Ðặt làm trang chủ

    Google   

                 | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ |   

             | Hộp Thư |
        

 

 

 

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư số 7, phường Quán Thánh

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự Ngày hội Ðại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Lỗ Xá, xã Nhân Hoà, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu dân cư Đồng Sơn, xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm về dự Ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc tại thôn Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

  GÓP Ý KIẾN DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XI


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thành công tốt đẹp

Danh sách Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra TW, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra TW khoá XI

Danh sách Ủy viên Chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI

Danh sách Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI

Họp báo về Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thông tri số 12/TTr-MTTW-BTT, ngày 23 tháng 9 năm 2010 hướng dẫn góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng

Hội nghị Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ tư (khoá VII)

  Về vị trí và vai trò của MTTQ Việt Nam

  Tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển 

Cần bổ sung những hạn chế và khuyết điểm

Lược ghi ý kiến phát biểu của GS.TSKH Phạm thị Trân Châu, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào các dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI     

  Chủ nghĩa xã hội mục tiêu thiêng liêng của cả dân tộc     

Góp ý kiến vào các văn kiện  Đại hội XI của Đảng Tăng cường kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng

Về chủ đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị

Góp ý dự thảo các Văn kiện   

MTTQ Thành phố Hà Nội góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng

Nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo Bến Tre góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI

Góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng: Vấn đề dân tộc cần được đề cập sâu sắc hơn

Xây dựng cơ chế nhân dân làm chủ

Ý kiến góp ý của GS TS Đỗ Quang Hưng, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Tôn giáo, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Cần tiếp tục đổi mới chính sách tôn giáo

Cần có chiến lược về giai cấp công nhân

Cộng đồng doanh nhân là nhân tố quan trọng phát triển nền kinh tế đất nước

Dự thảo Cương lĩnh cần xác định rõ hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

Ðể phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng

Góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng: Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Nhiều đảng viên thuộc Đảng bộ tỉnh Phú Yên đóng góp ý kiến vào Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Để thực sự dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam góp ý các Dự thảo Văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng

Cần cụ thể hóa cơ chế “Nhân dân làm chủ”

Bàn về dân chủ trong Đảng

Ủy ban MTTT tỉnh Hưng Yên: Tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI

Ý kiến... Nguyễn Phan Luỹ - Nguyên Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt Nam, nguyên Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng

Ý kiến góp ý của PGS.TS Phan Hữu Tiến, Ủy viên Hội đồng tư vấn Khoa học-Giáo dục,Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng

Ý kiến góp ý của Bà Nguyễn Thị Minh Phương-Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam vào các Dự thảo Văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng 

Ðổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền ở cơ sở

Ý kiến góp ý của TS.Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL: Cần có chính sách kịp thời cho người trồng lúa

Ý kiến góp ý của Ông Bùi Sỹ Tiếu, PCT T.Ư Hội Làm vườn VN: Phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề an sinh xã hội

Ý kiến …Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Bảo đảm sự bình đẳng trong kinh doanh 

Ý kiến của Ông Vũ Thành Vĩnh, Chủ tịch MTTQ quận Hoàn Kiếm: Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc

Góp ý kiến vào các văn kiện  Đại hội XI của Đảng Tăng cường kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng


   

       UỶ BAN TRUNG ƯƠNG                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM                        Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

         BAN THƯỜNG TRỰC                                                             

        Số: 12/TTr-MTTW-BTT                                         Hà Nội, ngày 23  tháng 09  năm 2010

 

THÔNG TRI

Hướng dẫn góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng

 

Ngày 10-9-2010, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 112-BTGTW về việc công bố và lấy ý kiến của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam hướng dẫn công tác Mặt trận tham gia góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng như sau:

 1. Tầm quan trọng và ý nghĩa

Nội dung các dự thảo văn kiện và việc lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng có tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt nhằm xác định hướng đi lâu dài, đánh giá tổng quát quá trình cách mạng Việt Nam; đánh giá những thành tựu và hạn chế thực hiện Chiến lược kinh tế-xã hội 2001-2010 và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội năm 2011-2020; đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, phương hướng nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011-2015; đồng thời phát huy trách nhiệm, dân chủ trong mọi tầng lớp nhân dân góp phần hiến kế xây dựng Đảng, xây dựng đất nước theo tinh thần của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

2. Yêu cầu và cách thức tiến hành

- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trân Tổ quốc Việt Nam đề nghị Uỷ ban MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên tổ chức góp ý vào dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để quán triệt những định hướng lớn của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc tổ chức góp ý cần bảo đảm dân chủ, trách nhiệm, chân thành, cởi mở và tôn trọng những ý kiến khác nhau. Thông qua việc tổ chức góp ý để tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân đối với Đảng.

- Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tổ chức Hội nghị Uỷ ban MTTQ tỉnh, thành phố mở rộng để góp ý, trong đó cần mời các thành phần mở rộng là các nhóm đại biểu đại diện các tổ chức thành viên, các ngành, các giới, các thành phần tham gia (không chỉ mời một người đại diện). Đối với các địa phương có nhiều đối tượng, thành phần như dân tộc thiểu số, các tôn giáo, doanh nhân, vùng đông người Hoa... có thể tổ chức riêng hội nghị góp ý trong từng đối tượng, thành phần một cách phù hợp. Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố mời đồng chí Bí thư tỉnh, thành uỷ hoặc một đồng chí trong Thường trực, Ban Thường vụ tỉnh, thành uỷ đến dự và phát biểu, hướng dẫn việc góp ý vào dự thảo văn kiện.

- Các tổ chức thành viên: Thông qua các hình thức khác nhau để tổ chức việc lấy ý kiến rộng rãi của đoàn viên, hội viên của tổ chức mình tham gia góp ý vào dự thảo các văn kiện.

3. Thời gian tiến hành

Việc tổ chức góp ý được tiến hành sau khi công bố dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng trên các phương tiện thông tin đại chúng (ngày 15-9) đến hết ngày 31-10-2010.

4. Tổng hợp ý kiến

- Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng hợp bằng văn bản ý kiến của Mặt trận Tổ quốc các cấp, của các tầng lớp nhân dân tham gia vào dự thảo các văn kiện gửi về Ban Dân vận tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam - 46 Tràng Thi - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội hoặc gửi ý kiến đóng góp về địa chỉ Email: takinhbac@yahoo.com.vn.

- Các tổ chức thành viên tổng hợp bằng văn bản ý kiến của các đoàn viên, hội viên tham gia vào dự thảo các văn kiện gửi về Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam - 46 Tràng Thi - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội hoặc gửi ý kiến đóng góp về địa chỉ Email: takinhbac@yahoo.com.vn.

                                                                                      TM. BAN THƯỜNG TRỰC

                                                                             PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ

      Nơi nhận:

- Ban Bí thư (báo cáo);                                                                (Đã Ký)

- Uỷ ban MTTQVN các tỉnh, thành phố;                                    Vũ Trọng Kim

- Các tổ chức thành viên;

- Chủ tịch, Các Phó Chủ tịch,

  VP, Ban CTPN và các ban, đơn vị MTTW;

- Các VP: TW Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ;

- Ban Dân vận TW;

- Ban Tuyên giáo TW;

- Vụ Tổng hợp-Văn phòng TW Đảng;

- Vụ Đoàn thể-Ban Dân vận TW;

- Vụ Tuyên truyền-Ban Tuyên giáo TW;

- Vụ Tổng hợp, Văn phòng Chính phủ;

- Lưu Văn thư, Tổng hợp MTTW.

                               

Về đầu trang


Dự thảo Cương lĩnh cần xác định rõ hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân  

Đó là ý kiến của đồng chí Phạm Xuân Thăng, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Dương khoá XV, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương đi dự Đại hội XI của Đảng, góp ý vào Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).  

...Trong Dự thảo Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, tại phần IV “Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng”, những nội dung về dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tiếp tục được bổ sung những quan điểm mới, thể hiện sự phát triển về tư duy, nhận thức của Đảng ta qua mỗi giai đoạn, mỗi kỳ đại hội phù hợp với sự phát triển của thời đại, của thực tiễn cuộc sống; Trong đó, đặc biệt đã bổ sung làm rõ hơn những nội dung thể hiện mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vai trò to lớn của nhân dân, như “Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp”, “Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân”. Dự thảo Cương lĩnh cũng chỉ rõ “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh…” Nội dung này đã kế thừa và tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính trị. 

Tuy nhiên, qua nghiên cứu Dự thảo Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, tôi đề nghị cần xác định rõ nét hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong nhiệm vụ phát huy dân chủ xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là, tại mục 9, phần IV, tôi đề nghị nên bỏ cụm từ do nhân dân bầu ra sau cụm từ Nhà nước vì điều này đã được nêu rõ nét trong mục 10, và bổ sung thêm cụm từ Mặt trận Tổ quốc sau từ Nhà nước, như vậy sau khi sửa sẽ là: “…Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân  và các hình thức dân chủ trực tiếp...” 

Đề xuất trên xuất phát từ những lý do sau đây. Trước hết, trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, quyền làm chủ của nhân dân được thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, đối với hình thức dân chủ đại diện, đó chính là vai trò của Nhà nước của dân, do dân, vì dân thông qua việc bầu cử các đại biểu dân cử để thành lập bộ máy nhà nước và thực thi quyền lực Nhà nước do nhân dân uỷ nhiệm, đồng thời còn thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân - người đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã ghi rõ: “Nhân dân vừa thực hiện quyền làm chủ trực tiếp vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại diện là các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân”. 

Thứ hai là: Ở nước ta, thực chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là sự tham gia một cách thật sự bình đẳng, ngày càng rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào công việc quản lý Nhà nước và xã hội. Dân chủ chính là hình thái tồn tại của Nhà nước. Muốn xây dựng Nhà nước, muốn phát huy dân chủ của nhân dân thì phải đảm bảo cho Nhà nước, cho nền dân chủ có một nền móng thật vững chắc. Nền móng đó không có gì khác hơn là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt do Đảng lãnh đạo. Nhân dân đứng ở vị trí trung tâm, vừa là chủ thể và cũng chính là người được hưởng quyền dân chủ thực sự theo đúng tư tưởng của Bác: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân….nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. 

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy tốt hơn nữa vai trò, vị thế làm chủ của nhân dân, tiềm năng và sức mạnh to lớn trong nhân dân. Lý luận và thực tiễn đã cho thấy, cái gốc của vấn đề chính là việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trước hết dân chủ phải được đặt lên hàng đầu, dân chủ vừa phải là mục tiêu, vừa là động lực cho mọi hoạt động của Nhà nước. Muốn có đoàn kết thật sự thì phải có dân chủ thực sự. Dân chủ càng cao thì đoàn kết sẽ càng được đảm bảo vững chắc, có dân chủ thực sự thì mới tạo ra sự đồng thuận trong Đảng và trong toàn xã hội, có đồng thuận thống nhất cao thì mới có thể xây dựng được khối đoàn kết vững chắc toàn dân tộc, khi đó mới tạo nên được sức mạnh “dời non, lấp bể” của nhân dân để cùng kiến tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn, xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong các phương hướng cơ bản được nêu trong Dự thảo Cương lĩnh năm 2011 cũng đã nêu rõ: “Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất." 

Thứ ba là: Thực tiễn trong cả nước và ở tỉnh Hải Dương những năm qua đã minh chứng một cách sinh động vai trò ngày càng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội, tham gia xây dựng chính quyền. Thông qua các hoạt động đã trở thành nề nếp và ngày càng được nâng cao về chất lượng như: vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng, phổ biến và thực thi pháp luật; tổ chức hiệp thương và vận động nhân dân hưởng ứng tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp; tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và các tầng lớp nhân dân phản ánh tại các kỳ họp Quốc hội và HĐND; Tổ chức giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, nhất là việc vận động nhân dân thực hiện và giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn; Phát huy vai trò của thanh tra nhân dân gắn với nhiệm vụ giám sát đầu tư của cộng đồng; Tham gia giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; làm tốt công tác hoà giải ở cơ sở. Chính thông qua những hoạt động đó, Mặt trận Tổ quốc ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu, quyền lợi, hợp pháp và chính đáng của nhân dân, phát huy tốt vai trò  đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, góp phần tích cực xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền các cấp ngày càng hoàn thiện và vững mạnh. 

Thứ tư là: Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi bên cạnh việc phải đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, tạo ra được một cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân thì đồng thời phải có sự kiểm soát chặt chẽ bộ máy quyền lực, tránh sự lạm dụng, tha hoá quyền lực. Đó chính là sự kiểm soát của nhân dân, thông qua việc thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị, đặc biệt là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đòi hỏi phải có sự tham gia rộng rãi của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào quá trình hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận ngày càng có vị trí và tầm quan trọng cao hơn. 

Hoạt động giám sát và phản biện xã hội là một nhiệm vụ đặc thù của MTTQ, mang tính nhân dân sâu sắc. Phản biện xã hội là một biểu hiện sinh động và tập trung cho mệnh đề “Nhân dân làm chủ”. Mặt trận thể hiện chức năng phản biện xã hội tức là lắng nghe một cách chân thành và nghiêm túc ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để trung thực chuyển đến Đảng và Nhà nước. Mục đích chính trị của phản biện xã hội là góp phần tạo ra và đảm bảo sự đồng thuận xã hội, sự đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một hình thức, một biện pháp cụ thể thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và ý thức trách nhiệm của dân đối với công việc chung của đất nước, của Nhà nước. Nói một cách cụ thể, phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân được hiểu là sự nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến khẳng định những nội dung đúng đắn của dự thảo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án, đồng thời phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa phù hợp với đời sống xã hội và lợi ích chính đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, sửa đổi bổ sung. Tất cả những hoạt động đó đều hướng tới mục tiêu góp phần làm tăng sự đồng thuận xã hội.  

Trong Dự thảo Cương lĩnh bổ sung và phát triển năm 2011 có nêu “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội". Đây chính là sự khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta tăng cường quan tâm, tạo điều kiện để phát huy tốt hơn nữa vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và tham gia xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội... 

 (Theo Báo ĐTĐCSVN) 

Về đầu trang


Ðể phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới 

Trong Dự thảo Cương lĩnh trình Ðại hội XI của Ðảng đã tổng kết quá trình cách mạng Việt Nam và nêu lên những bài học chủ yếu, trong đó có bài học không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Ðảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. 

Từ bài học có giá trị lý luận và thực tiễn đó, trong phần viết về quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đã nêu rõ tám phương hướng cơ bản, trong đó nội dung thứ sáu là "Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất". Viết về hệ thống chính trị, Dự thảo Cương lĩnh nhấn mạnh, "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". 

Cương lĩnh là văn kiện cơ bản của Ðảng nên chỉ có thể nêu lên những quan điểm và phương hướng lớn, không thể đề cập những chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể. Do đó, các kỳ Ðại hội đều cần bổ sung những giải pháp để thực hiện hiệu quả. Với chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong Dự thảo Cương lĩnh, trước hết cần nhận thức rõ đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là sự hô hào, kêu gọi chung chung mà là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Ðảng có ý nghĩa khoa học, lý luận và chính trị - thực tiễn sâu sắc. Muốn tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng hùng mạnh, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Ðảng lãnh đạo, cầm quyền phải chú trọng xây dựng, hoàn thiện và bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực của Cương lĩnh, đường lối chính trị, đề ra mục tiêu chiến lược lâu dài phản ánh quy luật phát triển của cách mạng, đồng thời đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng giai đoạn. Ðảng chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển các tổ chức quần chúng, lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp và phát huy vai trò tích cực, chủ động, tự giác của các tầng lớp nhân dân. Ðảng coi trọng và không ngừng đổi mới công tác vận động quần chúng, củng cố sự gắn bó mật thiết với nhân dân, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân. 

Trong công cuộc đổi mới, trong đó có 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Ðảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng hoàn thiện các quan điểm và  chủ trương, chính sách để thực hiện ngày càng có hiệu quả chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Ðại hội IX của Ðảng đã lấy chủ đề là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðại hội X của Ðảng (4-2006) đã phát triển hoàn chỉnh quan điểm và hệ thống các chủ trương, chính sách nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nhấn mạnh, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. "Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Ðề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và đồng thuận xã hội".  

Trong vòng 5 năm từ 2003 đến 2008, Trung ương Ðảng có nhiều Nghị quyết lãnh đạo tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (1-2003) ra Nghị quyết chuyên đề về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nêu bật 4 quan điểm, trong đó nhấn mạnh bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng và hợp pháp của các giai cấp và tầng lớp nhân dân. Hội nghị Trung ương cũng ra nghị quyết về công tác dân tộc, và nghị quyết về công tác tôn giáo. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X (1-2008) ra Nghị quyết về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X (7-2008) đã ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác thanh niên: Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức và Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn... Ðó là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ nhằm tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã và đang được hiện thực hóa. 

Thực tiễn của công cuộc đổi mới hiện nay đang đặt ra những vấn đề bức thiết mà Cương lĩnh trình Ðại hội XI của Ðảng phải tập trung làm rõ hơn cả về lý luận và thực tiễn nhằm thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn hơn. Theo ý kiến của tôi, cần tổng kết thực tiễn sâu sắc hơn nữa về chiến lược đại đoàn kết để củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển) và các văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng. Tôi xin đề xuất một số vấn đề, nội dung dưới đây. 

Một là, hoàn thiện nội dung nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và thực hiện đồng bộ, triệt để. Dân chủ càng mở rộng và thiết thực càng tạo sự đồng thuận xã hội và do đó sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối đổi mới, nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa phát triển và đòi hỏi phải nhận thức và thực hiện đúng đắn cả từ phía Nhà nước và cả từ phía người dân, để khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong thực hiện dân chủ, hoặc dân chủ hình thức, hoặc dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, xã hội. Thực hiện dân chủ không chỉ là kêu gọi, động viên mà nội dung dân chủ, quyền làm chủ của dân, phải được thể hiện trong chính sách, pháp luật và được bảo đảm bằng chính sách, pháp luật, quy chế. Nội dung dân chủ trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cần được cụ thể hóa, lượng hóa để người dân hiểu và thực hiện. Cần nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và tập trung dân chủ với kỷ luật, kỷ cương, pháp luật, dân chủ với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, dân chủ phải có lãnh đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ. Thực tế đã cho thấy, ở địa phương nào, lĩnh vực hoạt động nào, đơn vị nào thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa thì tạo được sự đồng thuận, ổn định và phát triển, củng cố được sự đoàn kết, thống nhất. 

Hai là, đại đoàn kết toàn dân tộc gắn liền với xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị của đất nước. Năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Ðảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước được nâng cao chẳng những quyết định sự ổn định, phát triển của xã hội, đất nước mà còn củng cố vững chắc niềm tin của các giai cấp, dân tộc, các tầng lớp nhân dân làm cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng phát triển. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để mang lại lợi ích cho nhân dân, bảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mọi giai cấp, dân tộc, lực lượng xã hội, của các thành phần kinh tế, của mọi người dân, đồng thời bảo đảm, bảo vệ, phát triển lợi ích chung của dân tộc, đất nước. Ðó là cái gốc của sự đoàn kết cộng đồng dân tộc và đồng thuận xã hội. Chính phủ đã quan tâm đặc biệt đến người nghèo, nông dân nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nhằm giúp họ xóa đói, giảm nghèo. Theo đó, Chương trình 135 (1998), Chương trình 134 (2004) đã thực hiện. Vì vậy, qua 10 năm thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hợp quốc đề ra, Việt Nam đã thực hiện có hiệu quả việc xóa bỏ tình trạng đói nghèo cùng cực, phổ cập tiểu học, thực hiện tốt bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ. Nhưng hiện nay, Nhà nước cũng cần quan tâm nhiều hơn đến công nhân, khi đời sống, thu nhập của một bộ phận công nhân còn thấp, làm sao để trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài, công nhân không bị giới chủ bóc lột quá đáng. Ðối với nông dân, cần thực hiện đồng bộ chính sách tam nông của Ðảng gắn liền với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Ðối với trí thức, sự quan tâm đến điều kiện và đời sống vật chất là cần thiết, nhưng nhiều khi, sự động viên kịp thời, đánh giá và phát huy được năng lực thật sự của họ lại có tác dụng gấp nhiều lần. Các tổ chức Mặt trận, đoàn thể nhân dân cần đổi mới nhiều về nội dung, phương thức hoạt động. Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị có ảnh hưởng to lớn đến củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Ba là, chú trọng giáo dục, đào tạo, hoàn thiện con người Việt Nam trong thời đại mới, bởi con người là thành tố, là cái gốc vững bền của dân tộc và đất nước. Mỗi người, mỗi công dân cần phải nêu cao niềm tự hào, tự tôn dân tộc, bồi đắp tinh thần yêu nước, sống và làm việc có trách nhiệm đối với đất nước, vì sự hùng cường, vững bền của Tổ quốc. Không ngừng nâng cao học vấn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, thể chất và đạo đức. Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ, hiện thân của khối đoàn kết toàn dân, Người luôn chăm lo chiến lược con người, nâng cao đạo đức, con người sống với nhau phải có tình nghĩa, mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người, không tham lam, lười biếng, ỷ lại. 

(Theo Báo Nhân dân) 

Về đầu trang


Hội nghị Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ tư (khoá VII)

Ngày 5/10 tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã tổ chức Hội nghị đóng góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Dự hội nghị có đồng chí Tô Huy Rứa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí Thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Huỳnh Đảm, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam; đồng chí Vũ Trọng Kim, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam; các đồng chí Phó Chủ tịch và các Ủy viên Đoàn Chủ tịch; đại diện lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận; các vị trong Ban Chủ nhiệm các Hội đồng tư vấn của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chức sắc tôn giáo, đại biểu dân tộc thiểu số là thành viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Đến dự còn có đại diện lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, các Ban của Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Thường trực Tổ biên tập Cương lĩnh và Báo cáo Chính trị tại Đại hội XI của Đảng và phóng viên các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Trung ương và thành phố Hà Nội.

Tại hội nghị, Đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương thay mặt Bộ Chính trị giới thiệu những nội dung cơ bản của Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Đồng chí Tô Huy Rứa nhấn mạnh, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối  với sự phát triển của đất nước. Việc công bố dự thảo các văn kiện Đại hội để lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, góp phần làm cho văn kiện trở thành sản phẩm kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đồng chí Tô Huy Rứa khẳng định Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn trân trọng các ý kiến đóng góp của MTTQ và mong các đại biểu phát huy tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm đóng góp nhiều ý kiến vào những vấn đề cụ thể trong Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Dự thảo báo cáo chính trị; Dự thảo chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 10 năm  (2011 – 2020).

