: học tập, tuyên truyền miệng, phát hành tờ gấp pháp luật, tổ
chức thi tìm hiểu nội dung pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý;
+ Định kỳ sơ kết, tổng kết mô hình điểm, tuyên truyền trên phương tiện thông
tin đại chúng để nhân ra diện rộng.
b) Trung ương triển khai điểm Đề án tại một số địa bàn.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các cơ quan tham gia Đề
án hỗ trợ một số địa phương đại diện vùng, miền (miền núi, nông thôn, đô thị,
đồng bào dân tộc; vùng đồng bào có Đạo; Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ) tổ
chức triển khai Đề án. Tại nơi được chọn làm điểm sẽ được hỗ trợ tập huấn, tài
liệu và kinh phí thực hiện.
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các cơ quan có liên quan
cùng cấp ở địa phương phối hợp xây dựng mô hình điểm thực hiện Đề án phù hợp
tình hình thực tế của địa phương.
4. Động viên khen thưởng
- Xây dựng quy chế khen thưởng đối với cá nhân, gia đình và tập thể chấp hành
pháp luật tốt tại địa bàn khu dân cư; tổ chức, cá nhân và nhóm nòng cốt làm
tốt công tác vận động nhân dân chấp hành pháp luật ở cơ sở, cộng đồng.
- Đa dạng các hình thức biểu dương, khen thưởng cho những cá nhân, hộ gia
đình, tổ chức và tập thể trong việc chấp hành và vận động chấp hành pháp luật
ở cơ sở: tặng giấy khen hàng năm, bằng khen 5 năm, kỷ vật...
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về
khen thưởng việc chấp hành pháp luật ở cơ sở.
5. Giải pháp về nhân lực
a) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp chặt chẽ
với các Bộ, ngành có liên quan, chính quyền địa phương tổ chức thực hiện các
nội dung của Đề án.
b) Kết hợp thực hiện Đề án với việc thực hiện các chương trình quốc gia về:
phòng, chống tội phạm, ma túy; xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường; dân số;
y tế, giáo dục...
|