Các đại biểu đánh giá cao và hoan nghênh Trung ương chuẩn bị các dự thảo văn kiện công phu, chu đáo, nghiêm túc, thể hiện sâu sắc lý luận và thực tiễn và công bố để lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Hầu hết các ý kiến đều thống nhất những nội dung cơ bản thể hiện trong các dự thảo văn kiện, hết sức phấn khởi, hoan nghênh những nội dung mới được bổ sung trong các dự thảo văn kiện lần này. Các đại biểu cũng thẳng thắn nêu ra những nội dung cần được làm rõ, cần được quan tâm xem xét một cách thấu đáo và tiếp thu nghiêm túc để bổ sung hoàn thiện các dự thảo văn kiện của Đại hội XI; đồng thời, đại biểu cũng nêu lên những bất cập, những bức xúc đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quản lý có hiệu quả trong thời gian sắp tới.

Các đại biểu đều nhất trí cao với đánh giá những thắng lợi của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011 – 2020, các đại biểu cơ bản nhất trí với đánh giá về thành tựu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2020 cũng như những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện chiến lược. Các đại biểu cho rằng, mục tiêu và định hướng cơ bản của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hướng đi lên vững chắc; đồng thời đề nghị cần cụ thể hơn nữa trong các mục tiêu cần hướng tới, đặc biệt là vấn đề giáo dục cần được cụ thể hóa hơn bằng các giải pháp cụ thể mang tính khả thi, nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các đại biểu đóng góp nhiều ý kiến vào công tác dân tộc, tôn giáo, khoa học công nghệ, công tác tổ chức cán bộ, cải cách thể chế và thủ tục hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, tham nhũng, lãnh phí, công tác xây dựng Đảng và vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên…

Góp ý vào dự thảo văn kiện Đại hội XI của Đảng, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Lê Truyền, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhấn mạnh, trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nêu vấn đề tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển đất nước, đây được xem như là các yếu tố nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng con người. Việc quan tâm tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển đã được nêu ra trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng và trong Dự thảo văn kiện Đại hội XI cũng đã được đề cập, tuy vậy chưa nhấn mạnh và làm rõ những nội dung và tính chất mới của các động lực, chưa thể hiện rõ mối liên hệ và tác động qua lại giữa các động lực, chưa xác định trách nhiệm cụ thể của từng bộ phận trong hệ thống chính trị và chưa phân công tổ chức nào chủ trì phối hợp việc phát huy các động lực của sự phát triển trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Ông Lê Truyền cũng đề nghị bổ sung những hạn chế và khuyết điểm vào Dự thảo Cương lĩnh 2011, bởi theo ông, từ Đại hội VI đến nay đã tròn 25 năm, nếu tính từ khi có Cương lĩnh 1991 đến nay là 20 năm. Đây là khoảng thời gian Đảng ta lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước đấy biến động. Đảng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, phải tìm tòi lý giải và giải quyết nhiều vấn đề lý luận và những diễn biến thực tiễn rất đa dạng, phong phú. “Thành công và thành tựu là to lớn, sai lầm và khuyết điểm mới là không thể tránh khỏi. Nếu viết về những sai lầm, khuyết điểm như Dự thảo Cương lĩnh 2011 là chưa thỏa đáng…”, ông Truyền nhấn mạnh.

 Theo Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Lân Dũng, Báo cáo chính trị đã thẳng thắn vạch ra những tồn tại trong công tác xây dựng Đảng, đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm, thiếu cơ chế, chính sách để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, phát hiện sử dụng người tài… GS Nguyễn Lân Dũng cho rằng: Như vậy là Đảng đã thực sự làm theo những lời căn dặn của Bác Hồ. Vấn đề đặt ra cho Đại hội Đảng XI là cần có những biện pháp gì để khắc phục nhanh chóng và có hiệu quả những tồn tại…

Góp ý vào nội dung Nhà nước pháp quyền XHCN, ông Đỗ Duy Thường, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhấn mạnh: Đại hội IX, X của Đảng đã đề ra chủ trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Qua 10 năm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, luật pháp đang dần được hoàn thiện, kỷ cương xã hội được giữ vững, hệ thống tổ chức Nhà nước không ngừng được hoàn thiện. Cơ chế kiểm tra, giám sát trong hệ thống nhà nước, trong nhân dân tiếp tục được xây dựng và thực hiện nhằm ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền, cửa quyền. Cơ chế dân chủ cũng đang được xây dựng, từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật. Vì vậy cần bổ sung vào nội dung này một nguyên tắc có tính pháp quyền là “Dân được làm những gì mà pháp luật không cấm, cán bộ, đảng viên, công chức chỉ được làm những việc pháp luật quy định”. Đây là một nguyên tắc rất cơ bản để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là nguyên tắc thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội ngày càng phát triển.

Phát biểu bế mạc Hội nghị, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm cảm ơn những ý kiến đóng góp đầy tâm huyết, trách nhiệm, trí tuệ, thể hiện tình cảm, niềm tin của các đại biểu đối với Đảng, với dân tộc và sẽ tổng hợp đầy đủ các ý kiến của các đại biểu báo cáo Bộ Chính trị và gửi Tiểu ban Văn kiện Đại hội XI để đề nghị nghiên cứu, tiếp thu hoàn thiện dự thảo các văn kiện Đại hội. Chủ Tịch nhấn mạnh, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam trân trọng đề nghị Bộ Chính trị chỉ đạo Tiểu ban Văn kiện Đại hội nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến đóng góp của Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, cùng với các ý kiến đóng góp của đông đảo các tầng lớp nhân dân để làm cho các văn kiện Đại hội XI của Đảng thật sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Tùng Lâm

Về đầu trang


Những ý kiến của đồng chí Lê Truyền, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ tư, khoá VII góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

* Về vị trí và vai trò của MTTQ Việt Nam

Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Đảng ta đã kế thừa và có sự phát triển lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn về tư tưởng chính sách đại đoàn kết và về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mỗi kỳ  Đại hội lại có thêm điểm mới được bổ sung cho phù hợp tình hình nhiệm vụ mới.

Với tư duy đổi mới về vai trò của nhân dân và về vấn đề dân tộc trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và là động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, là nhân tố có ý  nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng. Theo đó về mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng được bổ sung và làm rõ vị trí, vai trò đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Chính sách Mặt trận là chính sách rất quan trọng, công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng".

Dự thảo cương lĩnh 2011 nói về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đã được thể hiện ngắn gọn, súc tích và đầy đủ. So với Cương lĩnh 1991, Dự thảo cương lĩnh lần này có những điểm mới đã được bổ sung rất rõ ràng, mà trước đó Cương lĩnh 1991 chưa có, đó là:

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là "tổ chức" liên minh chính trị, liên hợp tự nguyện...

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị...

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam "đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân"...

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam "thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội".

- "Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách tạo điều kiện" để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả.

Tuy vậy, trong Dự thảo Cương lĩnh 2011 khi nói về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có cụm từ "thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân" là chưa phù hợp. Mặt trận là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Khi đã nói Mặt trận với các đoàn thể nhân dân đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chăm lo cho lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh... nghĩa là Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phải luôn gắn liền với nhân dân, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân trước mọi quan hệ xã hội (bao gồm các quan hệ lợi ích trong nội bộ nhân dân, quan hệ lợi ích của nhân dân đối với các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và quan trọng hơn hết là quan hệ lợi ích đối với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và việc thực thi chủ trương, chính sách của các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền từ Trung ương tới cơ sở. Không phải ngẫu nhiên khi nói về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân qua các kỳ Đại hội Đảng đã có sự điều chỉnh. Nghị quyết Đại hội VI đã dùng cụm từ "giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật tiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân" (*) và Cương lĩnh 1991 cũng ghi "thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân"(**). Sau đó, trải qua thực tiễn tổ chức và hoạt động, qua đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, nên về mục này, các Đại hội VIII và Đại hội IX đã có sự điều chỉnh, đã diễn đạt chính xác hơn về vai trò cầu nối và mối quan hệ của Mặt trận với nhân dân, cụ thể Nghị quyết Đại hội VIII đã ghi về vai trò của MTTQVN và các đoàn thể nhân dân là  "tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước" (***) và Nghị quyết Đại hội IX cũng một lần nữa ghi rõ "thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước"(****). Vậy nên, trong dự thảo Cương lĩnh 2011 cần sửa lại cụm từ "thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân" thành "thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước".  Điều chỉnh điểm này tuy nhỏ nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với vai trò của MTTQVN và các đoàn thể nhân dân.

Tinh thần của các nội dung được bổ sung, phát triển trên đây trong Dự thảo Cương lĩnh 2011 là quá trình tiếp thu có chọn lọc từ chỉ đạo thực tiễn và đã được nêu trong Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi  mới (Từ Đại hội VI đến Đại hội X) và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động có hiệu quả và sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn để sớm nghiên cứu sửa đồi, bổ sung Hiến pháp và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

(*): Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2005, tr. 298.

(**): Sách đã dẫn, tr. 328

(***) Sách đã dẫn, tr. 509

(****) Sách đã dẫn, tr 67.

Về đầu trang


Tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển 

Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nêu vấn đề tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển đất nước, đây được xem như là các yếu tố nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng con người. Hệ thống các động lực của sự phát triển đã được nêu ra và sắp xếp thứ tự như sau: phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; kết hợp hài hoà lợi ích, thực hiện công bằng xã hội; phong trào thi đua yêu nước; phát triển văn hoá; xây dựng con người...

Việc quan tâm tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển đã được nêu ra trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng và trong Dự thảo văn kiện Đại hội XI cũng đã được đề cập, tuy vận chưa nhấn mạnh và làm rõ những nội dung và tính chất mới của các động lực, chưa thể hiện rõ mối liên hệ và tác động qua lại giữa các động lực, chưa xác định trách nhiệm cụ thể của từng bộ phận trong hệ thống chính trị và chưa phân công tổ chức nào chủ trì phối hợp việc phát huy các động lực của sự phát triển trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Ngày nay, hệ thống các động lực được tạo lập đã có những nội dung mới phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và trở thành nhu cầu, nguyện  vọng thiết thân của các tầng lớp nhân dân. Phát huy tốt và đồng bộ hệ thống các động lực sẽ tạo thành tổng lực của sự phát triển đất nước.

Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đây là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu, là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ trước tới nay và mãi mãi về sau. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đại đoàn kết có yêu cầu và nội dung mới khi điểm tương đồng được mở rộng để tập hợp và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Chính sách đại đoàn kết cũng đề cao truyền thống nhân dân, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự đồng thuận xã hội và phát triển đất nước. Đại đoàn kết phải là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Tầm và chất lượng mới của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay là đại đoàn kết, đồng thuận xã hội gắn liền với dân chủ, công bằng xã hội vì sự ổn định và phát triển của đất nước.

Về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Thực hành dân chủ trong đời sống xã hội sẽ làm cho mọi  tiềm năng sáng tạo của con người được phát huy, sự tìm tòi những sáng kiến mới, giải pháp mới được nở rộ, tính tích cực và chủ động của nhân dân được tăng lên, sự tham gia của nhân dân vào các quá trình hoạt động của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền từ Trung ương đến cơ sở bằng các hoạt động giám sát, phản biện xã hội sẽ ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết. Đảng, Nhà nước tôn trọng toàn bộ quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, đi lại, tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, quyền nghỉ ngơi, học hành, đồng thời tạo cho mọi công dân những khả năng rộng rãi để bày tỏ ý chí, nguyện vọng và trình bày ý kiến của mình về những vấn đề của đời sống xã hội. Trong chế độ xã hội mới, nền dân chủ ngày càng phong phú, đa dạng được thực hiện bằng nhiều hình thức, bên cạnh dân chủ có tính chất dân cử còn là những hình htức dân chủ trực tiếp, dân chủ thông qua Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội và các hoạt động tự quản ở cộng đồng dân cư.

Về kết hợp hài hoà lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, quan tâm lợi ích thiết thân của con người. Lợi ích chung của sự phát triển xã hội được thể hiện và thực hiện một phần quan trọng qua lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân, mỗi cộng động. Thực tiễn trong những năm đổi mới chứng tỏ cần thiết phải kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân với lợi ích chung, trong đó lợi ích thiết thân của con người là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất. Nói về lợi ích phải gắn liền với bảo đảm công bằng xã hội, ngày nay công bằng xã hội được hiểu không chỉ giới hạn công bằng về kinh tế vẫn là yếu tố nền tảng, chủ yếu là chế độ phân phối. Từ thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới, Đảng ta chỉ rõ: thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội. Quan tâm đến lợi ích của con người và thực hiện công bằng xã hội trở thành động lực quan trọng của sự phát triển xã hội  mới.

Về thi đua yêu nước, phong trào thi đua yêu nước đã có tác dụng bồi dưỡng tinh thần tập thể, tinh thần lao động hăng say sáng tạo, tăng năng suất lao động, hiệu quả kinh tế... và đã trở thành truyền thống của các cấp, các ngành trong hàng chục năm nay. Ngày nay, thi đua yêu nước vẫn tiếp tục phát huy tác dụng và cũng là một động lực của sự phát triển. Phong trào thi đua ngày nay có chứa đựng tinh thần cạnh tranh lành mạnh sẽ là yếu tố nuôi dưỡng và thúc đẩy mạnh mẽ, tránh được tính phô trương, hình thức, không chạy theo thành tích chủ nghĩa, không tự tô hồng và đánh bóng thương hiệu một cách không thực chất. Các danh hiệu anh hùng, chiến sỹ thi đua và các điển hình tiên tiến được nhân dân suy tôn và xét phong tặng đúng đắn, thực chất sẽ là những tấm gương dẫn dắt mọi người học tập và noi theo.

Như vậy, các động lực chủ yếu của sự phát triển nêu trên vừa mang những nội dung truyền thống vừa có những yêu cầu nội dung phù hợp với yêu cầu thời kỳ đổi mới đất nước, phù hợp với ý chí và nhu cầu bức thiết của nhân dân. Thực chất của các động lực là sức mạnh sáng tạo của toàn dân, là mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội, khi con người có niềm tin vào sự phát triển của đất nước, con người được giải phóng thì các động lực sẽ được phát huy cao độ.

Các động lực của sự phát triển quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau để trở thành tổng lực của sự phát triển. Nếu việc kết hợp các động lực không thống nhất và đồng bộ cả về nhận thức và phương pháp sẽ làm cản trở lẫn nhau, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Nếu coi đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu cũng có nghĩa là có sự quy tụ và hợp thành cùng với các động lực khác. Nói  đại đoàn kết từ mỗi cộng đồng dân cư đến toàn xã hội mà thiếu dân chủ, thiếu công bằng xã hội, thiếu những tấm gương sáng thì cũng không có đại đoàn kết thực sự. Một chủ trương, một chính sách không còn phù hợp mà không được sửa đổi, việc thực thi chính sách không đúng ở các cấp, việc vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... đều là các lực cản của quá trình phát huy các động lực.

Việc tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển là công sức của toàn dân, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Để giúp Đảng tiếp tục lãnh đạo việc tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển, cần có một tổ chức đứng ra chủ trì phối hợp thực hiện. Xét về tính chất và nội dung của hệ thống các động lực là rất phù hợp với vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của nước ta. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm và khả năng chủ trì phối hợp thực hiện nhằm phát huy cao độ các động lực của sự phát triển đất nước.

Về đầu trang


Cần bổ sung những hạn chế và khuyết điểm

Về những sai lầm, khuyết điểm, trong Cương lĩnh 1991 đã viết: "Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng". Tại đại hội lần thứ VI, Đảng đã tự phê bình, đề ra đường lối đổi mới và lãnh đạo công cuộc đổi mới suốt 25 năm qua giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.

Về phần này, trong Dự thảo Cương lĩnh 2011 (bổ sung và phát triển) đã viết: “Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình và sửa chữa khuyết điểm để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên". Vậy so với Cương lĩnh 1991, Dự thảo Cương lĩnh 2011, chẳng những không có sự bổ sung mà còn rút gọn lại những sai lầm, khuyết điểm cũ của thời kỳ bao cấp đã nêu trong Cương lĩnh 1991.

Từ Đại hội VI đến nay đã tròn 25 năm, nếu tính từ khi có Cương lĩnh 1991 đến nay là 20 năm, đây cũng là khoảng thời gian Đảng ta lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh tinh hình thế giới và trong nước đầy biến động, Đảng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức phải tìm tòi lý giải và giải quyết nhiều vấn đề lý luận và những diễn biến thực tiễn rất đa dạng, phong phú. Thành công và thành tựu là to lớn, sai lầm và khuyết điểm mới là không thể tránh khỏi. Nếu viết về những sai lầm, khuyết điểm như Dự thảo Cương lĩnh 2011 là chưa thoả đáng, chưa thể hiện nghiêm túc tinh thần tự phê bình của Đảng ta.

Tổng kết những vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, đánh giá khái quát về những yếu kém và khuyết điểm có thể nêu ra mấy điểm chủ yếu sau đây: không ít vấn đề về nhận thức lý luận còn chưa đủ rõ, nhất là việc nhận thức và giải quyết quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính chị... Chính vì vậy, kinh tế phát triển chưa tương xứng so với khả năng và yêu cầu, sức cạnh tranh còn yếu và vẫn tồn tại nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhiều vấn đề văn hoá xã hội bức xúc chậm được giải quyết. Nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của không ít cán bộ, đảng viên vẫn nghiêm trọng. Tệ nạn xã hội phát triển, sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội gia tăng, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị chậm được đổi mới, hiệu lực quản lý của Nhà nước chưa cao, dân chủ trong Đảng và trong xã hội chưa được phát huy đầy đủ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân có mặt giảm sút...

Trên đây là khái quát những sai lầm, khuyết điểm trong hơn 20 năm Đảng lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới. Qua đây, cho thấy hai vấn đề nổi lên, Một là: những mặt được là do đổi mới tư duy kinh tế, do những mặt tích cực của cơ chế thị trường đem lại, còn mặt trái của cơ chế thị trường thì chưa hạn chế tốt, điều đó chứng tỏ khả năng lãnh đạo thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn hạn chế, có khuyết điểm kéo dài. Hai là: Hệ thống chính trị chậm đổi mới, Cương lĩnh 1991 đã nêu rõ: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” (Cương lĩnh 1991, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2005, tr 327) và Nghị quyết Đại hội VII cũng đã ghi: “Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị”. Như vậy chậm đổi mới hệ thống chính trị cũng đồng thời là việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội chưa tốt, việc lãnh đạo thể chế hoá những chủ trương về những vấn đề chính trị còn khó khăn và chậm, như việc ban hành Luật Dân tộc, Luật về Hội, việc sửa đổi Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung Luật MTTQ Việt Nam đã nêu ra ở nhiều Nghị quyết của Đảng vẫn chưa làm được, gần đây việc xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội, vấn đề xã hội dân sự ở Việt Nam đã nêu ra và nghiên cứu từ lâu vẫn chưa có kết luận…

Tôi hiểu Cương lĩnh là đường lối dài hạn của Đảng, không thể nêu quá nhiều những sai lầm, khuyết điểm cụ thể, việc này sẽ nêu ra ở Nghị quyết các kỳ  Đại hội của Đảng và trong Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương. Nhưng không vì thế mà rút gọn lại những sai lầm, khuyết điểm cũ đã viết trong Cương lính từ năm 1991. Từ năm 1991 đến nay là một thời kỳ, thời kỳ Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhất định có những sai lầm, khuyết điểm mới. Tôi tha thiết đề nghị cần có sự lựa chọn nghiêm túc để tìm ra những sai lầm, khuyết điểm bổ sung vào Cương lĩnh lần này - một Cương lĩnh bổ sung và phát triển Cương lĩnh 1991.

Về đầu trang


Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng  

Ngày 9/10 tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức Hội thảo góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng với sự góp mặt của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; đại diện 30 Liên đoàn Lao động các tỉnh, thành và công đoàn ngành Trung ương cùng các nhà nghiên cứu. 

Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Hoàng Ngọc Thanh, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khẳng định: Đại hội Đảng lần thứ XI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Việc công bố dự thảo các văn kiện Đại hội để lấy ý kiện rộng rãi của các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia góp ý những vấn đề quan trọng của đất nước, góp phần làm cho các văn kiện trình Đại hội Đảng trở thành ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta….  

Trên tinh thần xây dựng thẳng thắn, chân thành, các đại biểu dự Hội thảo tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình trình Đại hội XI, trong đó tập trung vào các vấn đề lớn có liên quan đến giai cấp công nhân và hoạt động công đoàn. Cụ thể: vấn đề phát triển lý luận về giai cấp công nhân góp phần hoàn thiện nội dung xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Giai cấp công nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa, về mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH; vấn đề tri thức hóa giai cấp công nhân. Nguồn nhân lực công nghiệp; vấn đề việc làm, điều kiện làm việc, đời sống công nhân. Vấn đề chính sách pháp luật liên quan đến công nhân, lao động. Vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp; chính sách đối với cán bộ nói chung và cán bộ công đoàn; vấn đề cơ cấu cán bộ trong cấp ủy, Trung ương, Bộ Chính trị. Các ý kiến về kết nạp đảng viên là công nhân và đào tạo cán bộ Đảng, Nhà nước từ công nhân và cán bộ công đoàn.  

Các đại biểu bày tỏ đồng tình với nội dung cơ bản của 3 dự thảo văn kiện và cho rằng, các Dự thảo đã thể hiện được tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, các vấn đề nóng đang được dư luận xã hội quan tâm; đặc biệt đã nêu và phân tích được những biểu hiện và nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém trong Đảng. Việc đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho nhiệm kỳ tới và cả giai đoạn tiếp theo đã thể hiện rõ tầm chiến lược, tính cách mạng và sự đột phá, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và hội nhập quốc tế…  

Đại biểu Đan Tâm, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn khẳng định: Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đều nhằm xây dựng và phát triển đất nước ta theo định hướng XHCN. Định hướng đó đã thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích cơ bản và thiết thực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người và cũng phù hợp với lý tưởng và tương lai phát triển của giai cấp công nhân. Là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của xã hội, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử cao cả vừa là giai cấp lãnh đạo, vừa là lực lượng nòng cốt đi đầu thực hiện sự nghiệp xây dựng xã hội XHCN, trước mắt là xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhưng dù sao, sứ mệnh đó vẫn là khả năng – dù là khả năng tất yếu và cả sức mạnh to lớn đối với công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – XHCN, bởi phải có sự lãnh đạo của Đảng thì khả năng đó mới trở thành hiện thực, sức mạnh to lớn đó mới được phát huy. Bởi như Bác Hồ đã nói: “Giai cấp công nhân mà không có Đảng lãnh đạo thì không thể làm cách mạng được. Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì"… 

Về công tác xây dựng Đảng, Đại biểu Đan Tâm cho rằng, Dự thảo văn kiện còn nặng về hiện tượng và việc cụ thể, chưa nêu bật được bản lĩnh và năng lực lãnh đạo với những tiêu chí cần có của tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên, nhất là của các cấp ủy đảng và người đứng đầu từng cấp ủy đảng đáp ứng được đòi hỏi lãnh đạo của Đảng trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Về bản lĩnh chính trị, cần nhấn mạnh kiên trì định hướng XHCN, quyết tâm lãnh đạo thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, rèn luyện, nâng cao lập trường giai cấp công nhân và quan điểm quần chúng, đạo đức chí công vô tư, có cuộc sống công, tư trong sạch, lành mạnh…. Cần nêu bật tiêu chuẩn đầu tiên phải có của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các cấp ủy đảng trong kinh tế thị trường là lập trường giai cấp công nhân, quan điểm quần chúng và ý thức đảng. Quan điểm quần chúng là lắng nghe dân, vì lợi ích của dân, tôn trọng dân, chịu trách nhiệm với dân. Thực tế cho thấy rằng, chỉ có đứng vững trên lập trường, quan điểm giai cấp công nhân, mới xử lý đúng mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội bởi lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và lợi ích cơ bản của các giai tầng xã hội khác là thống nhất…  

Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động Hải Phòng Hoàng Duy Đính bày tỏ băn khoăn về phần đánh giá những hạn chế, yếu kém trong văn kiện, mặc dù đã nêu ra 6 nhóm vấn đề nhưng chưa thấy được đằng sau những hạn chế, yếu kém đó đang tiền ẩn các nguy cơ. Đó là sự tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đang dần làm suy giảm lòng tin trong các tầng lớp nhân dân đối với Đảng; tham nhũng, lãng phí đã và đang trở thành một vấn nạn làm tổn hại đến nền kinh tế đất nước, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân; cải cách bộ máy hành chính chậm đổi mới, kém hiệu quả; vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở đang dần mờ nhạt, nhất là ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…  

Đại biểu Hoàng Duy Đính đề nghị các văn kiện phải rõ hơn về giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn, phải rõ nội dung: Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân, đội quân cách mạng của mình thông qua tổ chức đảng và các đoàn thể nhân dân; phải có chiến lược về giai cấp công nhân, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục đạo đức, lý tưởng và phát triển đảng trong công nhân lao động.  

Góp ý vào dự thảo Cương lĩnh 1991, nguyên Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu giai cấp công nhân và công đoàn Nguyễn Văn Dũng cho rằng, nhận thức và đánh giá của Đảng ta đối với vai trò và tác dụng lịch sử của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào công đoàn thế giới là có tính lịch sử và là một động lực to lớn trong thời đại ngày nay nhằm thực hiện mục tiêu hòa bình, dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội. Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn là lực lượng đi đầu trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh, chống bóc lột và bất bình đẳng xã hội. Đảng ta khẳng định Đảng là của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân nhưng trong cương lĩnh làm rõ, cụ thể là cấp ủy đảng có cơ cấu đại diện là công nhân, cần đảng viên là đại diện công đoàn vào thường vụ cấp ủy các cấp. Đảng chủ trương tăng thành phần lãnh đạo quản lý nhà nước những người đã kinh qua phong trào công nhân, công đoàn. Đảng có chính sách và Nhà nước có thể chế hóa quyền và vai trò công đoàn trong việc tham gia quản lý kinh tế ở các cấp. Ông Nguyễn Văn Dũng cũng kiến nghị Cương lĩnh cần có thêm phần tổ chức thực hiện, thành lập ủy ban giám sát thực hiện Cương lĩnh của Trung ương Đảng trong đó các đồng chí nguyên là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Tổng Liên đoàn qua các thời kỳ, đại diện các tổ chức chính trị - xã hội làm ủy viên. 

Đại biểu Vũ Quang Bình, Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh Hải Dương nhất trí cao với dự thảo về việc tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa. Song ông cũng đề nghị Đảng và Chính phủ cần dự báo chính xác, lâu dài về tình hình đất nước và khu vực trong những năm tới để có chính sách, giải pháp phù hợp. Đồng thời phải có chiến lược khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước. Nhà nước cần quan tâm đến chính sách kích cầu, thực hiện chính sách an sinh xã hội, quan tâm đến môi trường nông thôn, tăng cường các chính sách về nông nghiệp, nông dân và nông thôn để xây dựng nông thôn mới, tránh sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng miền ngày càng lớn. 

Phát biểu bế mạc Hội thảo, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Hoàng Ngọc Thanh đề nghị, các đại biểu khi về cơ sở tiếp tục triển khai các cuộc góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XI để có nhiều góp ý ngày càng chất lượng, sát với thực tiễn giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn. Các ý kiến đóng góp của các đại biểu sẽ được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổng hợp để gửi lên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam để trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư./. 

Theo Thu Hà - Báo ĐTĐCSVN

Về đầu trang


Lược ghi ý kiến phát biểu của GS.TSKH Phạm thị Trân Châu, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI                      

Đọc các bản dự thảo văn kiện, tôi  thấy tâm đắc với nhiều vấn đề và có nhiều hy vọng. Qua các ý kiến đóng góp được nêu trên các phương tiện thông tin đại chúng, tôi cảm nhận điều được mọi người quan tâm nhiều là những chính sách,  cơ chế và biện pháp để thực hiện cương lĩnh. Vì trong thực tế,  đã có những vấn đề được Đại hội X nêu ra đã nhận được sự hoan nghênh,  đồng tình cao của người dân, nhưng đến nay vẫn chưa được thực thi trong cuộc sống hoặc thực thi chưa đạt hiệu quả như: vấn đề phản biện xã hội, vấn đề chống tham nhũng.

Là một người hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, về cơ bản tôi đồng tình cao với những nhận định chung đã nêu trong các văn bản dự thảo, cũng như những mục tiêu phải đạt được thuộc lĩnh vực này, trong thời gian tới. Sau đây tôi chỉ xin được làm rõ thêm đôi điều tôi tự thấy có trách nhiệm cần nói rõ:

I. Trước hết xin phát biểu về dự thảo Báo cáo Chính trị, phần “hạn chế, khuyết điểm” trong lĩnh vực Giáo dục, Đào tạo, Khoa học, Công nghệ (trang 62).

   - Trong phần về Giáo dục, Đào tạo: dự thảo đã nhận định rất đúng về các yếu kém cần khắc phục như: sự không tương xứng giữa: số lượng- chất lượng, dạy chữ- dạy người; chưa có biện pháp khắc phục xu hướng thương mại hóa và sa sút về đạo đức trong Giáo dục...; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực Khoa học và Công nghệ của đất nước; KH-CN chưa trở thành động lực, sử dụng chưa hiệu quả đầu tư cho Khoa học- Công nghệ. Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ quả thực đang là vấn đề cần  quan tâm kịp thời, nếu không muốn nói là cấp thiết và bức xúc.

Từ việc xác định đúng yếu kém, chúng ta có thể hi vọng sau này sẽ có được các cơ chế,  chính sách, biện pháp đúng để lành mạnh hóa nền giáo dục, khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu của thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa của nước ta.

 Để góp phần thoát khỏi những yếu kém vừa nêu tôi thấy cần làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm của những người trong cuộc: thầy và trò, cán bộ khoa học và cán bộ quản lý các cấp trong ngành

II. Về bản “Dự thảo cương  lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ”

 1. Về con người. dự thảo có nêu:  gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước… giàu lòng yêu nước có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức…và nêu rõ:  để xây dựng được con người như vậy cần có sự kết hợp gia đình, nhà trường, xã hội, trong đó gia đình là môi trường trực tiếp.

Tôi hoàn toàn nhất trí về mục tiêu xây dựng con người và trách nhiệm của gia đình là môi trường trực tiếp,  nhưng thực tế hiện nay khi mà  những tiêu cực, tính thực dụng ngày càng tăng và trở thành phổ biến trong xã hội, đã lấn át sự giáo dục tốt của từng gia đình riêng rẽ. Vì vậy, để có được con người theo các tiêu chí đã nêu trong dự thảo, có vẻ vấn đề gốc rễ là phải làm lành mạnh toàn xã hội, có như vậy thì việc giáo dục ở từng gia đình mới có cơ hội phát huy tác dụng và nhân rộng.

 2. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, 

 Cho đến khi nào mà số đông học sinh, sinh viên đi học chỉ để qua được các kì thi, có bằng cấp chứng chỉ, xem đó là mục tiêu  cuối cùng, còn việc học làm người, học cách  tư duy, phương pháp làm việc chưa là nung nấu suy nghĩ hàng ngày, ở mọi lúc mọi nơi, thì chưa thể nói nhiều đến ý nghĩa đích thực của chất lượng giáo dục và đào tạo.

Khi nào mà chúng ta chưa có được một đội ngũ đông đảo người thầy, cán bộ nghiên cứu KH là tấm gương sáng về đạo đức và nghề nghiệp, sống với cái tâm trong sáng, đủ sức thu hút đông đảo học sinh, sinh viên cùng lao động trong lĩnh GD-ĐT, KH- CN, người đi học chưa có được động cơ học tập đúng, thì chưa thể nói đã  thành công trong đổi mới GD-ĐT, KH-CN.

 Để khắc phục được những yếu kém, đạt được các mục tiêu như mong muốn, đòi hỏi một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn xã hội, từ các lĩnh vực, truyền thông đến mọi gia đình, toàn thể xã hội, cán bộ quản lý trong mọi lĩnh vực, chỉ riêng ngành giáo dục và khoa học công nghệ không thể  tạo được chuyển biến quan trọng.

+ Vấn đề chất lượng trong GD-ĐT: Các chỉ tiêu về số lượng cử nhân, kĩ sư, thạc sĩ, tiến sĩ sẽ có trong thời gian tới là những chỉ tiêu đáng phấn khởi vì chúng ta sẽ có được đội ngũ  nhiều người lao động qua đào tạo ở trình độ cao. Những người này sẽ đóng góp tốt hơn cho xã hội so với chính họ khi chưa qua đào tạo. Vì vậy, xét về khía cạnh này là có ích cho xã hội, nhưng vấn đề mà xã hội đang quan tâm là chất lượng thực, trình độ thực của những người sở hữu các văn bằngđặc biệt là khi sử dụng các văn bằng như là một tiêu chí để tuyển chọn và đề bạt cán bộ. Việc lẫn lộn “thật, giả” không chỉ có ảnh hưởng lớn  đến kết quả và hiệu quả công việc mà có khi còn gây trở ngại, hạn chế sự phát huy tài năng của những người khác.

Kiểm định chất lượng là điều đã được quan tâm và nhắc đến trong nhiều văn kiện. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở một số chỉ tiêu theo kết quả thi cử, đánh giá cấp bậc những trường đại học theo những con số: số sinh viên/giáo viên, suất đầu tư, quy mô thư viện, mạng internet…thì hoàn toàn chưa đủ, mà còn cần quan tâm đến chất lượng một cách toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Đó là:  trình độ tri thức, chất lượng thực của từng bài giảng,  kinh nghiệm và trình độ tư duy của từng thầy giáo, mà không chỉ là bằng cấp, chứng chỉ mà họ sở hữu; chất lượng của từng học sinh, sinh viên phải là sau từng năm học họ có những tiến bộ gì về tri thức,  kinh nghiệm, khả năng tự học, khả năng tư duykhông chỉ là điểm số đạt được qua các kì thi.

Về ngân sách nhà nước dành cho Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, tuy còn khiêm tốn so với các nước phát triển, nhưng cũng phải thực sự khách quan mà thừa nhận rằng: đó là một khoản đầu tư mà nhà nước và nhân dân đã phải hết sức cố gắng dành cho Giáo dục và Khoa học. Điều đáng suy nghĩ là một phần không nhỏ những khoản đầu tư ấy đã chưa được sử dụng một cách thật hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, cho việc cải thiện đời sống của thầy và trò, cho người nghiên cứu khoa học, nhằm góp phần nâng cao chất lượng công việc của họ. Then chốt vẫn là ở trách nhiệm của những người quản lý, tấm lòng và trách nhiệm của những người thực hiện.

+ Vấn đề bồi dưỡng nhân tài (tr.11). Dự thảo văn kiện có nêu “…phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…”. Có bồi dưỡng  được nhân tài không? Nên hiểu như thế nào? Nội hàm chính là ươm mầm tài năng và tạo điều kiện môi trường thuận lợi để các “hạt giống” tốt này phát triển.  Vì vậy, để làm rõ nội hàm trên,  nên chăng có thể bổ sung và sửa đoạn này thành “phát hiện,  tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để tài năng phát triển ”. Quả thực điều kiện và môi trường thuận lợi cả về vật chất và tinh thần, môi trường thuận lợi của gia đình và xã hội thực tế đã đem lại thành công cho nhiều tài năng tiềm ẩn trong toàn xã hội. Đối với phụ nữ, điều này càng quan trọng, cần được tạo điều kiện sớm  để nhiều tài năng nữ (hơn 50% dân số) có thể  thành công.

“Nhân tài” là người tài, chắc không nhiều lắm, nhưng điều chúng ta cần là phát hiện và tạo điều kiện để phát huy “tài năng ” của mỗi người về từng mặt, từng lĩnh vực. Nếu tạo  được điều kiện và môi trường thuận lợi, phát triển được tài năng riêng của mỗi người, thì  tài năng nở rộ,  trong đó sẽ bật lên các nhân tài, hiệu quả đóng góp cho sự phát triển đất nước sẽ là rất to lớn.

  + Đào tạo, đánh giá, quản lý và đãi ngộ người làm Giáo dục và Khoa học

Từ chỗ xem con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực GD-ĐT và KH-CN, từ chỗ phải xem chất lượng  là chỉ tiêu chủ yếu của công việc GD-ĐT và KH-CN,  hãy nhìn lại việc đào tạo, đánh giá và đãi ngộ những người hoạt động trong lĩnh vực này.

Về mặt quản lý cán bộ, cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, người ta thường nói đầy đủ đến đức, tài,  nhưng trong thực tế người có trách nhiệm  đã viện dẫn đến quá nhiều những tiêu chí hình thức như:  bằng cấp, học vị, học hàm (cả thật và giả)…mà đã không muốn hoặc không xem xét một cách khách quan, công tâm đến đức, tài.  Kết quả là không tuyển chọn được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, đánh đồng (nếu không muốn nói là có khi người kém nhưng biết luồn lách lại được ưu ái, đảm nhận trọng trách hơn người có năng lực phù hợp hơn với nhiệm vụ)  cào bằng giữa những người có tâm, có tầm, có tài với những người khác.  Điều này quả thực đã có ảnh hưởng không tốt đến sự phấn đấu vươn lên của các thế hệ kế cận, thế hệ trẻ. Trách nhiệm về ai? Cá nhân hay tập thể cán bộ quản lý?.

Không có đủ những người có tâm, có tầm, có tài chịu trách nhiệm tuyển chọn và đào tạo cho tương lai, thì làm sao có được một đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm và có tài cho GD-ĐT và KH-CN. Không đánh giá đúng và thẳng thắn cán bộ thuộc quyền, thì làm sao công việc giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học có được chất lượng. Chất lượng công việc không được đánh giá đúng thì làm sao động viên, kích thích được sự cố gắng , tinh thần trách nhiệm và ý chí sáng tạo của cán bộ. Kết quả là : chỉ có thể có được số lượng sinh viên tốt nghiệp, số kĩ sư, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo theo kế hoạch. Một sự đãi ngộ bình quân, một mức thu nhập trung bình thấp của những người làm GD-ĐT và KH-CN  là hậu quả tất yếu của cả một hệ thống quản lý cào bằng, của những người lãnh đạo các cấp thiếu thắng thắn, thiếu trách nhiệm, hoặc không đủ năng lực. Nhiều trường hợp người lãnh đạo có tâm, có tầm, có tài và muốn làm,  nhưng lại thiếu hoàn cảnh và  điều kiện để họ thực thi đúng  nhiệm vụ mà họ phải hòan thành.    

Thoát khỏi tình trạng này quả là không dễ, không biết bắt đầu từ đâu, từ “trứng ” hay từ “gà ”. Xin được đề nghị hãy bắt đầu từ những tổ chức mới (trường, viện) , từ  những nhà khoa học, nhà giáo đủ tâm, đủ tầm và đủ tài và cũng dám chịu trách nhiệm, với điều kiện lãnh đạo dám giao cho họ đủ quyền. Từ những tổ chức nhỏ đến tổ chức lớn, phải kiên nhẫn, kiên định trong nhiều năm mà không phải theo nhiệm kì hoặc có “hội chứng nhiệm kỳ”. Hãy bắt đầu mạnh dạn tính đến nhiều hơn về chỉ tiêu chất lượng trong thành tích giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ.

Tóm lại xin đề nghị trong công tác cán bộ, không chỉ riêng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, cần chú ý đến ba chữ T là tâm, tài, tầm  ….                                                           

Về đầu trang


Góp ý kiến vào các văn kiện  Đại hội XI của Đảng Tăng cường kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng

Tôi nhất trí với dự thảo: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại". Trong phần 6 (nhỏ) có đoạn về kết quả công tác kiểm tra giám sát được coi trọng chất lượng, hiệu quả được nâng lên... nhưng tôi đề nghị đoạn này làm rõ hơn nguyên nhân  về vai trò lãnh đạo của Đảng, rất đổi mới, sáng suốt cụ thể như thế nào để có được kết quả đó. Tôi cũng nhất trí với cả phần B đã nêu nhiều hạn chế, khuyết điểm, chứng tỏ bản lĩnh của Đảng. Điều này làm cho dân càng yêu Đảng.

Trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ  luật của Đảng đề nghị nói thêm một số hạn chế, khuyết điểm nữa là trong cả nước có không ít tổ chức cơ sở Đảng chỉ xử lý nội bộ, không công khai kỷ luật Đảng cho dân biết, bàn, kiểm tra nên làm giảm lòng tin của dân. 

Tại phần XII và mục 7 (nhỏ) đề nghị nêu thêm công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng  cần làm đúng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: "lãnh đạo quên kiểm tra là một sai lầm rất to (báo sự thật số ra ngày 30/11/1948 ký tên XYZ". Tiếp đó Bác dạy: "Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra mới đủ kinh nghiệm và oai tín". Ngày 29/7/1964 trong một bài nói chuyện, Bác kính yêu nhắc nhở: "các cấp uỷ Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra". Vậy đề nghị Dự thảo nêu rõ toàn Đảng ta nhất là tất cả các cấp từ chi uỷ trở lên đều phải làm tốt công tác kiểm tra giám sát không khoán trắng cho cán bộ kiểm tra, không xử lý nội bộ, mà thẳng thắn công khai kỷ luật Đảng cho dân biết, bàn, kiểm tra, giám sát vì công việc của Đảng cũng là công viêc của dân. Vì càng công khai thì dân càng thêm tin yêu Đảng. Bởi Đảng ta từ 3/2/1930 đến nay đã thực sự là Đảng vĩ đại của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lơi ích gì khác. Nên đề nghị dự thảo nêu rõ trong nhiệm kỳ 5 năm 2005 - 2010 Đảng đã phát hiện, xử lý  kỷ luật Đảng nhiều vụ và có đánh giá để tạo niềm tin của dân. 

Tôi đã đọc kỹ kết luận của Dự thảo nêu trên: "Đất nước ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức to lớn và đang vững bước đi lên...đến hết). Tôi tha thiết đề nghị ghi thêm nội dung nữa đặc biệt quan trọng mà kết luận chưa đề cập là: toàn đảng, toàn dân, toàn quân quyết đoàn kết phấn đấu làm đúng điều mong muốn cuối cùng trong di chúc thiêng liêng viết ngày 10/5/1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Cảnh

Đảng bộ thị trấn Phúc Thọ, Hà Nội

Về đầu trang


Góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng: Vấn đề dân tộc cần được đề cập sâu sắc hơn

Hai văn kiện rất quan trọng là Cương lĩnh và Báo cáo chính trị đều cùng đề cập một vấn đề về dân tộc; nhưng việc xác định vị trí chiến lược, các nguyên tắc chính sách, nội dung giải quyết vấn đề đó thấy chưa nhất quán và chưa sâu sắc, có thể làm cho cán bộ và đồng bào các dân tộc hiểu khác nhau. Suy nghĩ từ thực tiễn của nước ta và kinh nghiệm của thế giới, tôi xin góp vào Dự thảo các Văn kiện Đại hội XI của Đảng một số ý kiến liên quan đến vấn đề dân tộc như sau:

1. Cương lĩnh là tuyên ngôn chính trị của Đảng, định hướng cho nhận thức và hành động của toàn Đảng và toàn dân ta, nhất thiết phải đề cập – xác định về vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc; đề nghị bổ sung vào điểm 6 của Cương lĩnh (ở trang 13, dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng) là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lớn và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Báo cáo chính trị khi xác định vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc cũng không nên chỉ nhấn đoàn kết mà cần phải bổ sung đầy đủ như vậy, vì đoàn kết là một mặt của vấn đề dân tộc. Phải thấy, nước Việt Nam ta là một quốc gia thống nhất, có nhiều dân tộc và tôn giáo, ngày nay cũng đã mở cửa và hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa các dân tộc và tôn giáo ở trong và ngoài nước gia tăng, các yếu tố dân tộc và tôn giáo đan xen nhau, các thế lực thù địch vấn tăng cường “chiến tranh ngầm dân tộc và tôn giáo” nhằm chia rẽ dân tộc và tôn giáo, phá hoại cách mạng nước ta;… nên vấn đề dân tộc không chỉ có vị trí chiến lược lớn và lâu dài mà có tính thời sự cấp bách và rất nhậy cảm. Đảng ta phải đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc, hòa giải và hòa hợp, đoàn kết được các dân tộc theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là chìa khóa để ổn định và phát triển đất nước. Cần nhất quán về khái niệm khi Cương lĩnh viết “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam” và Báo cáo chính trị viết “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam”, liên quan đến chủ thể dân tộc Việt Nam; đề nghị sau cụm từ cộng đồng hay gia đình thêm cụm từ dân tộc.

2. Về các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc, hai văn kiện đều xác định có một số nguyên tắc giống nhau, có nguyên tắc lại khác nhau, như Cương lĩnh thì có phát triển, Báo cáo chính trị thì có tiến bộ và thêm thương yêu; đề nghị Cương lĩnh và Báo cáo chính trị thống nhất xác định là: Thực hiện nhất quán chính sách bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giúp nhau, tiến bộ giữa các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Phải đặt tôn trọng lên trước đoàn kết, bớt đi  thương yêu, phát triển, vì đoàn kết đã có thương yêu, giúp nhau tiến bộ đã gồm cùng phát triển rồi, bỏ bớt các từ và, đỡ, cùng cho gọn, còn lại 10 chữ; xác định các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta như vậy là đầy đủ, hợp với thực tiễn.

Con người ta sống phải biết tôn trọng và thương yêu nhau thì mới có đoàn kết; có tôn trọng, thương yêu, đoàn kết thì mới giúp nhau cùng phát triển và tiến bộ, có phát triển mới tiến bộ, phải phát triển theo hướng tiến bộ; có đoàn kết, giúp nhau phát triển và tiến bộ thì mới bình đẳng thực sự, có bình đẳng thực sự thì mới có đoàn kết thực sự. Chúng ta không những phải nhận thức đúng đắn các nguyên tắc đó và mối quan hệ của nó, mà phải vận dụng thực hiện tốt trong thực tiễn từ việc nhỏ đến việc lớn; nếu ai không thực hiện tốt, chỉ bỏ sót một trong các nguyên tắc trên là vi phạm chính sách dân tộc, sẽ gây hậu quả khó lường.

3. Về nội dung giải quyết vấn đề dân tộc, Báo cáo chính trị đặt ra những việc sẽ làm (ở trang 103 – sđd) chung quá, cần có nội dung cụ thể và sát hợp hơn, tạo chuyển biến rõ rệt cái gì ở vùng dân tộc thiểu số, để giải quyết hài hòa lợi ích giữa các dân tộc? Tôi đề nghị phải tạo chuyển biến rõ rệt về mọi mặt, nhất là nâng cao chất lượng nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng, xoá được đói giảm được nghèo,...Cương lĩnh và Báo cáo chính trị cần bổ sung: Chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, rồi mới tiếp đến chống kì thị và chia rẽ dân tộc,…

Báo cáo chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đều đề cập đến Vùng trung du miền núi, việc sẽ làm ở vùng này. Tôi xin nhấn thêm về miền núi – vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Đây là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh. Tuy có tiềm năng và thế mạnh, có đổi mới, phát triển và tiến bộ, nhưng vẫn là vùng có nhiều khó khăn và nghèo, khó khăn nhất là vùng núi phía Bắc, đặc biệt là Tây Bắc; ở đây có trình độ phát triển không đều, có khoảng cách chênh lệch về nhiều mặt, rõ nhất là  dân trí thấp, năng lực sản xuất thấp, đói nghèo cao, thiếu nước, thiếu đường, thiếu trường, quan hệ giữa dân tại chỗ với dân tái định cư, dân di cư tự do luôn tiếp diễn vẫn còn phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố bất ổn về an ninh chính trị, …

Để vực dậy vùng miền núi, phải chủ động tổ chức cuộc sống mới của đồng bào các dân tộc ở các khu dân cư, xóa giảm được đói nghèo, không di cư tự do, không phá rừng trái phép; khai thác các tiềm năng, phát huy các thế mạnh – nhất là thế mạnh về rừng, không có rừng, có cây, người ta không thể sống được, nâng cao hơn nữa độ che phủ của rừng, giao cho đồng bào các dân tộc làm rừng để họ sống bằng nghề rừng, dân làm rừng có nước là làm thuỷ điện, để làm giàu cho mình và cho đất nước; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng – an ninh, xây được phòng tuyến biên giới bằng lòng dân; xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch và vững mạnh,…

Cán bộ và đảng viên, đồng bào các dân tộc ở miền núi phải có tâm và có tầm làm những việc đó, phát huy được nội lực của mình, tinh thần yêu nước và cách mạng, khắc phục cho được tư tưởng ỷ lại và trông chờ, để tự giải quyết lấy công việc của đồng bào mình là chính. Đồng thời, Trung ương và cả nước phải tạo mọi điều kiện phát triển vùng khó khăn này, không chỉ có cơ chế và chính sách đặc thù mà phải có vốn đầu tư đủ độ; ví như người ốm đau phải được bác sĩ khám tìm đúng bệnh, điều trị đúng bệnh, dùng đúng thuốc và đủ liều mới khỏi bệnh,…Có như vậy thì vùng miền núi mới ổn định và phát triển được, mới giải quyết được hài hòa lợi ích giữa các dân tộc, mới bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng trong nước.

Chiến lược đề ra mục tiêu đến năm 2020: Thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư. Tôi đề nghị ở vùng miền núi không chỉ có thu nhập mà phải nói các mặt – nhất là đời sống, cán bộ dân tộc, văn hóa dân tộc; không chỉ nhóm dân cư mà phải nói là các dân tộc; xin điều chỉnh và bổ sung: Sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các vùng và các dân tộc. Phải phấn đấu sao cho người dân sống ở miền núi cũng có thu nhập, có điều kiện sống không khác gì so với người dân sống ở miền xuôi và đô thị. Một số đồng bào dân tộc ở vùng cao xuống vùng thấp thấy sống ở vùng thấp sướng hơn sống ở vùng cao, đã nói rằng: Chúng ta đổi nhau, tao sống ở vùng cao lâu rồi, nay mày phải lên sống ở vùng cao thay tao.

Báo cáo chính trị xác định trong nhiệm kỳ Đại hội XI, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm (ở trang 114 – sđd), tôi đề nghị bổ sung thêm:

-      Phải đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc và tôn giáo, hòa giải, hòa hợp, đoàn kết được dân tộc và tôn giáo theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là chìa khóa để ổn định và phát triển đất nước. Vấn đề cốt lõi là sớm tạo ra một cơ chế kết hợp giải quyết hài hòa, hợp lý các lợi ích về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giữa lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, các thành phân kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Có làm như vậy mới xây được niềm tin, mới tạo lập được các mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân với cộng đồng, với xã hội, mới có đồng thuận xã hội, mới có đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới.

-      Phải xóa được đói, giảm được nghèo, thu hẹp được khoảng cách  giàu – nghèo. Ai cũng thấy đói nghèo là sự đau khổ, là yếu kém, là nhục nhã! Nếu chậm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt, không xóa được đói nghèo, để khoảng cách giàu – nghèo quá lớn thì sẽ dẫn đến nguy cơ xung đột xã hội, gây bùng nổ dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Bác Hồ đã nói đói nghèo là giắc và kêu gọi toàn dân phải chống giặc đói nghèo. Ai cũng biết, đánh giặc ngoại xâm đã khó và có đổ máu nhưng không khó và phức tạp như đánh giặc đói nghèo. Giải quyết đói nghèo và thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo là sự thách thức đối với Đảng ta, uy tín của Đảng cao hay thấp, niềm tin của đồng bào các dân tộc với Đảng tăng hay giảm đều tùy thuộc vào có lãnh đạo đánh thắng giặc đói nghèo hay không?

4.  Đề nghị tiếp tục xây dựng Dự án Luật dân tộc Việt Nam. Luật này nhằm cụ thể hóa điều 5 của Hiến pháp, thể chế hóa chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, điều chỉnh các mối quan hệ (công dân giữa các dân tộc, giữa công dân các dân tộc với Nhà nước, trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đối với đồng bào các dân tộc), các biện pháp bảo đảm thực hiện tốt chính sách dân tộc ở nước ta,… Đây là việc làm hợp lòng dân. Việc xây dựng Luật dân tộc đã được đặt ra từ Đại hội VIII của Đảng, Dự án Luật được chuẩn bị trên 10 năm rồi. Nay dừng lại, lý do dừng lại chưa có sức thuyết phục, làm cho cán bộ và đồng bào các dân tộc có nhiều suy tư, buồn phiền, họ vẫn mong Đảng và Nhà nước xem xét lại. Nghiên cứu vấn đề dân tộc của ta và thế giới trong thời kỳ mới, chúng ta cần phải làm tiếp Luật này, không nên quá thận trọng mà dừng lại, làm việc này chính là để chủ động giải quyết tốt vấn đề dân tộc của nước ta, bảo đảm thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, …

5. Về Đảng, tôi đề nghị với Đảng và Nhà nước nghiên cứu xây dựng Dự án Luật về Đảng lãnh đạo. Luật này nhằm cụ thể hóa điều 4 của Hiến pháp, điều chỉnh mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và Nhà nước theo đúng đường lối của Đảng, đúng Hiến pháp. Có luật này chỉ có lợi, không có chút hại nào cho xây dựng Đảng và cho sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng; sẽ tăng thêm đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, tạo thêm điều kiện cho nhân dân có cơ sở pháp lý để tham gia xây dựng Đảng, giám sát Đảng và bảo vệ Đảng. Không có lý do nào có luật về tổ chức Nhà nước, về Quốc hội, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, … lại không cần có luật về Đảng lãnh đạo.

Lù Văn Que

                                                             Ủy viên Đoàn Chủ tịch

                                                             Ủy ban Trung ương MTTQVN

                                                     (Nguyên Phó Chủ nhiệm UBDT TW)

Về đầu trang


Xây dựng cơ chế nhân dân làm chủ 

Dự thảo Báo cáo Chính trị, trong phần kiểm điểm đã có đánh giá thành tựu và những hạn chế, khuyết điểm của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện dân chủ, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tập hợp, động viên nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Ðảng. Tôi có một số kiến nghị như sau: 

Mặt trận, đoàn thể có nhiều vai trò, trong đó có vai trò thực hiện dân chủ, đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ tham gia xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Ðảng, Nhà nước với nhân dân. Trong cơ chế Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, thì vai trò Ðảng lãnh đạo là rất rõ, Nhà nước quản lý cũng rất rõ vai trò, còn vai trò nhân dân làm chủ thì chưa có Nghị quyết nào chỉ ra rõ ràng, đầy đủ. Về phương diện dân chủ, có dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Cơ chế dân chủ đại diện được quan tâm và đề cập nhiều trong các Nghị quyết và các quy định của pháp luật (tuy chưa thật đầy đủ), nhưng cơ chế dân chủ trực tiếp thì chưa được thể chế hóa. 

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Ðại hội XI của Ðảng nêu rõ: 'Có cơ chế để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp', đây là chủ trương rất đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, nhân dân rất mong muốn quyền dân chủ, quyền làm chủ trực tiếp được Nhà nước sớm ban hành cơ chế. Vấn đề ở đây cần xác định: Cơ quan, tổ chức nào ban hành cơ chế ấy. 

Có cơ chế rồi nhưng cần phải được thể chế thành pháp luật và bằng tổ chức. Quyền dân chủ đại diện thì theo cơ chế nào? Tôi đề nghị nên cụ thể cơ chế: 'Nhân dân làm chủ' trên mấy vấn đề sau đây: 

a. Ðề ra nguyên tắc làm chủ của nhân dân, đó là: 'Nhân dân được làm những gì mà Nhà nước không cấm'.  

b. Các lĩnh vực cần mở rộng quyền dân chủ, quyền làm chủ đó là: 'Các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội'... 

c. Nội dung quyền làm chủ là: 'Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát'. 

d. Phương thức làm chủ là nhân dân vừa thực hiện dân chủ trực tiếp vừa 'thực hiện dân chủ đại diện thông qua các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân'.  

e. Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước bảo đảm để nhân dân được làm chủ trên thực tế, vì vậy Nhà nước sớm ban hành các đạo luật liên quan. 

Ðỗ Duy Thường, Nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

Về đầu trang


Ý kiến góp ý của GS TS Đỗ Quang Hưng, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Tôn giáo, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Cần tiếp tục đổi mới chính sách tôn giáo  

Sự đổi mới căn bản về đường lối và chính sách tôn giáo ở nước ta được đánh dấu từ khi có NQ 24 của Bộ Chính trị (tháng 10-1990). Từ đó đến nay, nói đúng hơn từ Cương lĩnh 91 (Đại hội VII, 1991) và Văn kiện các Đại hội tiếp theo VIII, IX và X đã liên tục in dấu những luận điểm có tính đột phá quan trọng của Nghị quyết nói trên, mở ra một thời kì mới trong việc thực hiện đường lối chính sách tôn giáo ở nước ta và trên thực tế đã đem lại những thắng lợi to lớn trên lĩnh vực này. 

Tuy thế sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh 91, riêng về lĩnh vực đời sống tôn giáo cũng đã và đang đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới về tư duy, lý luận cũng như chính sách tôn giáo, phù hợp với những đòi hỏi ngày càng cao trong bối cảnh mở cửa hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay. 

Nghiên cứu Dự thảo Văn kiện Đại hội XI sắp tới của Đảng, trong lĩnh vực đường lối chính sách tôn giáo, chúng tôi có một số suy nghĩ và kiến nghị dưới đây: 

Thứ nhất, chúng ta đã thừa nhận tôn giáo còn là một thực tại xã hội, thậm chí nó có thể đồng hành với dân tộc và với CNXH. Tư duy lý luận của chúng ta phải tiến thêm một bước quan trọng khác, một luận đề có tính  “đột phá” khác là, để tôn giáo-“thực thể xã hội” ấy có thể thích ứng với CNXH phải tạo cho nó khả năng và quyền hạn pháp lý để vừa có thể tham gia tích cực hơn vào một số lĩnh vực xã hội thích hợp, đóng góp vào việc xây dựng phát triển đất nước vừa thoả mãn nhu cầu của bản thân các tôn giáo.  

Khi thừa nhận xu hướng “tôn giáo xã hội”, về mặt lý thuyết chúng ta đứng trước hai khả năng. Một mặt, các “tôn giáo xã hội” sẽ có điều kiện bộc lộ tích cực,  năng động hơn những khả năng của các cộng đồng tôn giáo với xã hội hiện nay. Mặt khác, Nhà nước lại đứng trước cục diện mới, trong đó khi các tôn giáo đã “hồi sinh” và phát triển thì tự nó tất yếu cũng sẽ trở thành “những đoàn thể áp lực” với Nhà nước. Điều này các nhà nghiên cứu xã hội học tôn giáo gần đây đã nói đến xu hướng “giải tục hóa” với ý nghĩa như vậy. 

Thứ hai, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa Nhà nước và các giáo hội.

Hiện nay, vấn đề then chốt để tiếp tục đổi mới về tôn giáo là phải đặt mối quan hệ này trong vấn đề Nhà nước pháp quyền, bình thường hoá và pháp trị. Càng làm tốt điều này, đời sống tôn giáo càng ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo... càng được xây dựng vững chắc. Hiện nay nhiều tôn giáo đã thể hiện sự đòi hỏi vị thế “một tôn giáo dân sự”, vì thế trong điều kiện xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền, cũng cần có cái nhìn mới mẻ thông thoáng hơn nữa trong quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức giáo hội. 

Ở Việt Nam hiện nay, trước khi nói đến một bộ luật về tôn giáo (Các văn bản của Bộ Chính trị khoá IX đã từng nói điều này) thì cấp thiết phải xây dựng Luật Pháp nhân tôn giáo. Kinh nghiệm cho thấy, khi lựa chọn mô hình một nhà nước thế tục, điều cấp thiết có tính hệ luận là Nhà nước phải có Luật Tư cách pháp nhân, nghĩa là luật công nhận các tổ chức tôn giáo và những định chế về quyền hạn và nghĩa vụ của chúng về phương diện pháp lý. 

Thứ ba, việc ổn định đời sống tôn giáo và tạo thêm điều kiện cho các tôn giáo cống hiến khả năng xây dựng, phát triển đất nước là không ngoài quy luật mà tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra: luôn luôn duy trì và phát triển xu hướng tôn giáo đồng hành với dân tộc và CNXH; đoàn kết dân tộc tôn giáo trước hết bằng mục tiêu chung, điểm tương đồng giữa lý tưởng tốt đẹp vốn có của các tôn giáo với CNXH; khai thác những giá trị tích cực của các tôn giáo trước hết là các giá trị văn hoá và đạo đức, đồng thời luôn cảnh giác với những âm mưu lợi dụng các tôn giáo vào mục đích chính trị phản dân tộc và CNXH... 

Thứ tư, trong sự đổi mới (tiếp tục) về chính sách tôn giáo, phải chăng chúng ta cần thực sự tính đến việc mở rộng hơn ba khu vực cơ bản mà các tổ chức tôn giáo có nhiều tiềm năng để tham gia:  

- Các hoạt động giáo dục - đào tạo với tư cách một chủ thể đầu tư, dĩ nhiên là trong khuôn khổ Luật Giáo dục của Nhà nước. Có thể với thực tiễn nước ta, sự “mở cửa” bước đầu này chỉ ở một phần của giáo dục phổ thông. 

- Các hoạt động y tế, đặc biệt là những “khu vực đặc biệt” (các bệnh viện chuyên biệt cho các bệnh nan y, nhà thương làm phúc, các cơ sở y tế khám chữa bệnh khác...) với tư cách là một chủ thể đầu tư. 

- Về hoạt động từ thiện, đây vốn là một mặt mạnh của các tổ chức tôn giáo, có thể mở rộng hoạt động này để mang lại hiệu quả nhiều mặt hơn. 

Sự mở rộng như vậy không chỉ đáp ứng nhu cầu các tổ chức tôn giáo mà còn hòa nhịp, thích ứng hơn đối với thông lệ quốc tế. 

Thứ năm, cùng với việc mở cửa hội nhập quốc tế, cùng với việc hệ thống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay ngày một mở rộng hơn, quan hệ quốc tế về tôn giáo cũng theo đó đặt ra nhiều vấn đề mới, trong đó có vấn đề sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài ở Việt Nam. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã giải quyết bước đầu vấn đề này. Tuy vậy chúng ta cần có cái nhìn rộng rãi, sâu sắc hơn về một “sự kiện tôn giáo” mới mẻ này để có những chính sách sát hợp hơn.

Về đầu trang


Cần có chiến lược về giai cấp công nhân 

Trong Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên  CNXH, (bổ sung, phát triển năm 2011) ở mục 12 nói về vai trò lãnh đạo của Ðảng: "Ðảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị... 

Ðảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo...' và trong Dự thảo Báo cáo Chính trị mục 5 nói về kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên: 'Kiện toàn tổ chức của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của đảng ở cơ sở'. Vậy ở những nơi có đông quần chúng (cụ thể là những doanh nghiệp có đông công nhân và người lao động), không có đảng viên, không có tổ chức cơ sở đảng, chưa có tổ chức công đoàn thì đảng lãnh đạo như thế nào?  

Ðây là vấn đề rất đáng quan tâm đối với Ðảng, là sự băn khoăn của nhiều đảng viên. Thực tế cho thấy hai vấn đề rất cần được xem xét đối với vai trò lãnh đạo của Ðảng trong các cơ sở doanh nghiệp.  

Một là, khi chuyển sang kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, vai trò điều hành và quyết định sự phát triển của doanh nghiệp thuộc quyền quyết định của hội đồng quản trị. Nếu tỷ lệ cổ phiếu của Nhà nước thấp, nếu các đảng viên trong cấp ủy không nắm giữ phần lớn cổ phần thì cấp ủy đảng trong doanh nghiệp chủ yếu lãnh đạo về công tác tư tưởng.  

Hai là, hiện đang có rất nhiều doanh nghiệp không có đảng viên, không có tổ chức cơ sở đảng. Vấn đề đặt ra là Ðảng lãnh đạo đội ngũ công nhân và người lao động, giai cấp tiên phong của Ðảng bằng cách nào, nếu ở đó không có các đoàn thể chính trị, không có công đoàn? Nếu tổ chức công đoàn không mạnh, không tuyên truyền, giáo dục thì làm sao đường lối chủ trương của Ðảng đến được công nhân và người lao động trong khi hàng loạt doanh nghiệp vẫn chưa có tổ chức công đoàn? Tại Báo cáo Chính trị mục 3, nói về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước 10 năm (2011- 2020) chỉ có một câu: 'Ðổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân'; nói về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mục 2: 'Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân, thực hiện dân chủ cơ sở, giám sát và phản biện xã hội; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước...'; trong khi đó thực tế, bộ máy tổ chức công đoàn đang bị thu hẹp nhưng lại phải gánh vác rất nhiều nhiệm vụ. Một quận, huyện, hay một ngành có tới hàng chục nghìn công nhân, viên chức và người lao động, hàng trăm công đoàn cơ sở nhưng chỉ vẻn vẹn từ ba đến bốn cán bộ công đoàn chuyên trách, phải đảm đương một khối lượng công việc đồ sộ; tại cơ sở, cả một bộ máy ban chấp hành nhưng hoạt động kiêm nhiệm và hầu hết là công nhân và người lao động trực tiếp, không có thời gian, không được trang bị phương tiện, hưởng lương sản xuất và chịu sự điều hành của chủ doanh nghiệp... Vì vậy, vấn đề truyền tải các thông tin của Ðảng đến công nhân và người lao động là công việc quá khó?  

Tôi đề nghị, dự thảo các văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng phải nêu rõ hơn nữa vai trò, trách nhiệm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn. Phải xác định rõ hơn nữa nội dung Ðảng lãnh đạo giai cấp công nhân thông qua tổ chức cơ sở đảng, thông qua tổ chức công đoàn. Ðảng ta cần sớm có Chiến lược về xây dựng và phát triển giai cấp công nhân thời kỳ CNH, HÐH đất nước.  

Nguyễn Văn Bính (Phường Hoàng Nghĩa, quận Dương Kinh, TP Hải Phòng)

Về đầu trang


Cộng đồng doanh nhân là nhân tố quan trọng phát triển nền kinh tế đất nước  

Tại Hội nghị doanh nhân toàn quốc với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với doanh nghiệp, doanh nhân; góp ý kiến vào các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI" diễn ra sáng ngày 9/10 tại Hà Nội do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, hầu hết đều nhất trí rằng: cộng đồng doanh nhân là một lực lượng quan trọng, góp phần phát triển nền kinh tế đất nước. 

PGS.TS. Vũ Văn Phúc, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI; PGS.TS. Phạm Hồng Chương, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đồng chủ trì Hội nghị. 

Trong nhiều năm qua, VCCI – tổ chức quy tụ của giới doanh nhân cả nước - đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm phát huy các quan điểm, đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam. Hội nghị doanh nhân toàn quốc lần này là một trong nhiều hoạt động tiếp nối đó.  

Thông qua Hội nghị lần này, VCCI muốn phát huy tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, thiết thực chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, chào mừng Ngày doanh nhân Việt Nam (13/10/2010), chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò dẫn đầu của đội ngũ doanh nhân trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế đất nước, nêu cao tinh thần trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân với xã hội; tăng cường sức mạnh liên kết cộng đồng doanh nhân trong tiến trình hội nhập và phát triển.  

45 tham luận của các học giả, các nhà nghiên cứu và các doanh nhân đã tập trung vào hai phần chính: Phần một"Chủ tịch Hồ Chí Minh với doanh nghiệp, doanh nhân" và phần thứ hai “Góp ý vào các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI”. 

Trong phát biểu khai mạc, TS. Vũ Tiến Lộc cho biết: Thực tiễn của quá trình đổi mới và hội nhập đã làm sáng tỏ tư tưởng của Bác Hồ về doanh nghiệp, doanh nhân.  

TS. Vũ Tiến Lộc cũng khẳng định: Sự nghiệp dân giàu, nước mạnh đòi hỏi phải xây dựng lực lượng xung kích hùng hậu là đội ngũ doanh nghiệp và doanh nhân có ý chí khao khát làm giàu cho mình và cho đất nước, có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đầu tư phát triển kinh doanh, có ý thức tôn trọng pháp luật, có tầm nhìn chiến lược và tư duy năng động, sáng tạo. 

Theo TS Lộc, mục tiêu phải đạt trong thời gian tới là xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có đủ năng lực, trình độ để lãnh đạo, điều hành hệ thống doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao, có tinh thần dân tộc, có trách nhiệm xã hội, liên kết chặt chẽ và tham gia tích cực vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, đóng vai trò quyết định trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phấn đấu đến năm 2020 tạo được bước chuyển về chất lượng và cơ cấu doanh nghiệp; tăng tỷ trọng các doanh nghiệp lớn và vừa,và có được một số doanh nghiệp đạt tầm cỡ khu vực và thế giới.  

Qua các phần trình bày của các đại biểu, hầu hết đều bày tỏ tin tưởng và hy vọng rằng, trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng sẽ mở ra một giai đoạn phát triển đột phá của đội ngũ doanh nhân trong sự nghiệp chống đói nghèo, làm giàu cho bản thân và cho đất nước. 

Kiến nghị những giải pháp thiết thực phát triển doanh nghiệp, doanh nhân trong dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng XI 

Theo Đại tá Phùng Danh Thắm, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Thái Sơn Group (Bộ Quốc Phòng), để xây dựng được những tên tuổi lớn trong tầng lớp doanh nhân và doanh nghiệp cần có quá trình với nhiều yếu tố khách quan và quá trình đó phụ thuộc nhiều vào cơ chế, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước về đường hướng phát triển doanh nghiệp doanh nhân trong thời kỳ mới. Do vậy, trong Dự thảo văn kiện đề cập đến lực lượng doanh nghiệp, doanh nhân cần nhấn mạnh vào mục tiêu xây dựng và phát triển tầng lớp doanh nhân. Trong đó, đáng chú ý là: thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của doanh nhân; khẳng định tiếng nói của doanh nghiệp trong tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ nhưng giản gọn, xóa bỏ những thủ tục bất hợp lý, phiền hà…, đẩy mạnh cải cách hành chính: quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, trách nhiệm của doanh nhân trên các mặt: trách nhiệm với người tiêu dùng, cộng đồng, người lao động, đối tác, nhà nước… đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, doanh nhân khẳng định thương hiệu và tên tuổi trên trường quốc tế và trở thành thương hiệu quốc gia. 

Ông Nguyễn Đại Lai, chuyên gia kinh tế đã chỉ ra: tại mục I, trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, phần đánh giá những mặt hạn chế, yếu kém còn quá kiệm lời. Do đó nên bổ sung thêm theo hướng cụ thể hóa những mặt yếu kém nhất đã nêu như: tăng trưởng kém chất lượng, văn hóa-xã hội còn bức xúc, môi trường nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề... Với những yếu kém mang tính vật cản lớn nhất như đã liệt kê trong Dự thảo, nên chỉ rõ nguyên nhân cụ thể từ thành phần kinh tế nào gây ra, từ trên xuống hay từ dưới lên. Cách diễn đạt trong Dự thảo đều bộc lộ một phương pháp nói định tính, chung chung kiểu văn phong nghị quyết, giao nhiệm vụ hơn là văn phong chiến lược kinh tế - xã hội.  

Ông Nguyễn Đại Lai đã phân tích: tình hình kinh tế Việt Nam sở dĩ còn lạc hậu như hiện nay sau gần 40 năm giải phóng và hơn 20 năm gia nhập kinh tế thị trường là ở chỗ phân biệt đối xử, sự không minh bạch và thiếu công bằng quá lâu đối với các chủ thể (thể nhân và pháp nhân) của nền kinh tế. Chính vì vậy, về quan điểm phát triển, trong văn kiện chính thức cũng nên nêu rõ việc giải bài toán về tạo môi trường công bằng, bình đẳng, nghiêm minh... chứ không phải bằng phân biệt, càng không nên phân biệt không tương xứng giữa các thành phần kinh tế do chính mô hình cũ đã tạo ra. Ông Lai khẳng định: “Một trong những nghịch lý là chúng ta luôn luôn hô hào về việc “coi khoa học – công nghệ là động lực”; “coi giáo dục – đào tạo là quốc sách”; “coi hiền tài là nguyên khí quốc gia”... Nhưng trên thực tế, cả 3 chủ trương rất đúng đắn nói trên chủ yếu còn nguyên là niềm mong ước, là “chủ trương” trong tư duy chứ chưa biểu hiện đáng kể trong hành động”. Chính vì vậy, ở tầm quốc gia, theo ông Lai, cần phải thành lập Quỹ phát triển khoa học – công nghệ (KH-CN) quốc gia để tạo cú hích và thường xuyên đỡ đầu cho các lực lượng nghiên cứu KH-CN phát triển, để ngày càng có nhiều nhà khoa học đầu đàn, nhiều tổng công trình sư tài năng, có uy tín và có khả năng làm cho nước ta sớm có đủ sức tiếp cận và sáng tạo công nghệ mới ở mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, đáp ứng cho chiến lược phát triển kinh tế đất nước thời kỳ hậu WTO; Ở cấp doanh nghiệp cũng cần được khuyến khích mở Quỹ phát triển KH-CN để khoa học, công nghệ đi được nhiều hơn vào cuộc sống.  

Trong khi đó, Luật gia Vũ Xuân Tiền, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam thì cho rằng Dự thảo Báo cáo chính trị là văn kiện rất toàn diện, được nghiên cứu công phu. Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, xã hội của đất nước được nêu trong Dự thảo là phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan, yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và thực trạng của nền kinh tế nước ta trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong Dự thảo vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm: một số nhận định còn quá chung chung, chưa đủ sức thuyết phục. Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, xã hội của nước ta trong 5 năm tới chưa được chứng minh với đầy đủ căn cứ khoa học. Dự thảo đã nêu ra khá nhiều lĩnh vực cần ưu tiên và tập trung phát triển, song chưa chỉ rõ, trong số những lĩnh vực đó, lĩnh vực nào, ngành nào là ưu tiên và tập trung hơn? Mục tiêu "Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" chưa có tư duy đột phá, vẫn đi theo lối mòn từ những thập kỷ trước… Theo luật gia Vũ Xuân Tiền, cần có nghị quyết về việc tập trung sức giải quyết, tháo gỡ ngay những "nút thắt" về an sinh xã hội; cần có nghị quyết về việc nâng cao phẩm chất, đạo đức và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; trong quản lý kinh tế, cần khắc phục ngay tình trạng thiếu nghiêm minh trong việc sử dụng vốn của Ngân sách nhà nước; thúc đẩy nhanh hơn nữa sự hình thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 

Những nội dung liên quan tới chính sách phát triển kinh tế, vấn đề thể chế và những chủ trương, giải pháp phát triển doanh nghiệp được đề cập chính yếu tại Hội nghị và phần lớn đều nêu lên nhiều giải pháp thiết thực góp ý vào văn kiện Đại hội Đảng sắp tới./.

Về đầu trang


Nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo Bến Tre góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI  

Ngày 7/10, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ban Tuyên giáo và Liên hiệp các hội khoa học- kỹ thuật tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến các nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo đóng góp vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng.  

Sau khi nghe ông Vũ Hồng Thanh, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bến Tre giới thiệu tóm tắt nội dung các Dự thảo văn kiện gồm: Cương lĩnh chính trị, Báo cáo chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 – 2020, các đại biểu bày tỏ nhất trí với các nội dung được nêu lên trong các Dự thảo văn kiện, đồng thời đóng góp nhiều ý kiến sát thực góp phần làm cho văn kiện được đầy đủ và phản ánh đúng thực tế.  

Liên quan đến Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bà Phạm Thị Tỏ, Giám đốc Công ty TNHH Đông Á, sản xuất, kinh doanh kẹo dừa mang nhãn hiệu "Bến Tre " kiến nghị: Trong Chiến lược cần thể hiện rõ hơn chính sách nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đủ sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.  

Đại biểu Thượng Huế Thanh, đại diện cho Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên cho rằng: Các văn kiện được chuẩn bị chu đáo và nhận được sự đồng thuận của đa số tín đồ cũng như đông đảo quần chúng nhân dân. Đại biểu bày tỏ đồng tình với các nội dung trong Dự thảo,  đồng thời đề cao những dự báo đầy đủ về các khó khăn và thuận lợi đối với đất nước trong thời kì mới...  

Đại biểu Lữ Minh Châu, đại diện Hội thánh Cao Đài Ban Chính đạo cho rằng: Cải cách giáo dục không chỉ đơn giản là nhấn mạnh chống gian lận, mà phải tính đến những giải pháp hướng tới cải cách chương trình, phương pháp giảng dạy để xứng tầm với vị thế mới của đất nước và đòi hỏi mới của thời kỳ hội nhập. 

Linh mục Khổng Đức Ý, Phó Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo tỉnh đề nghị: Cần nêu cụ thể các nội dung của “Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” là gì và kết hợp các nội dung này với Cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong việc giáo dục, xây dựng con người Việt Nam mới hiện nay…/. 

(Theo TTXVN)

Về đầu trang


Về chủ đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị 

1- Trước hết tôi đề xuất bổ sung vào chủ đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Ðại hội XI của Ðảng cụm từ "uy tín" sau cụm từ sức chiến đấu; các phần khác giữ nguyên và sẽ có toàn văn như sau: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín của Ðảng; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".

Ở mục X - Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Dự thảo Báo cáo Chính trị đề cập: 

1. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tôi đề nghị nói rõ hơn khái niệm 'Cán bộ, công chức thật sự là công bộc của nhân dân' phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta hiện nay. Cơ chế chính sách và điều kiện bảo đảm để cán bộ công chức thực hiện được sứ mạng cao cả đó. 

- Yêu cầu đổi mới công tác tổ chức và cán bộ theo hướng trọng dụng người hiền tài (đức, tài) nhất là đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ đầu đàn khoa học. Thực hiện nghiêm túc tin dùng, bồi dưỡng và phát huy. Kiên quyết đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái của một bộ phận cán bộ. 

2- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôi đề nghị viết lại câu thứ 2 cho phù hợp với Di chúc của Bác Hồ và như Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã đề cập tới. 

'Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc, dân chủ, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau... tăng cường đồng thuận xã hội'. 

Tôi đề nghị viết bổ sung vào nội dung phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc một mệnh đề sau đây: 'Ðồng thời, cán bộ Mặt trận phải ra sức học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ công tác chuyên môn và đổi mới phương thức hoạt động để đáp ứng công tác dân vận, mặt trận ngày càng hiệu quả và thiết thực hơn'. 

Nguyễn Tiến Võ: Ủy viên Ðoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam.

Về đầu trang


 Góp ý dự thảo các Văn kiện     

Góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 và Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X trình Đại hội XI, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng Hoàng Duy Đỉnh cho rằng đây là công trình lý luận và tổng kết thực tiễn được đầu tư công phu.  

Các báo cáo đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, vào các vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm. Đặc biệt, các báo cáo đã nêu rõ những tồn tại, yếu kém trong Đảng và phân tích được nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém đó. Việc đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho nhiệm kỳ tới và cả giai đoạn tiếp theo đã thể hiện rõ tầm chiến lược, tính cách mạng và sự đột phá, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và hội nhập quốc tế. 

Góp ý về Cương lĩnh xây dựng đất nước, (mục 4-trang 7) nêu: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là mục tiêu đã được xác định tại Đại hội VIII, nhưng trật tự các từ đã được thay đổi. Thuật ngữ “dân chủ” đã được đặt trên “công bằng”. Đây là một nhận thức mới phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Bởi lẽ, có dân chủ mới có công bằng. Tuy nhiên, theo ông Đỉnh, nếu tư duy theo logic đó thì nên xếp lại trật tự của cả đoạn văn diễn đạt đó là:… “dân chủ, công bằng, dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh”. Phân tích cho sáng tỏ thì có dân chủ, mới có công bằng; có dân chủ, công bằng, mới có dân giàu; có dân giàu mới có sức mạnh và tất cả những điều đó là nền tảng của một xã hội văn minh. 

Về vai trò lãnh đạo của Đảng, dự thảo Cương lĩnh (mục 12-trang 17) nêu: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị… Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo…”. Báo cáo Chính trị (mục 5 – trang 11) nói về kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên: “Kiện toàn tổ chức của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở”. Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng đặt câu hỏi: Vậy ở những nơi đông quần chúng (cụ thể là những doanh nghiệp đông công nhân lao động), không có đảng viên, không có tổ chức cơ sở đảng sẽ thế nào?  

Theo ông Hoàng Duy Đỉnh, đây là vấn đề đáng quan tâm của Đảng, là sự băn khoăn của nhiều đảng viên. Thực tế cho thấy hai vấn đề rất đáng phải xem xét đối với vai trò lãnh đạo của Đảng trong các cơ sở doanh nghiệp.  

Một là, khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, thực hiện đa dạng hóa thành phần kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước từng bước chuyển đổi sang cổ phần. Vai trò điều hành và quyết định sự phát triển của doanh nghiệp thuộc quyền quyết định của Hội đồng quản trị. Nếu tỷ lệ cổ phiếu của Nhà nước thấp, nếu các đảng viên trong cấp ủy không nắm giữ phần lớn cổ phần, cấp ủy đảng trong doanh nghiệp chủ yếu lãnh đạo về công tác tư tưởng thì có hiệu quả không? 

Hai là, hiện đang có rất nhiều doanh nghiệp không có đảng viên, không có tổ chức cơ sở đảng. Vấn đề đặt ra là Đảng lãnh đạo đội ngũ công nhân lao động, giai cấp tiên phong của Đảng bằng các nào nếu ở đó không có đoàn thể chính trị, không có Công đoàn. Nếu tổ chức Công đoàn không mạnh, không tuyên truyền, giáo dục thì làm sao tư tưởng của Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng đến được với công nhân lao động?.  

Trong khi hàng loạt doanh nghiệp vẫn chưa có tổ chức Công đoàn, dự thảo Báo cáo chính trị (mục 3 – trang 73) chỉ nêu: “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân”. Nói về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc (mục 2 – trang 103): “MTTQ và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân, thực hiện dân chủ cơ sở, giám sát và phản biện xã hội; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước…”. Trong khi đó, thực tế, bộ máy tổ chức công đoàn đang bị thu hẹp và công việc lại phình ra với rất nhiều nhiệm vụ. Một quận, huyện hay một ngành có tới vài chục nghìn công nhân viên chức lao động, hàng trăm công đoàn cơ sở nhưng chỉ có 3- 4 cán bộ công đoàn chuyên trách, phải đảm đương một khối lượng công việc đồ sộ. Tại cơ sở, cả một bộ máy ban chấp hành nhưng hoạt động kiêm nhiệm và hầu hết là công nhân lao động trực tiếp, không có thời gian, không được trang bị phương tiện, hưởng lương sản xuất và chịu sự điều hành của chủ doanh nghiệp…  

Trước thực tế trên, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng Hoàng Duy Đỉnh đề nghị: Các văn kiện phải nêu rõ hơn về giai cấp công nhân và công đoàn, đặc biệt phải rõ nội dung Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân, đội quân cách mạng của mình thông qua tổ chức cơ sở đảng và các đoàn thể nhân dân, mà cụ thể là tổ chức công đoàn. Cần phải có chiến lược về giai cấp công nhân, trong đó quan tâm đặc biệt đến giáo dục đạo đức, lý tưởng, và phát triển đảng viên trong công nhân lao động./.  

Trung Anh (lược ghi)  

Về đầu trang


MTTQ Thành phố Hà Nội góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng  

Ngày 14/10, Ủy ban MTTQ Thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị đóng góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Góp ý tại Hội nghị, các đại biểu đánh giá cao và hoan nghênh Trung ương chuẩn bị Dự thảo các văn kiện hết sức nghiêm túc và công phu.

Hầu hết các ý kiến đều thống nhất những nội dung cơ bản thể hiện trong Dự thảo các văn kiện. Các đại biểu cũng thẳng thắn nêu ra những nội dung cần được làm rõ, cần được quan tâm xem xét một cách thấu đáo và tiếp thu nghiêm túc để bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện của Đại hội XI; Nêu lên những bất cập, những bức xúc đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.  

Những vấn đề được các đại biểu quan tâm góp ý nhiều là Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011 – 2020, công tác xây dựng Đảng, vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên… 

Góp ý vào nội dung “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” trong phần Báo cáo chính trị, đại biểu Phạm Lợi, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cho rằng: Năm năm qua, hoạt động của MTTQ, các đoàn thể nhân dân đã có những cố gắng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vận động phong trào nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Tuy nhiên, nhiều nội dung của công tác Mặt trận và các đoàn thể nhân dân mà Đại hội X đề ra thực hiện chưa có hiệu quả như: Cơ chế giám sát, phản biện xã hội, thực hiện Luật MTTQ Việt Nam, quy chế dân chủ ở cơ sở. Vì vậy, trong Dự thảo báo cáo lần này nên phân tích kỹ nguyên nhân để có hướng đi đúng đắn trong việc chỉ đạo, thực hiện những nghị quyết mà Đảng đã đề ra. 

Góp ý về công tác xây dựng Đảng, đại biểu Phạm Lợi cho rằng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là chủ đề, nội dung quan trọng. Dự thảo báo cáo đã đánh giá những kết quả, hạn chế của công tác xây dựng Đảng, nhưng chưa đánh giá khái quát yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng như thế nào. Theo ông Lợi, 5 năm qua, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới.  

PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ, Ban Tư vấn Văn hóa-xã hội Ủy ban MTTQ thành phố Hà Nội khẳng định: Những hạn chế, khuyết điểm nêu trong Báo cáo chính trị là đúng mức. Tuy nhiên, trong việc kiểm điểm cần chỉ rõ những yếu kém được đề cập ở nhiều đại hội mà vẫn chưa khắc phục được, trong đó, có những yếu kém, khuyết điểm có chiều hướng ngày càng gia tăng nghiêm trọng, phức tạp hơn như: Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, huân chương chưa được ngăn chặn đẩy lùi, thì nay lại phát triển thêm chạy dự án, chạy chính sách... Có những vấn đề Nghị quyết Đại hội đã đề ra, tại sao cả nhiệm kỳ chưa thực hiện được. Ví dụ như: Quy định để thực hiện phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức thành viên... 

Góp ý về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020, GT.TS Vũ Hoan, Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội cho rằng: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020 đã được soạn thảo hoàn chỉnh, sâu sắc và đầy đủ. Tuy nhiên, nên trình bày cụ thể hơn mối quan hệ phát triển kinh tế với an ninh chính trị và quốc phòng, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, đặc biệt những vùng trọng điểm về an ninh quốc gia như: Tây Nguyên, biển Đông và các tỉnh biên giới. Ở bài học thứ hai trang 23, cần nhấn mạnh: Sử dụng tiết kiệm hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đảm bảo cho phát triển trước mắt và lâu dài. Hiện nay, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, dân số ngày càng tăng, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, do đó, nên bổ sung thêm nội dung: “Đặc biệt coi trọng chất lượng hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển; Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết hài hòa giữa tốc độ với chất lượng tăng trưởng, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, nước, đảm bảo cho phát triển trước mắt và lâu dài”…  

 Đại biểu Vũ Thành Vĩnh, Chủ tịch MTTQ quận Hoàn Kiếm đồng tình với tồn tại nêu tại mục 4 (trang 48) Dự thảo Báo cáo Chính trị: “Dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ”. Ông Vĩnh đề nghị: Trong báo cáo cần kiểm điểm sâu sắc hơn để thấy rõ những khó khăn, khuyết điểm và hạn chế đang tác động bất lợi đến quá trình củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là vấn đề được đảng viên và nhân dân đặc biệt quan tâm và có nhiều ý kiến.   

Hiện đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân tuy có bước cải thiện nhưng một bộ phận không nhỏ vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là người có thu nhập thấp, đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa. Giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng cao. Sự chệnh lệch giàu nghèo trong xã hội ngày càng cách biệt. Những vấn đề về việc làm, thu nhập, quản lý đất đai, điều kiện học hành… đang là những băn khoăn, lo lắng của nhiều người dân.

Những khó khăn và tồn tại nêu trên nếu kéo dài, không những gây cản trở  công cuộc đổi mới, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng mà còn để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ông Vĩnh nhấn mạnh: Nhân dân mong rằng trong Báo cáo Chính trị của Đảng và tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cần kiểm điểm rõ và thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ hơn… Cần phải khẳng định “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, đó vừa là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, vừa là động lực to lớn quyết định thành công của cách mạng nước ta”./.

 

Thu Hà 

Về đầu trang


Góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng: Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc  

“Dự thảo các văn kiện được chuẩn bị nghiêm túc, công phu, thể hiện tính chiến đấu, sự quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” là nhận xét của Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế Trần Phùng về Dự thảo các văn kiện Đại hội XI của Đảng. Sau đây là một số ý kiến của ông.  

Nội dung các dự thảo báo cáo cơ bản đầy đủ, toàn diện, có nhiều quan điểm mới, thể hiện tinh thần đổi mới và tính khoa học của Trung ương Đảng; bố cục các dự thảo khá chặt chẽ, hành văn gọn gàng, súc tích; việc lấy ý kiến tham gia dự thảo các văn kiện đã tạo nên đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân.  

Cương lĩnh đã nêu bật được những thắng lợi vĩ đại của Đảng ta, nhân dân ta trong 80 năm qua. Những thắng lợi vĩ đại đó đã chứng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình cách mạng đi lên chủ nghĩa xã hội là sáng suốt, đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đang đặt ra; là động lực to lớn động viên đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hăng say góp sức vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước.  

Đề nghị Trung ương đánh giá thêm về “4 nguy cơ” mà Đảng ta đã xác định trước đây. Hiện nay, 4 nguy cơ đó có còn hay không và ở mức độ nào, trên cơ sở đó có những chủ trương, những định hướng lãnh đạo, chỉ đạo trong giai đoạn mới. Đề nghị chỉnh sửa, bổ sung cụm từ “và giương cao” vào bài học thứ nhất để hoàn chỉnh lại là: “Nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...”; bổ sung cụm từ “dân tộc” vào bài học thứ năm để thành câu: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và dân tộc…” nhằm nhấn mạnh thêm mức độ đánh giá và phù hợp với dự thảo sửa đổi.  

Bày tỏ nhất trí cao với quan điểm của Đảng: “Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,…” việc đưa cụm từ “dân chủ” lên trước “công bằng” không đơn thuần là thay đổi vị trí các cụm từ mà đó là sự đổi mới nhận thức của Đảng ta qua thực tiễn 20 năm thực hiện Chiến lược. Điều đó luôn khẳng định: dân chủ là nền tảng của xã hội. Chính xã hội thật sự có dân chủ, khi đó mới có công bằng, mới phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp. Như vậy mới phù hợp với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Đề nghị Trung ương quan tâm hơn nữa chính sách phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế - xã hội ở các vùng tái định cư, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng cần có những chủ trương, giải pháp linh động để đảm bảo an ninh trên biển, trong đó kết hợp đầu tư phương tiện, khí tài hiện đại, xây dựng lực lượng hải quân vững mạnh gắn với công tác tuyên truyền và triển khai chiến lược ngoại giao đúng đắn, nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.Đối với công tác xây dựng Đảng, các quan điểm được đề cập trong Cương lĩnh đã thể hiện rõ bản chất và tính ưu việt của Đảng ta và Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đó là chế độ mà dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, là Nhà nước của nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân; đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.  

Bố cục Chiến lược cần chia thành 2 thời kỳ cụ thể để phấn đấu trong tổ chức thực hiện và đánh giá, rút kinh nghiệm. Thời kỳ đầu trong khoản 2011 – 2015, để khắc phục xong điểm nghẽn về thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng; thời kỳ sau là thời kỳ phát triển năng động mới của giai đoạn phát triển mới, hoàn thành mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.  

Mục tiêu tổng quát ngắn gọn, súc tích, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Hiện nay, ngoài xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng ở các vùng đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn đến đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, Tây Bắc để tạo sự phát triển hài hòa, giao thương giữa các vùng, miền, bảo đảm an sinh xã hội.  

Nhất trí với đánh giá của Báo cáo chính trị về thành tựu cũng như yếu kém, khuyết điểm của nhiệm kỳ qua và cho rằng, Cuộc vận động “Học tập và làn theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa sâu sắc và rộng lớn, tạo những chuyển biến rõ nét về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân,. Tuy nhiên, có lúc, có nơi, việc triển khai và tổ chức thực hiện Cuộc vận động chưa đều, chưa tạo ra phong trào rộng lớn; ông đề nghị Trung ương nghiên cứu xây dựng những giải pháp thiết thực để tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn nữa Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian tới.  

Về tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa; phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm (2011 – 2015), đề nghị đưa nhiệm vụ thứ tư về “tiếp tục phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc…” lên hàng đầu,. Vì thực tế đã chứng minh rằng trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có nhiều lúc đất nước gặp khó khăn, nguy nan nhưng với việc phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà chúng ta đã vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của Tổ quốc, dân tộc giao phó. Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, tạo điều kiện để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.  

Về thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển, ông Phùng nhất trí với dự thảo Báo cáo và cho rằng, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội luôn là tiền đề và tạo điều kiện cho nhau. Tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội và ngược lại, thực hiện tốt công bằng xã hội sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo ông, trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện phát triển về mọi mặt giữa các vùng, miền, nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số, do đó trong những năm tới cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác này…/.  

Theo TTXVN

Về đầu trang


Nhiều đảng viên thuộc Đảng bộ tỉnh Phú Yên đóng góp ý kiến vào Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội  

Đóng góp vào Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), hầu hết ý kiến của đảng viên Đảng bộ tỉnh Phú Yên đều nhất trí với nội dung, nhất là những phương hướng cơ bản để tạo tiền đề vững chắc, thực hiện thành công các mục tiêu Cương lĩnh đề ra.  

Nhiều ý kiến đề nghị cần bổ sung thêm những ý để nêu bật tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với chế độ xã hội khác. Qua đó tạo niềm tin trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.  

Một số ý kiến đề nghị đưa bài học thứ 5 “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam” lên vị trí thứ nhất. Đồng thời trong nội dung phần “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có những có những biến đổi to lớn và sâu sắc” cần phải bổ sung các cụm từ “cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế” và “biển đảo” nhằm khẳng định chủ quyền vùng biển của nước ta. Do đó, nội dung câu được sửa lại là ”… tranh chấp lãnh thổ, biển đảo và tài nguyên tiếp tục diễn ra phức tạp, cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế”.  

Trong phần những định hướng lớn về phát triển kinh tế, nhiều ý kiến đảng viên kiến nghị nội dung cần chú trọng vào hai vấn đề lớn. Một là cần đánh giá công tác quy hoạch, cơ cấu các vùng kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm ở các địa phương chưa phù hợp. Một trong những nguyên nhân là thiếu sự tham gia đồng bộ của các cơ quan, ban ngành Trung ương có liên quan, làm thiếu sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, dẫn đến hiệu quả thấp. Do vậy, cần coi trọng việc nghiên cứu quy hoạch các vùng miền kinh tế, khu công nghiệp nhằm đảm bảo tính thống nhất theo yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước, gắn với bảo vệ môi trường và đem lại hiệu quả cao nhất.  

Hai là về tiếp tục phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, định hướng này rất đúng đắn. Tuy nhiên, Cương lĩnh cần thể hiện rõ hơn về vướng mắc trong thực tế, đó là trong công tác quản lý Nhà nước phải sớm xây dựng hệ thống phát luật để đảm bảo giải quyết tốt các vấn đề tranh chấp giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt về kinh tế hỗn hợp có thành phần nước ngoài tham gia, phải phù hợp với thông lệ, luật pháp quốc tế nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các thành phần tham gia.  

Trong điểm 5 về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều ý kiến cần đánh giá kỹ hơn về thành phần kinh tế tập thể. Trên thực tế những năm qua, Đảng và Chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, nhiều chính sách để thúc đẩy sự phát triển đối với thành phần này nhưng chưa thực hiện được nhiều. Do đó, cần thiết phải bổ sung câu: Nhà nước có chính sách hỗ trợ thành phần kinh tế tập thể phát triển, nhất là vùng sâu, vùng xa.  

Tiếp sau cụm từ “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm”, cần bổ sung thêm cụm từ “Phát triển kinh tế gắn chặt với sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững”.  

Trong phần IV về nội dung Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, một số ý kiến kiến nghị bổ sung nội dung “ Xây dựng nhà nước phải gọn nhẹ về đầu mối, tránh chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, gây lãng phí, hạn chế thay đổi tổ chức. Thời gian qua việc tách nhập, thành lập mới….diễn ra nhiều, gây xáo trộn, tốn kém, hiệu quả không cao. Bảo đảm chế độ tiền lương và các chính sách khác cho cán bộ, công chức; đặc biệt là cấp cơ sở, mặt khác thu hút người tài,người có học vị cao vào làm việc trong các cơ quan Nhà nước” ./.  

(Theo TTXVN)

Về đầu trang


Để thực sự dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra  

Góp ý vào các Dự thảo văn kiện trình Đại hội XI, ông Phạm Lợi, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Thành phố Hà Nội cho rằng, các Dự thảo văn kiện trình Đại hội đã được chuẩn bị kỹ, nêu nhiều nội dung quan trọng. Ông cũng thẳng thắn góp ý vấn đề phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQ.  

Về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ông Lợi cho rằng, trong mục 4, trang 57 có nêu: Dân chủ XHCN có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng cao. Tuy nhiên nội dung cụ thể phần này chưa bao hàm được nhận định nói trên, chưa bám sát Nghị quyết Đại hội X. 

Ông Lợi nhấn mạnh: Trong 5 năm qua kể từ khi Đại hội X diễn ra, Đảng, Nhà nước đưa ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhưng chỉ đạo thực hiện còn nhiều hạn chế nên nhiều nội dung mà Đại hội X đề ra hoạt động ít hiệu quả, nhiều cán bộ đảng viên chưa thật sự là công bộc của dân, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, đảng viên thoái hóa, biến chất làm ảnh hưởng xấu đến hình tượng đội ngũ của Đảng.  

Việc xác định các hình thức tổ chức, cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ còn chậm được đổi mới, phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra chưa thực sự đạt hiệu quả. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn mờ nhạt, những hiện tượng thiếu tôn trọng dân, sách nhiễu dân còn xuất hiện ở nhiều nơi. Riêng đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện còn tiềm ẩn những yếu tố thiếu vững chắc, người dân còn nhiều băn khoăn lo lắng về: việc làm, học hành, chữa bệnh...; khoảng cách giàu nghèo, nạn tham nhũng, tiêu cực, "nói" không đi đôi với "làm" trong hàng ngũ của Đảng vẫn còn diễn ra...  

Góp ý về công tác MTTQ và các đoàn thể nhân dân, ông Lợi khẳng định: Đại hội X đề ra vai trò quan trọng của MTTQ và các đoàn thể. Nhà nước ban hành cơ chế để MTTQ và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội. Cấp ủy, chính quyền đối thoại, lắng nghe ý kiến mặt trận, đoàn thể, nhân dân… Hoạt động MTTQ, các đoàn thể có cố gắng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vận động phong trào trong nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền… Nhưng nhiều nội dung của công tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân mà Đại hội X đề ra chưa thực hiện có hiệu quả…  

Ông Lợi đề nghị báo cáo trình Đại hội XI cần làm rõ vấn đề nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát huy dân chủ XHCN, về tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng, hoàn thiện cơ chế để nhân dân thực sự phát huy quyền làm chủ, thực sự thực hiện "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; quy định chế độ đối thoại với nhân dân của cán bộ lãnh đạo. Ngoài ra phải khẳng định việc phát huy dân chủ, tăng cường giám sát, phản biện xã hội là chức năng, nhiệm vụ quan trọng của MTTQ trong tình hình mới, là hướng đổi mới công tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân… 

Góp ý về công tác xây dựng Đảng, ông Phạm Lợi cho rằng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là chủ đề, nội dung quan trọng. Dự thảo báo cáo đã đánh giá những kết quả, hạn chế của công tác xây dựng Đảng, nhưng chưa đánh giá khái quát yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng như thế nào. Theo ông Lợi, 5 năm qua, công tác xây dựng Đảng được quan tâm chỉ đạo, làm nhiều việc, có hiệu quả nhất định nhưng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới. Vai trò tiên phong, gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Những biểu hiện cơ hội, cá nhân chủ nghĩa còn nhiều. Đại hội X nói nhiều đến việc chúng ta phải đấu tranh để chống lại 4 cái chạy: chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp nhưng trải qua 5 năm, những hoạt động này không giảm, tình trạng “tiến sỹ giấy” còn diễn ra khá phổ biến. 

Ông Phạm Lợi đề nghị, trước khi đi vào 8 nhiệm vụ, giải pháp nên xác định lại yêu cầu, mục tiêu của công tác xây dựng Đảng trong 5 năm tới đến đâu để làm căn cứ phấn đấu thực hiện và đánh giá kiểm điểm. Cần xác định nội dung “xây”, “chống” trong công tác chính trị, tư tưởng. Trong khi nhấn mạnh củng cố tổ chức cơ sở đảng cần coi trọng việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp trên cơ sở. Bên cạnh đó cần nghiên cứu, chỉ đạo 3 vấn đề bức xúc trong công tác tư tưởng: cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thể hiện tính lãnh đạo, chiến đấu của Đảng; đánh giá thực chất chất lượng đảng viên, chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên sinh hoạt hai chiều ở địa phương. 

Theo Thu Hà - ĐCSVN

Về đầu trang


Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam góp ý các Dự thảo Văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng 

Ngày 23-10, tại Hà Nội,  Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam  tổ chức Hội nghị  góp ý kiến vào các Dự thảo Văn kiện  Ðại hội  Ðảng toàn quốc lần thứ XI của Ðảng. Ðồng chí Nguyễn Thị Thanh Hòa, Ủy viên T.Ư Ðảng, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam chủ trì hội nghị. 

Theo đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hòa, đây là đợt sinh hoạt chính trị có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần hiến kế xây dựng Ðảng, xây dựng đất nước, tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Ðảng, sự đồng thuận trong xã hội, quyết tâm thực hiện mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tới. Ðồng thời, giúp Hội xác định  tư tưởng, nguyện vọng, ý kiến của cán bộ, đảng viên, hội viên phụ nữ; từ đó tham mưu bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên, hội viên phụ nữ trong tham gia xây dựng Ðảng, xây dựng đất nước. 

Hội nghị đã nghe PGS, TS Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận T.Ư báo cáo về quá trình chuẩn bị và những vấn đề trọng tâm trong các dự thảo văn kiện BCH Trung ương (Khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng.   

Với tinh thần trách nhiệm, công khai, dân chủ, hội nghị tập trung thảo luận các nội dung trọng tâm được hướng dẫn, gồm: Chủ đề Ðại hội, dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011); Dự thảo Báo cáo chính trị; Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011-2020). Ðặc biệt là những nội dung liên quan tới hoạt động của Hội LHPN; các nội dung liên quan tới phụ nữ, gia đình và các vấn đề văn hóa, xã hội. Cụ thể là vấn đề thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ, xóa đói, giảm nghèo, định hướng phát triển cán bộ nữ, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc... 

Các đại biểu đã đánh giá cao việc chuẩn bị các Dự thảo Văn kiện công phu, chu đáo, nghiêm túc, thể hiện sâu sắc lý luận, thực tiễn và được công bố để lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Phần lớn các ý kiến đều nhất trí những nội dung cơ bản thể hiện trong các Dự thảo Văn kiện. Các đại biểu cũng thẳng thắn nêu ra những nội dung cần làm rõ, cần được quan tâm xem xét và tiếp thu nghiêm túc về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội để bổ sung hoàn thiện các Dự thảo Văn kiện của Ðại hội XI; đồng thời nêu lên những bất cập, những bức xúc đòi hỏi Ðảng và Nhà nước phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quản lý. Các đại biểu đánh giá cao và nhất trí với  đánh giá những thắng lợi của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cho rằng, mục tiêu và định hướng cơ bản của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là hướng đi lên vững chắc; đề nghị cần cụ thể hơn nữa trong các mục tiêu cần hướng tới. 

Góp ý kiến vào các vấn đề cụ thể, các đại biểu cho rằng, trong Cương lĩnh, mục 'Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Ðảng' phần 'MTTQ Việt Nam, các đoàn thể nhân dân' sau cụm từ 'thắt chặt mối liên hệ giữa Ðảng, Nhà nước với nhân dân', nên thêm cụm từ 'góp phần tạo ra sự đồng thuận xã hội và sự đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng'. Có vậy mới thể hiện đầy đủ ý nghĩa của việc thực hiện chức năng đại diện của MTTQ và các đoàn thể nhân dân thông qua hoạt động giám sát, phản biện. Làm tốt vai trò giám sát, phản biện không chỉ góp phần bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách, mà quan trọng hơn là giúp cho nhân  dân hiểu rõ, từ đó có sự đồng thuận, đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Tiếp đó, ở phần 'Các đoàn thể nhân dân' có đoạn: 'Ðảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của mặt trận và các đoàn thể...' các đại biểu đề nghị nên thay cụm từ 'chân thành' bằng 'nghiêm túc' lắng nghe ý kiến của MTTQ, các đoàn thể nhân dân.              

Liên quan tới phụ nữ và bình đẳng giới, các đại biểu cho rằng, với cách thể hiện như hiện nay, vai trò của phụ nữ còn bị động và thụ động. Ðặt ra vấn đề 'nâng cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình và nuôi dạy con' có thể làm tăng thêm gánh nặng và sự bất bình đẳng giới, mất đi cơ hội phấn đấu đối với người phụ nữ, bởi đây là trách nhiệm không chỉ của phụ nữ mà của cả nam giới và sự chia sẻ của cả cộng đồng (thí dụ chính sách, hệ thống phúc lợi xã hội...) để giúp phụ nữ thực hiện thiên chức của mình. Các đại biểu đề xuất, nên đặt ra yêu cầu 'bảo đảm  bình đẳng giới' trong mọi lĩnh vực, bình đẳng không chỉ là tạo điều kiện mà còn phải tạo ra cơ hội cho phụ nữ, chỉ rõ những điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển của phụ nữ. Cần nâng cao nhận thức về giới và ý thức trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, nhất là ban hành các chính sách đặc thù bảo đảm  cho sự phát triển của phụ nữ, bảo đảm các điều kiện để phụ nữ tham gia quản lý xã hội. Nhiều ý kiến đồng tình, chỉ xác định 'thực hiện bình đẳng giới và hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ' là chưa đầy đủ, thiếu quyết liệt, mạnh mẽ, cần nêu rõ việc 'bảo đảm' hoặc 'thực hiện tốt bình đẳng giới', tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ. Có ý kiến đề nghị đưa chỉ số khoảng cách giới vào Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội. Vấn đề quy hoạch và tạo nguồn cán bộ cũng cần nêu được một nội dung quan trọng là việc bố trí vị trí thích hợp phù hợp với khả năng của phụ nữ. Bên cạnh đó, quy hoạch cần đi cùng với việc sửa đổi chính sách, pháp luật liên quan.  Trong đó, chú trọng nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ, đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe, vai trò địa vị của phụ nữ trong việc xây dựng gia đình và nuôi dạy con; hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chính sách luật pháp đối với phụ nữ. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia xây dựng gia đình theo bốn tiêu chí: 'No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc'. Kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng và hành vi phân biệt đối xử, xúc phạm thân thể và nhân phẩm của phụ nữ, bảo đảm các điều kiện để phụ nữ tham gia nhiều hơn trong quản lý, lãnh đạo, phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới. Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản và các chế độ, chính sách khác đối với lao động nữ. Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ trẻ em... Xây dựng và triển khai chiến lược quốc gia về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳng cao; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán phụ nữ và bạo lực trong gia đình; tạo điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu công việc và làm tốt công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, cán bộ nữ, dân tộc thiểu số. 

Cũng trong phần 'Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc' đoạn nói về phụ nữ: 'Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất tinh thần của phụ nữ và vai trò của phụ nữ...' các đại biểu đề nghị nên diễn đạt như sau: 'Phát huy vai trò, tiềm năng, sức sáng tạo của phụ nữ trong việc đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống vật chất tinh thần, sức khỏe và địa vị của phụ nữ. Nghiên cứu bổ sung, thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với phụ nữ. Kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng, hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ, ngăn chặn các hành vi bạo lực buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ. Bảo đảm các điều kiện để phụ nữ tham gia trong quản lý lãnh đạo phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới'. 

Ðối với vấn đề gia đình, các đại biểu nêu ý kiến cần làm rõ tiêu chí gia đình Việt Nam. Nhiều ý kiến cho rằng, vấn đề gia đình cần được thể hiện độc lập, rõ ràng hơn trong dự thảo, không nên gắn chung vào với các vấn đề khác để nhìn nhận rõ hơn vai trò, vị trí, tạo điều kiện để mỗi gia đình Việt Nam đóng góp vào việc phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đất nước. Gia đình cần được kết cấu thành một chủ đề riêng với bốn mối liên quan về kinh tế, xã hội, văn hóa, con người. Một trong những vấn đề nhức nhối mà chúng ta đang phải đối mặt là giữ gìn sự bền vững và hạnh phúc của mỗi gia đình. Nếu không giữ được sự phát triển đúng hướng, bền vững của gia đình, sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước cũng bị ảnh hưởng. Do đó, cần quan tâm xây dựng nếp sống văn hóa và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của gia đình; thực hiện bình đẳng giới; phòng, chống bạo lực và ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình. Như vậy, nên  xây dựng gia đình với cả bốn tiêu chí: 'No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc' để gia đình thật sự là một tế bào lành mạnh của xã hội. Tại mục 6: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, các đại biểu đề nghị viết thêm một đoạn về gia đình: '...nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của gia đình. Tăng cường quản lý nhà nước về gia đình, quan tâm xây dựng nếp sống văn hóa và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của gia đình, thực hiện bình đẳng giới; phòng, chống bạo lực và ngăn chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình, xây dựng gia đình Việt Nam 'No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc', để gia đình  thật sự là một tế bào lành mạnh của  xã hội.  

PV

Về đầu trang


Chủ nghĩa xã hội mục tiêu thiêng liêng của cả dân tộc

1. Chủ nghĩa xã hội - ước mơ của nhân loại

Nguyện vọng được sống trong một xã hội công bằng, bác ái, đầy đủ về vật chất, văn minh về tinh thần, con người được phát triển tự do và toàn diện, được sống thuận hòa trong một cộng đồng tương thân tương ái… là nguyện vọng tự nhiên, chính đáng của loài người, đã thể hiện từ rất lâu dưới nhiều hình thức tư tưởng phong phú. Từ công xã nguyên thủy với trình độ rất thấp, trải qua quá trình phát triển của lịch sử, cùng với những thành tựu trong chinh phục tự nhiên, năng suất lao động tăng lên, của cải thặng dư dồi dào, chế độ tư hữu, phân hóa giai cấp, áp bức bóc lột xuất hiện. Cũng từ đó những tư tưởng xã hội chủ nghĩa phát sinh và phát triển với nhiều khái niệm, lúc đầu còn mơ hồ, thể hiện ước vọng, cầu mong. Song dù ở dạng nào thì những tư tưởng đó đều thể hiện sự phản kháng đối với chế độ bất công đương thời, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn.

Do điều kiện khác nhau mà chế độ tư hữu có sự phát triển khác nhau trong mỗi nước, nên sự phản ánh tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở từng dân tộc có bản sắc riêng, cho dù có những ước mơ chung. Nếu ở phương Đông con người ước mơ và ca ngợi Nghiêu Thuấn, thì ở phương Tây người ta lại ước mơ về Pax Domara.

Trong giáo lý của các tôn giáo, các trường phái giáo lý trên thế giới, người ta cũng tìm thấy tư tưởng xã hội chủ nghĩa dạng giản đơn. Trong đó có Thiên đàng, “giang sơn ngàn năm của Chúa” trong thánh kinh của đạo Cơ đốc, có cõi cực lạc trong đạo Phật, và những ước mơ tương tự trong đạo Hồi, trong Nho giáo.

Ngay từ giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, đầu thế kỷ 17, ở một số nước châu Âu đã xuất hiện chủ nghĩa xã hội không tưởng, càng thể hiện ước muốn về một trật tự xã hội mới - một xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn xã hội đương thời. Mác và Ănghen đã ca ngợi những tư tưởng tiến bộ đó và đã kế thừa một cách trân trọng để nghiên cứu học thuyết của các ông sau này.

Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời ở châu Âu, nơi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh nhất, và chủ nghĩa xã hội hiện thực cũng xuất hiện ở đây sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917). Sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thế giới đầy biến động hơn ¾ thế kỷ cùng với thành quả giải phóng dân tộc trên thế giới chứng tỏ sức sống của lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu được coi là thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực và có nguyên nhân cụ thể, trực tiếp của nó. Nhân dân những nước này không vì thế mà từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa tốt đẹp của mình, mặc dù họ không chấp nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực đã từng tồn tại với nhiều khuyết tật.

2. Chủ nghĩa xã hội - một tất yếu lịch sử của Việt Nam

Ước mơ lâu đời của dân tộc ta là được sống trong một đất nước thanh bình, hạnh phúc, trong độc lập, tự do. Hình thành từ rất sớm, quốc gia và dân tộc Việt Nam gồm nhiều tộc người, gắn bó với nhau, chung một số phận trong chinh phục thiên nhiên, xây dựng non sông, giữ yên bờ cõi. Cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch họa để sinh tồn đã hun đúc nên tinh thần bất khuất, giành độc lập tự chủ, tình nghĩa đồng bào sâu sắc, lòng bao dung nhân ái.

Quá trình phát triển lịch sử ở nước ta tất nhiên dẫn đến phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột. Nhưng cuộc di dân khai khẩn đất đai và đấu tranh chống ngoại xâm là hai yếu tố lịch sử rất quan trọng tác động làm giảm mức độ gay gắt và tàn bạo của sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam. Quá trình di dân khai khẩn đất đai từ Bắc vào Nam là quá trình thể hiện ý thức cộng đồng, tình làng nghĩa xóm, thâu thái và quy tụ những nhóm dân cư cũ và mới. Do đó đã nêu cao tính đấu tranh chống bất công, giành tự do, hạn chế sự phân hóa giai cấp và mức độ khắc nghiệt của chính sách cường quyền của những thế lực cai trị.

Đại đoàn kết dân tộc đã tạo nên sức mạnh vô địch, trở thành truyền thống chống sự xâm lược và ách thống trị của ngoại bang, là quy luật tồn tại của dân tộc Việt Nam. Do đặc điểm lịch sử, ở nước ta không xuất hiện những bạo chúa kiểu Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên… tuy vẫn có những vua quan tham nhũng, trụy lạc. Khát vọng được sống trong thanh bình, độc lập, tự do, hạnh phúc luôn luôn là khát vọng của cả dân tộc, từ người dân bình thường cho đến các tầng lớp trên, và luôn luôn là chủ đề tập hợp lực lượng của toàn dân tộc, lúc yên hàn cũng như khi binh đao khói lửa trong suốt mấy ngàn năm.

Lý tưởng xã hội chủ nghĩa dễ dàng được người dân Việt Nam tiếp nhận vì nó phù hợp với khát vọng lâu đời về giải phóng dân tộc và cuộc sống tự do, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa được truyền thống yêu nước, đại diện cho nguyện vọng xây dựng một đất nước giàu mạnh, nhân dân được hạnh phúc theo một đường lối đúng đắn, nên đã được nhân dân chấp nhận là chính đảng lãnh đạo của mình, đoàn kết được toàn dân tộc.

Đi từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc tìm được con đường giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Ở Việt Nam, lý tưởng xã hội chủ nghĩa sẽ không thể nào được thực hiện nếu không trước tiên thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc để đất nước được độc lập, nhân dân được tự do. Đó là tiền đề để thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ở nước ta mục tiêu giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc trở thành lãnh tụ của Đảng Cộng sản. Nếu biệt lập dân tộc và giai cấp sẽ dẫn đến thất bại.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam tất yếu chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội tốt đẹp theo nguyện vọng của nhân dân mình, phù hợp với giá trị truyền thống của dân tộc mình, điều kiện lịch sử đất nước mình, đồng thời cũng tiếp thu tốt nhất những kinh nghiệm, những thành tựu của loài người tiến bộ. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Người Trung Quốc đề ra mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, người Việt Nam cũng sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Không có mô hình chủ nghĩa xã hội nào áp dụng chung cho mọi quốc gia dân tộc. Cái chung cho mọi quốc gia, dân tộc là lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nhưng khi xây dựng chủ nghĩa xã hội là một thực thể xã hội, thì nó phải mang tên của mỗi nước riêng. Đó là chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Không nên nói rằng: chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam, nói như vậy tuy không có gì sai, song không phân biệt được đâu là lý tưởng, đâu là xây dựng một thực thể xã hội xã hội chủ nghĩa. Hơn nữa, cách nói đó có thể dẫn đến ngộ nhận rằng: có một mô hình chủ nghĩa xã hội chung nào đó, việc đưa mô hình ấy vào nước ta chỉ còn là sự vận dụng sao cho phù hợp, lâu nay, chúng ta có thiếu sót gì trong xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là vì việc vận dụng chưa tốt hoặc còn giáo điều, máy móc. Điều đó là có thật trong thực tế, song trong nghiên cứu bổ sung Cương lĩnh, có lẽ phải đặt vấn đề tìm một logích tiếp cận với mục tiêu chủ nghĩa xã hội từ quy luật vận động nội tại của Việt Nam để tìm ra một chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo quy luật chung. Điều đó khác với cách tiếp cận truyền thống với chủ nghĩa xã hội vẫn thường dùng.

3. Mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI

Cách tiếp cận với chủ nghĩa xã hội từ quy luật vận động nội tại của Việt Nam đòi hỏi phải xuất phát từ lợi ích dân tộc, đặc điểm dân tộc, điều kiện lịch sử cụ thể về tự nhiên, xã hội, con người Việt Nam để đề ra một định hướng phát triển theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Đi từ dân tộc để rồi mưu cầu hạnh phúc trở về cho dân tộc dựa trên dòng chảy phát triển của thời đại sẽ là logích tư duy của chúng ta khi suy nghĩ về định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Một sai lầm khá nghiêm trọng trong quá khứ - nhất là thời kỳ bắt đầu truyền bá chủ nghĩa Mác và vận động cách mạng - là đã coi nhẹ hoặc phủ định yếu tố dân tộc ở lúc này lúc khác, ở chỗ này chỗ khác. Đấu tranh giai cấp bị cường điệu trong điều kiện xã hội mà mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu.

Sau gần 2 thập kỷ thực hiện Cương lĩnh 1991, nhân dân ta ngày càng thấm thía ý nghĩa thiết thực của việc xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Với mong muốn đó là nội dung cơ bản trong định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa của người Việt Nam, khẩu hiệu đó thực tế đi vào cuộc sống, đã có tác dụng góp phần ổn định lòng dân, động viên mọi người hăng hái tham gia công cuộc đổi mới, ra sức làm việc cho bản thân, gia đình, xã hội ngày một phát triển, tạo nên vị thế mới của đất nước ta.

Ngày nay, đất nước đòi hỏi phải phát triển mạnh và nhanh hơn nữa vì thế và lực của nhân dân ta đã khác xa so với 20 năm trước. Tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng đòi hỏi ở Việt Nam một sự bứt phá toàn diện để không tụt hậu xa thêm hơn nữa. Định hướng cho mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần được nghiên cứu, bổ sung, thậm chí thể hiện lại cho toàn diện, mang tính khái quát cao hơn, thể hiện rõ bản sắc Việt Nam hơn, đặc biệt thể hiện tính dân tộc và những đặc trưng, yêu cầu nổi trội của dân tộc. Từ những xu hướng vận động của lịch sử dân tộc, cho chúng ta cơ sở để hình dung về một định hướng cho mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương lai.

Trước hết, bài học về giữ vững nền độc lập của Tổ quốc là bài học thiêng liêng nhất của bao thế hệ người Việt Nam từ thuở lập nước cho đến nay. Giải phóng dân tộc để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đó là quá trình đấu tranh của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã đúc kết thành chân lý bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Có độc lập dân tộc thì mới có chủ nghĩa xã hội, cho nên chủ nghĩa xã hội Việt Nam phải là chủ nghĩa xã hội của một đất nước độc lập tự chủ. Điều đó khẳng định tư thế làm chủ đối với đất nước có biên giới hoàn chỉnh trên bộ, trên không và trên biển, khẳng định chỗ đứng lịch sử của đất nước trong dòng chảy của thời đại; nói lên địa vị chính trị, xã hội của đất nước ta trong cộng đồng quốc tế. Một dân tộc chỉ có thể sống bình đẳng, hội nhập và hòa hiếu với bạn bè quốc tế nếu dân tộc đó có quyền độc lập. Do vậy Độc lập phải là tiêu chí hàng đầu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Trong lịch sử dân tộc ta cũng như lịch sử loài người nói chung, tự do cho con người luôn luôn là nhu cầu bức thiết, sống còn, gần như bản năng. Tự do là quyền cơ bản của con người, được hiểu một cách toàn diện, bao gồm các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng… gắn liền với các phạm trù bình đẳng, bác ái trong quan hệ giữa các cá nhân, tập đoàn trong xã hội. Dân tộc nào trên thế giới cũng đều khao khát tự do, song dân tộc Việt Nam khao khát tự do gắn với hàng chục thế kỷ làm kiếp ngựa trâu trong đêm trường nô lệ lại càng cảm thấy cái vô giá của hai chữ Tự do. Đời người ai cũng có ít hoặc nhiều trải qua những nỗi đau khổ, nhưng - như Hồ Chí Minh nói - đau khổ nào cũng không bằng nỗi đau khổ vì mất tự do (Đau khổ chi bằng mất tự do - Nhật ký trong tù). Chủ nghĩa xã hội Việt Nam phải là một xã hội bảo đảm tự do cho mỗi con người theo tư tưởng của C.Mác: tự do của mỗi người là điều kiện cho tự do của mọi người. Chỉ có xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa như vậy, mới thực sự bảo đảm cho mỗi người được làm chủ thực sự trong một đất nước độc lập, mới có được công bằng, văn minh. Đó chính là khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam. Một chủ nghĩa xã hội không bảo đảm quyền tự do cho con người sẽ là một sự phản bội lịch sử, sự quay lưng lại thực tế và sẽ không thu hút được sự đồng tình và ủng hộ của mọi người dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì… Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Người còn đưa ra quan điểm: chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy đều được học hành, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt lành dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, chủ nghĩa xã hội phải mang lại cuộc sống hạnh phúc cho mọi người trong xã hội. Đó cũng là cái đích cần đạt tới của độc lập, tự do.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ta thấy nổi lên mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, chúng hòa quyện với nhau, làm nổi bật lên đặc trưng bao trùm nhất, chung nhất, điển hình nhất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Ba yếu tố đặc trưng ấy nhằm giải quyết 3 vấn đề then chốt nhất của dân tộc Việt Nam, đó là:

+ Vấn đề dân tộc: dân tộc phải được độc lập, tự chủ, chống mọi sự kỳ thị dân tộc và bất bình đẳng dân tộc.

+ Vấn đề dân quyền: bảo đảm con người được giải phóng, có quyền làm chủ đất nước, quyền tự do về mọi mặt.

+ Vấn đề dân sinh: bảo đảm cuộc sống ấm no hạnh phúc cho mọi người.

Độc lập, tự do, hạnh phúc là nguyện vọng đầy đủ và tha thiết của cả dân tộc, là mục tiêu hy sinh đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước, đó cũng là xu thế của thời đại, cho nên nó nói lên toàn diện, đầy đủ những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, thể hiện ở tầm Cương lĩnh về chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Độc lập, tự do, hạnh phúc thể hiện một cách ngắn gọn, xúc tích, nhưng toàn diện và đầy đủ nhất cơ sở khoa học của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, thể hiện bản chất của chế độ Nhà nước ta dù là mang tên Dân chủ cộng hòa hay xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công thức đó giản dị như nước uống, không khí hàng ngày, đi vào lòng dân một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng, giản dị như chân lý của cuộc sống hơn là hệ thống những tiêu chí khó nhớ.

Trên nền tảng mục tiêu chung đó của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, khi xử lý những vấn đề cụ thể trong đường lối, chủ trương thực tế đã xuất hiện một số mâu thuẫn cần được xử lý theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nêu lên một số mối quan hệ:

- Quan hệ giữa dân giàu - nước mạnh: Đây là mối quan hệ tác động qua lại mang tính nhân quả mà cơ sở là dân giàu, tạo nguồn cho nước mạnh chứ không phải là ngược lại. Mọi hoạt động của bộ máy quản lý đất nước cần tạo điều kiện cho mọi người dân có việc làm, được tự do làm ăn trong khuôn khổ luật pháp, có thu nhập ngày càng tăng, từ đó mà làm cho sức mạnh của cả đất nước tăng lên, ngân sách tăng lên. Tư tưởng tăng thu ngân sách là không phù hợp với thực tế đất nước khi điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, đời sống nhân dân còn khó khăn, hậu quả chiến tranh còn nặng nề.

- Quan hệ giữa người giàu và người nghèo: chủ nghĩa xã hội Việt Nam phải làm cho mọi người dân đều giàu lên. Ngày nay trong kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng. Chủ trương rút ngắn sự chênh lệch giàu nghèo phải bắt đầu từ chỗ nâng cao dần mức sống của người nghèo, xóa cảnh đói, rét, ăn mày, bụi đời, lang thang, thất học…; tạo việc làm cho mọi người, phấn đấu trong thời gian ngắn đạt mức sống trung lưu trong xã hội để từ đó rút ngắn khoảng cách giàu nghèo. Đó là định hướng đúng đắn theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

- Nhiều mối quan hệ khác cần giải quyết trên cơ sở quan niệm phát triển mới về chủ nghĩa xã hội Việt Nam, như: giữa dân tộc và giai cấp, giữa phát triển và công bằng xã hội, giữa cá nhân và cộng đồng, đời sống vật chất và tinh thần, bản sắc dân tộc và hiện đại, tự lực và hội nhập, vấn đề dân tộc thiểu số, vấn đề tôn giáo…

Cương lĩnh 1991 là thành tựu lý luận, nhận thức của Đảng ta ở thời điểm đó. Trải qua thời gian và không gian, thực tế cọ sát đã cho ta những nhận thức mới hơn về mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và cho ta một cách tiếp cận mới để có thể nghiên cứu một chủ nghĩa xã hội Việt Nam đích thực. Đó là một vấn đề rất đáng quan tâm thảo luận trong tình hình hiện nay.

PGS-TS TRẦN HẬU

Về đầu trang


Cần cụ thể hóa cơ chế “Nhân dân làm chủ”

Ông Đỗ Duy Thường, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam rất mừng vì Dự thảo Báo cáo chính trị nhiệm kỳ này đề ra: "Có cơ chế để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp". Đây là chủ trương đúng, đáp ứng được mong đợi và nguyện vọng của nhân dân.

Góp ý Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2010 và Dự thảo báo cáo chính trị của Đảng, ông Đỗ Duy Thường cho rằng, trong các phần kiểm điểm đã có đánh giá thành tựu và những hạn chế, khuyết điểm của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện dân chủ, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, tập hợp, động viên nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng.

Theo ông Thường, Mặt trận, đoàn thể có nhiều vai trò, trong đó có vai trò thực hiện dân chủ, đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ tham gia xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Ðảng, Nhà nước với nhân dân. Trong cơ chế Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, thì vai trò Ðảng lãnh đạo là rất rõ, Nhà nước quản lý cũng rất rõ vai trò, còn vai trò nhân dân làm chủ thì chưa có Nghị quyết nào chỉ ra rõ ràng, đầy đủ. Về phương diện dân chủ, có dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Cơ chế dân chủ đại diện được quan tâm và đề cập nhiều trong các Nghị quyết và các quy định của pháp luật (tuy chưa thật đầy đủ), nhưng cơ chế dân chủ trực tiếp thì chưa được thể chế hóa.

Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Ðại hội XI của Ðảng nêu rõ: “Có cơ chế để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp”, đây là chủ trương rất đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, nhân dân rất mong muốn quyền dân chủ, quyền làm chủ trực tiếp được Nhà nước sớm ban hành cơ chế. Vấn đề ở đây cần xác định: Cơ quan, tổ chức nào ban hành cơ chế ấy. Có cơ chế rồi nhưng cần phải được thể chế thành pháp luật và bằng tổ chức. Quyền dân chủ đại diện thì theo cơ chế nào?

Do đó, ông Thường đề nghị trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhiệm kỳ này nên cụ thể hóa cơ chế "nhân dân làm chủ" trên mấy vấn đề sau: Đề ra nguyên tắc làm chủ của nhân dân, đó là: "Nhân dân được làm những gì mà Nhà nước không cấm". Các lĩnh vực cần mở rộng quyền dân chủ, quyền làm chủ đó là "các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh". Nội dung quyền làm chủ là: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát". Phương thức làm chủ là nhân dân vừa thực hiện dân chủ trực tiếp vừa "thực hiện dân chủ đại diện thông qua các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, mặt trận và các đoàn thể nhân dân". Trách nhiệm của cơ quan nhà nước là phải bảo đảm để nhân dân được làm chủ trên thực tế. Vì vậy, Nhà nước cần sớm ban hành các đạo luật: Luật Trưng cầu dân ý, Luật Giám sát của nhân dân, Luật Phản biện, Luật biểu tình và đình công…

Ông Đỗ Duy Thường cho rằng, trong Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy Nhà nước đã ghi: “… phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nội dung quan trọng của đối mới chính trị phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới kinh tế. Coi trọng mở rộng dân chủ trực tiếp trong xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền”. Với chủ trương đó, ông Thường đề nghị bổ sung một số hoạt động giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận trong nội dung này, đó là: “Tiếp tục thực hiện quy chế nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, công chức ở khu dân cư”; định kỳ lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân bầu; đẩy mạnh hoạt động của thanh tra nhân dân, giám sát đầu tư cộng đồng… Nhà nước ban hành pháp luật về giám sát, phản biện xã hội để nhân dân tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.

Góp ý về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (nội dung 10), ông Thường nhấn mạnh, Đại hội IX, X của Đảng đã đề ra chủ trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Năm đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được định hình, những nội dung của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã và đang được tổ chức thực hiện để ngày càng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền theo đặc thù của nhà nước ta, nhà nước của dân, do dân, vì dân tho tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng. Qua 10 năm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, luật pháp đang dần được hoàn thiện, kỷ cương xã hội được giữ vững, hệ thống tổ chức nhà nước không ngừng được hoàn thiện. Cơ chế kiểm tra, giám sát trong hệ thống nhà nước, trong nhân dân tiếp tục được xây dựng và thực hiện nhằm ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền. Cơ chế dân chủ cũng đang được xây dựng, từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật. Vì vậy cần bổ sung vào nội dung này một nguyên tắc có tính pháp quyền là “Dân được làm những gì mà pháp luật không cấm, cán bộ, đảng viên, công chức chỉ được làm những việc pháp luật quy định”. Đó là một nguyên tắc cơ bản để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là nguyên tắc thực hiện dân chủ trong đời sống xã hội ngày càng phát triển./.

Về đầu trang


Bàn về dân chủ trong Đảng  

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Muốn Đảng mạnh phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao vũ khí tự phê và phê bình trong Đảng. Về vấn đề trên ông Trần Thanh Bình, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Tĩnh đã có một số ý kiến góp ý vào dự thảo văn kiện như sau. 

Tập trung và dân chủ có mối quan hệ hết sức biện chứng. Quyền tập trung càng đề cao, uy tín của Đảng càng được nâng lên  khi chúng ta biết phát huy dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ngược lại càng phát huy dân chủ càng khai thác được trí tuệ, chất xám của mọi người, càng hạn chế được những sai lầm, khuyết điểm và căn bệnh chủ quan duy ý chí của những người có trách nhiệm ở mỗi cấp, mỗi ngành và của toàn Đảng.  

Lịch sử 80 năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước đã minh chứng cho sức mạnh dân chủ trong Đảng. Nhưng với thái độ khách quan, dám nhìn thẳng vào sự thật thì vấn đề dân chủ trong Đảng và nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng ở nơi này, nơi khác, trên từng lĩnh vực chưa được đề cao, thậm chí còn bị lợi dụng, có nơi khá nghiêm trọng, làm vô hiệu hóa sức mạnh của một tổ chức. Chúng ta chưa ban hành đầy đủ và đồng bộ những quy tắc, quy định và chế tài thật cụ thể, có cơ sở khoa học để tạo sự kết dính vững chắc giữa tổ chức và cá nhân trong mỗi tổ chức, không để cho bất cứ cá nhân nào đứng trên tổ chức, đứng ngoài tổ chức. Ở một số tổ chức đảng có thời kỳ do không thực hiện tốt vấn đề dân chủ nên trên một số lĩnh vực chưa thể hiện đầy đủ cơ sở khoa học và tư duy chính trị trong mỗi quyết sách, dẫn đến một số hậu quả khá nghiêm trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nhất là lựa chọn phương án đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong cải cách giáo dục, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, trong bố trí cán bộ, nhưng không tìm được địa chỉ cụ thể để cột trách nhiệm. 

Điều đáng lo ngại trong Đảng hiện nay ở một số nơi và trên từng lĩnh vực khác nhau là đã có những nhận thức, việc làm, những quy định làm ảnh hưởng đến quyền làm chủ và sức sáng tạo của mỗi người. Dân chủ trong Đảng không được đề cao, là chỗ dựa cho tệ quan liêu, lấn lướt, tập trung quyền lực trong tay một số người “cánh hẩu” với nhau, gây hậu quả không nhỏ trong công cuộc đổi mới. Vì thiếu dân chủ nên năng lực và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng rất hạn chế, thậm chí bị tê liệt. Nhiều vấn đề nhân dân và công luận phát hiện nhưng tổ chức cơ sở đảng không biết hoặc có biết nhưng không đấu tranh. Vì thiếu dân chủ nên một số cấp ủy đảng không thể hiện đầy đủ ý thức trách nhiệm của mình trước sự tín nhiệm của Đảng bộ và sự ủy thác của nhân dân.  

Đại hội Đảng lần này là dịp xây dựng môi trường lành mạnh và thiết chế đồng bộ để phát huy dân chủ. Mọi vấn đề kinh tế - xã hội cần được dân chủ luận bàn ở nhiều cấp độ khác nhau. Có những vấn đề phải lấy ý kiến tham gia của nhân dân, của cơ sở, phải thăm dò dư luận xã hội hoặc tổ chức điều tra xã hội học để khai thác trí tuệ và chất xám của mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý để quyết định các vấn đề phù hợp với quy luật. Bác Hồ đã chỉ cho chúng ta bài học “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể lớn nghĩ mãi không ra”. Chúng ta không thể đi ngược lại quy luật khách quan, chỉ có tìm phương pháp tác động cho sự vật vận động, phát triển cùng chiều nhanh hơn, hiệu quả hơn mà thôi. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã chỉ cho chúng ta thấy phương pháp khoa học là: “Thấy một cách sáng tỏ, vận dụng một cách thành thạo, có thái độ rộng rãi, khoan dung đối với người có chính kiến khác mình. Đó là điều bình thường trong xã hội. Chỉ có thảo luận, tranh luận, lật qua, lật lại, người thấy mặt này, người thấy mặt khác thì mới dần dần tiếp cận cái đúng, đồng thời cái đúng không phải là vĩnh hằng, bất biến”. Đây cũng chính là phương pháp luận tốt nhất để phát huy dân chủ và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Phải chống các biểu hiện: Miệng hô dân chủ nhưng hành động thì trù dập, định kiến với người trung thực nói thẳng; sử dụng dân chủ để hợp thức hóa những ý đồ cá nhân hoặc “ẩn bóng” dưới danh nghĩa dân chủ để kích động, bè cánh, gây nghi kỵ, hiểu nhầm, gây mất đoàn kết nội bộ. 

Trong công tác cán bộ càng phải thật sự dân chủ. Đảng nắm công tác cán bộ là đúng, vì khởi nguồn của mọi chủ trương, nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết suy cho cùng cũng từ cán bộ. Phải có những chế tài, quy tắc, quy định rất cụ thể, khoa học mới đảm bảo công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ được công tâm, khách quan, lựa chọn được người hiền tài cho đất nước, mới chặn đứng được biểu hiện “chạy chức, chạy quyền”, “mua quan, bán tước” diễn ra ở một số nơi. Những vụ việc tiêu cực, tham nhũng lớn ở nước ta đã được phanh phui trong những năm gần đây là cái giá phải trả quá đắt và hết sức đau lòng về công tác cán bộ. Giải phóng đất nước – thống nhất Tổ quốc, đoạn tuyệt với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp để thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã làm được thì không lý do gì ta không sửa được những sơ hở, thiếu sót và sai lầm trong công tác cán bộ ở mỗi địa phương và toàn Đảng. Tôi nghĩ: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trước hết phải học cách dùng người của Bác. Vấn đề đặt ra là phải thiết lập một cơ chế đồng bộ và dân chủ trong công tác cán bộ, phải thông qua thi tuyển như cha ông ta đã từng làm, Đảng phải giới thiệu nhiều người trong một chức danh để cân nhắc, lựa chọn, tốt nhất là phải có chương trình hành động, có cam kết về trách nhiệm cá nhân, trong đó ai trúng cử cũng đều xứng đáng. Có thời chúng ta giới thiệu 2 người để bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, phải có sự cạnh tranh lành mạnh để vươn tới. Tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải làm cho đội ngũ cán bộ không quá nặng nề về tỷ lệ trúng cử cao hay thấp và nên bỏ ngay những cơ chế tạo “vỏ bọc” cho người cán bộ có chổ dựa dẫm, làm cho một số cán bộ công thần, ngạo mạn, tự hào là đã dành được “tín nhiệm tuyệt đối”, không tự vấn lương tâm mình, không khiêm tốn học hỏi đồng chí và nhân dân. Trúng cử nhưng tỷ lệ thấp là bài học sâu sắc cho mỗi người, có khi còn giá trị gấp nhiều lần những cuộc tự phê bình, kiểm điểm mang tính chiếu lệ. Vấn đề là phải có chuẩn mực để đánh giá từ phẩm chất, lòng nhiệt huyết, đức hy sinh và hiệu quả công việc của người tham gia ứng cử, đề cử.  

Các cấp uỷ Đảng tiếp cận với dân, đặc biệt là phải ban hành quy chế, chế tài để phát huy vai trò tư vấn, phản biện của MTTQ và các đoàn thể nhân dân trong việc hoạch định chủ trương, chính sách; trong xem xét, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ như văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra, chấm dứt những hiện tượng “trên khen nhưng dân thì tha oán, bất bình”. 

Từ suy nghĩ trên, tôi mong vấn đề dân chủ trong Đảng là một chủ đề trọng tâm cần được luận bàn trong diễn đàn Đại hội XI của Đảng, thể hiện đúng đắn nhất nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

 Trần Thanh Bình,

 Nguyên Chủ tịch UBMTTQVN Hà Tĩnh

Về đầu trang


Ủy ban MTTT tỉnh Hưng Yên: Tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI 

Ngày 21.10, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh tổ chức hội nghị lấy ý kiến các nhân sĩ, trí thức, các chức sắc tôn giáo đóng góp vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ. 

Các đại biểu tham dự hội nghị bày tỏ nhất trí với các nội dung nêu trong Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Dự thảo Báo cáo Chính trị; Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (giai đoạn 2011 – 2020). Để các Dự thảo văn kiện phản ánh một cách đầy đủ, sát thực tế hơn, một số đại biểu đã đóng góp ý kiến, tập trung vào các nội dung như: Cải cách giáo dục không chỉ nhấn mạnh đến chống gian lận mà phải tính đến giải pháp hướng tới cải cách chương trình, phương pháp giảng dạy để xứng tầm với vị thế mới của đất nước. Xã hội hóa công tác y tế là cần thiết nhưng cần quan tâm kiểm tra, giám sát chất lượng khám chữa bệnh ở các cơ sở tư nhân, tăng thẩm quyền cho đoàn thanh tra giám sát của ngành y tế; Mục tiêu và định hướng cơ bản của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hướng đi vững chắc, vì vậy cần chỉ rõ các mục tiêu cụ thể trong cương lĩnh trong giai đoạn tới nhằm đem lại kết quả cao hơn; từ nghị quyết đến việc tổ chức thực hiện cần đề cập một cách cụ thể. Trong lĩnh vực văn hóa cần có chính sách thỏa đáng, trong đó quan tâm vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Bên cạnh đó cũng cần có sự điều chỉnh về tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa… Một số đại biểu đề nghị cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật về tôn giáo trong giai đoạn mới của đất nước, phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo sống tốt đời đẹp đạo, tích cực tham gia đóng gióp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo... 

Kết luận hội nghị, ông Bùi Văn Nho, Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh đã trân trọng cảm ơn những ý kiến đóng góp đầy tâm huyết, trách nhiệm, trí tuệ, niềm tin của các đại biểu đối với Đảng, với sự phát triển của dân tộc. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh sẽ tổng hợp ý kiến của các đại biểu gửi về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy để tổng hợp báo cáo Ban Tuyên giáo Trung ương. 

Phương Châm

Về đầu trang


Ý kiến... Nguyễn Phan Luỹ - Nguyên Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt Nam, nguyên Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng  

Về Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các đoàn thể nhân dân, dự thảo Cương lĩnh ghi: “... Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”. Đây là một sự trải nghiệm, bổ sung đầy tâm huyết của Đảng Cộng Sản Việt Nam - Đảng cầm quyền trong cương lĩnh 2011 của Đảng. Nhưng cụm từ “tạo điều kiện” lại thể hiện quan điểm chưa đúng tầm về vai trò, vị trí MTTQ và các đoàn thể nhân dân. 

Do vậy, Cương lĩnh cần nghiên cứu, bổ sung và sửa lại cho đúng tầm chiến lược là: Đảng, Nhà nước có trách nhiệm (không phải là tạo điều kiện) xây dựng, quy định cơ chế, chính sách để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội. 

Giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể nhân dân là yêu cầu tất yếu khách quan khi Đảng lãnh đạo cách mạng thành công và trở thành Đảng cầm quyền. Để MTTQ và các đoàn thể nhân dân góp phần cùng với Đảng, Nhà nước đưa cách mạng tiến lên không ngừng, đồng thời cũng ngăn ngừa, cảnh báo về những thói hư, tật xấu (tham nhũng, quan liêu, suy thoái đạo đức, phai nhạt lý tưởng...) mà Đảng cầm quyền duy nhất dễ phạm phải, cần phải có cơ chế, chính sách giám sát, phản biện hữu hiệu. Hiểu sâu sắc vấn đề để có trách nhiệm đúng đắn, rõ ràng thể hiện bằng cơ chế, chính sách, bằng luật pháp hoá chứ không phải là tạo điều kiện hoặc không tạo điều kiện.

Nguyễn Phượng (ghi)

Về đầu trang


Ý kiến góp ý của PGS.TS Phan Hữu Tiến, Ủy viên Hội đồng tư vấn Khoa học-Giáo dục,Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng

1. Dự thảo các văn kiện đều cần đề cập khoa học-công nghệ và môi trường trong sự nhất quán đồng thời có sự phù hợp với đặc điểm của từng thể loại văn kiện. Cương lĩnh đề cập ở tầm khái quát lâu dài cho nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng, chiến lược đề cập thường trong thời gian 10 năm còn Báo cáo chính trị chỉ trong 1 nhiệm kỳ. Tất nhiên, ước định thời gian cũng có tính chất tương đối nhưng nếu không tính thời gian thì dễ trồng chéo, trùng lặp hoặc chung chung. Trong Cương lĩnh, vấn đề khoa học-công nghệ-môi trường đề cập khá rõ ở nhiều phần song ở một phần rất quan trọng là phần các phương hướng cơ bản với 8 phương hướng trong đó có phương hướng "ba là, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Theo tôi hiểu, phần các phương hướng cơ bản phải thể hiện nội dung của mục tiêu đồng thời là tiền đề cho các phần tiếp theo. Việc đặt văn hóa là một trong các phương hướng cơ bản là đúng vì văn hóa không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu của sự phát triển. Dù văn hóa có vai trò rất quan trọng và theo nghĩa rộng nhất có thể bao quát nhiều lĩnh vực song không vì thế mà văn hóa có thể thay thế mọi lĩnh vực liên quan. Trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI, văn hóa giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ-môi trường, an sinh xã hội, y tế… đều được trình bày với nội hàm xác định song song 8 phương hướng cơ bản lại chỉ nói đến văn hóa ở phương hướng thứ ba. Để thể hiện vai trò, vị trí các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội cũng như thể hiện tính nhất quán trong dự thảo các văn kiện, xin đề nghị phương hướng cơ bản thứ ba là "xây dựng và phát triển văn hóa -xã hội vì con người Việt Nam phát triển toàn diện gắn với xây dựng và phát triển văn hóa -xã hội". Phương hướng này thể hiện mục tiêu xây dựng và phát triển con người Việt Nam- trung tâm của chiến lược kinh tế-xã hội và là mục tiêu của mọi sự phát triển. Sau nữa, phương hướng này còn đề cập đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến phát triển con người được khái quát ở cụm từ văn hóa-xã hội như văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, môi trường, y tế, an sinh xã hội, v.v…

2. Trong phần II, mục 4 của dự thảo Cương lĩnh ghi "Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh". Theo tôi được hiểu, đoạn này nói rất rõ đây là Cương lĩnh trong thời kỳ quá độ mà khi kết thúc thời kỳ này thì sẽ tạo cơ sở của chủ nghĩa chứ chưa phải đã là chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, Cương lĩnh này đặt ra nhiệm vụ giải quyết những vấn đề của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở đây cần tránh 2 xu hướng không đúng hoặc là biệt lập hai giai đoạn này hoặc là đồng nhất hai giai đoạn này. Về lý luận cũng như về thực tiễn, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bản thân chủ nghĩa xã hội vừa có sự khác biệt nhất định về đặc trưng, về nội dung, về tính chất vừa có sự đan xen, sự chuyển tiếp nhất định của một số yếu tố, một số đặc trưng. Vì thế việc phân định vừa là cần thiết nhưng cũng vừa có tính tương đối. Còn ở phần kết luận lại ghi: "Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh". Viết như thế này có thể hiệu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này nước ta sẽ là nước xã hội chủ nghĩa và như vậy không nhất quán với đoạn nói trên. Tôi đề nghị đoạn này có thể diễn đạt là: "Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này sẽ tạo điều kiện vững chắc để nước nhà trở thành nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh".

3. Trong phần II, mục 4 của dự thảo Cương lĩnh ghi "Xã hội, xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…" song ở đoạn đầu của mục 6 của dự thảo Cương lĩnh lại ghi: "Xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh… ". Viết như thế không nhất quán với đoạn trên hơn nữa cụm từ xây dựng một xã hội dân chủ dễ bị hiểu thành xây dựng một xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ của một số nước hiện nay.

Về đầu trang


Ý kiến góp ý của Bà Nguyễn Thị Minh Phương-Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam vào các Dự thảo Văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng 

1. Với dự thảo “BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH TW ĐẢNG KHÓA X TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TÒAN QUỐC LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG”

- Trong mục 2. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ…. của phần A. Thành tựu, nhận xét “Cải cách giáo dục đạt một số kết quả bước đầu” là chưa chính xác vì Nghị quyết số 40/2000/ của Quốc hội khóa X yêu cầu “đổi mới chương trình giáo dục phổ thông…”, không phải là “Cải cách giáo dục”. Mặt khác trong mục này nêu “Giáo dục, đào tạo gắn kết chặt chẽ hơn với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội” song nhận định ở phần B. Hạn chế, khuyết điểm là “Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm đổi mới” e không tương thích. Thực tế đối với giáo dục  phổ thông, với những cố gắng trong thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X, cũng đã có không ít thay đổi. Tuy nhiên một cuộc tổng kết, đánh giá tổng thể chương trình mới sau một giai đoạn triển khai chưa được thực hiện nên nhận định trên chưa thuyết phục, chưa phản ánh được sự nỗ lực của 20 triệu học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục trong gần 10 năm qua. Vì vậy đề nghị sửa là “Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học mặc dù đã được đổi mới song chưa đáp ứng được yêu cầu của sự  phát triển kinh tế- xã hội”.

2. Với dự thảo “CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”

- Đề nghị trong tiểu mục “Con người” bổ sung thêm ý: sống và làm việc theo pháp luật cho phù hợp với mục 10. Nhà nước pháp quyền của phần IV. Hệ thống chính trị…

 3. Với dự thảo “CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI 2011- 2020”

- Mục “IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN, ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG, CƠ CẤU LẠI NỀN KINH TẾ” bao gồm 6 mục nhỏ liên quan đến các ngành kinh tế và lãnh thổ; 6 mục nhỏ liên quan đến các vấn đề ngoài kinh tế (xã hội,…), như vậy nên xem xét lại tiêu đề để có thể phản ánh đúng nội hàm của nó.

- Mục nhỏ 5. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, dự thảo ghi “Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng … đường sắt cao tốc Bắc- Nam…” đề nghị bỏ ý này.

Về đầu trang


Ðổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền ở cơ sở 

Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định: Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân định đúng chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả. Những định hướng trong Chiến lược là đúng đắn, song vấn đề đặt ra là việc chọn giải pháp cụ thể để triển khai, thực hiện. Ðại hội Ðảng lần thứ XI chắc chắn sẽ thảo luận và xác định những giải pháp cụ thể. Chúng tôi xin góp ý với Ðảng một số vấn đề về xây dựng chính quyền ở cơ sở. 

Thứ nhất, xây dựng chính quyền ở cơ sở theo hướng hình thành bộ máy thi hành pháp luật của Nhà nước và những quyết định của UBND cấp trên tại cơ sở. Chính quyền xã với năng lực hiện tại không thể là cơ quan làm chính sách, cho dù chính sách trong phạm vi của xã, phường. Vì vậy, chỉ cần tổ chức UBND ở cấp xã, phường đồng thời đổi thành UBHC (ủy ban hành chính) để đúng với bản chất quyền lực hành pháp. 

Thứ hai, cần duy trì một đội ngũ cán bộ chính quyền ở cơ sở ổn định, nhất là những công chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước như địa chính, hộ tịch, tư pháp. Sự ổn định của đội ngũ công chức này sẽ giúp cho việc theo dõi, quản lý hoạt động thi hành pháp luật ở cấp cơ sở một cách liên tục, hệ thống. Mặt khác, sự ổn định này đồng nghĩa với việc duy trì trình độ và kỹ năng thực thi công việc. Thực tế cho thấy, cứ sau mỗi nhiệm kỳ thì lại có một loạt sự thay đổi nhân sự trong bộ máy của UBND xã, phường. Những người được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, vừa mới bố trí công việc thích hợp thì lại thay đổi, điều động. 

Thứ ba, thực hiện việc Chủ tịch UBND huyện, thị xã bổ nhiệm Chủ tịch UBND xã, phường và cách chức khi không thực hiện tốt công việc. Ðây là một trong những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng 'phân chia quyền lực', cục bộ giữa các thôn trong xã, giữa các dòng họ trong thôn. Bên cạnh đó, cần có những giải pháp cụ thể để đánh giá năng lực và đạo đức, sự tín nhiệm của nhân dân đối với lãnh đạo của chính quyền ở cơ sở. Chính quyền ở cơ sở gần dân bao nhiêu thì cần được để nhân dân trực tiếp giám sát bấy nhiêu. Việc bổ nhiệm, bãi nhiệm lãnh đạo chính quyền ở cơ sở cần dựa trên cơ sở đánh giá của nhân dân. 

Thứ tư, cần thực hiện chế độ trả lương cho công chức chính quyền xã, phường theo đúng năng lực và trình độ chuyên môn được đào tạo. Cần khắc phục sự phân biệt hệ số lương, phụ cấp dựa trên tiêu chí là công chức cấp xã, phường hay cấp huyện. Sự thiếu công bằng và từ đó là sự triệt tiêu động lực và nhiệt tình của công chức chính quyền ở cơ sở bắt nguồn từ chế độ đãi ngộ công chức nói chung, nhất là công chức ở cấp cơ sở. Trong thực tế, có những người cùng tốt nghiệp đại học hoặc trung học, có năng lực ngang nhau, song người trở thành công chức, cán bộ cấp huyện, cấp tỉnh thì hưởng lương và phụ cấp cao hơn người về làm việc ở chính quyền ở cơ sở. 

Thứ năm, cần có những quy định tạo cơ sở pháp lý để UBND các xã, phường, thị trấn, tư vấn trưởng thôn, trưởng bản trong việc đưa ra các quyết định hành chính. Trưởng thôn, trưởng bản là những người được cộng đồng dân cư tín nhiệm bầu lên, có uy tín và ảnh hưởng lớn trong cộng đồng. Chính vì vậy, sự tham gia và tư vấn của trưởng thôn trong các phiên họp của UBND xã, phường cũng như trong việc đưa ra quyết định hành chính, trong thi hành pháp luật là một giải pháp giúp nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền ở cơ sở. 

Thứ sáu, cần đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất cho chính quyền cấp cơ sở. Trụ sở cơ quan công quyền phải có những điều kiện tối thiểu để thực thi quyền lực. Hồ sơ, giấy tờ liên quan đến công vụ cần phải được lưu giữ và bảo quản một cách an toàn, bảo đảm giá trị pháp lý khi cần xác minh hoặc xử lý những yêu cầu cụ thể của nhân dân. Thực tế cho thấy không ít trường hợp người dân phải về nhà riêng của lãnh đạo UBND xã để xin chữ ký và xin dấu. Nâng cao tính chuyên nghiệp trong công vụ của UBND xã, phường cần phải được coi là ưu tiên trong bối cảnh đội ngũ cán bộ chính quyền ở cơ sở còn nhiều hạn chế, bất cập. 

GS, TS LÊ HỒNG HẠNH

Viện trưởng Viện khoa học

pháp lý - Bộ Tư pháp

Về đầu trang


Ý kiến góp ý của TS.Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL: Cần có chính sách kịp thời cho người trồng lúa  

Tôi cũng như đội ngũ các nhà khoa học rất vui vì trong 3 dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được quan tâm một cách toàn diện, sâu sắc, hứa hẹn sẽ tạo ra những thay đổi mang tính đột phá cho khu vực này.  

Hiện, Nghị quyết 26 của Đảng về tam nông đã được các địa phương triển khai quyết liệt, với nhiều giải pháp đồng bộ. Theo tôi, để nghị quyết đi vào cuộc sống, từng bước phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, quy mô lớn, tạo nền tảng để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, cần đẩy mạnh mối liên kết vùng, liên kết 4 nhà. Điều này càng có ý nghĩa lớn trong sản xuất lúa gạo.  

Để thực hiện tốt việc liên kết, các địa phương cần quy hoạch vùng trồng cụ thể; tùy từng vùng sinh thái, điều kiện thổ nhưỡng mà có cơ cấu giống phù hợp. Các đơn vị nghiên cứu khoa học cùng liên kết để nghiên cứu, chọn tạo các giống cây trồng - vật nuôi mới và liên kết với nông dân, doanh nghiệp để đưa thành quả khoa học vào thực tiễn sản xuất. Nông dân thay vì làm ăn manh mún, nhỏ lẻ thì cùng liên kết làm ăn theo mô hình tổ hợp tác hoặc hợp tác xã. Các doanh nghiệp liên kết cùng nông dân tạo vùng nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm với giá hợp lý... 

Nhưng để làm được điều này thì chính sách cho người trồng lúa cũng phải được ban hành một cách kịp thời, đúng thời điểm. Thực tế, chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo thời gian qua tuy rất thiết thực nhưng việc ban hành còn mang tính chữa cháy nên nông dân chưa được hưởng lợi nhiều. Chính sách cho người trồng lúa cần dài hơi, bảo đảm giữ ổn định đất nông nghiệp, bởi trồng lúa không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có nhiệm vụ chính trị là đảm bảo an ninh lương thực. Nếu không có chính sách tốt, nông dân sẽ bỏ ruộng, lúc đó nguy cơ mất an ninh lương thực sẽ hiện hữu.

Về đầu trang


Ý kiến góp ý của Ông Bùi Sỹ Tiếu, PCT T.Ư Hội Làm vườn VN: Phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề an sinh xã hội

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X trình Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng khóa XI đang thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân và đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Bùi Sỹ Tiếu, Phó chủ tịch Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam về dự thảo này. Ông Tiếu cho biết: 

Dự thảo báo cáo chính trị đã đề cập toàn diện đến các vấn đề: chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng,... Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề an sinh xã hội và muốn nêu mấy vấn đề cơ bản sau: 

Về an ninh lương thực, hiện chúng ta có hơn 86 triệu dân và mỗi năm sản xuất được khoảng 38 triệu tấn lương thực, xuất khẩu 5 - 6 triệu tấn gạo. Thời điểm này, chúng ta có thể dư thừa lương thực để xuất khẩu, nhưng tôi muốn chúng ta nhìn rộng hơn, khi dân số của ta lên hơn trăm triệu người. Vì vậy, vấởn đề an ninh lương thực cần đặt ra từ bây giờ.  

Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân cũng rất bức thiết. Mất 1ha đất nông nghiệp phải lo việc làm cho 13 lao động, riêng Đồng bằng sông Hồng lên tới 15 lao động. Đến nay, nông dân cả nước bị thu tới 19 vạn hecta đất, tương đương 2,5 triệu lao động mất việc làm. Song song đỏ, sức ép càng lớn khi mỗi năm ta có thêm 45 vạn lao động. Đây là bài toán rất khó giải. Nếu không giải quyết được thì gánh nặng trên các mặt an sinh xã hội sẽ vô cùng lớn. Vì vậy chúng ta phải thay đổi tư duy sản xuất truyền thống. Việc tìm loại cây, con có giá trị và phù hợp với từng vùng là vô cùng quan trọng. 

Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề cho nông dân phải đa dạng. Nên quan tâm phát triển nhiều loại hình nghề nghiệp, chăm lo phát triển “mỗi làng một nghề”. Xuất khẩu lao động cũng cần được chú trọng và thực hiện một cách nghiêm túc, theo đó đào tạo lao động trên cơ sở nhu cầu thực tế của các thị trường. Theo tôi, 10 thanh niên tốt nghiệp THPT, chỉ nên có 1/3 theo học cao đẳng, đại học; 1/3 học nghề; 1/3 làm các công việc khác. Nếu tất cả theo học đại học sẽ lại rơi vào tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”, lãng phí đào tạo. 

Cuối cùng là vấn đề môi trường. Hàng năm, nước ta sử dụng khoảng 20.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật; tình trạng ô nhiễm làng nghề cũng rất đáng báo động vì hầu hết làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải.

Về đầu trang


Ý kiến …Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Bảo đảm sự bình đẳng trong kinh doanh   

Nếu chúng ta chấp nhận nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh được coi là động lực của sự phát triển; không có cạnh tranh, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng trì trệ, không có sức sống. Điều này đã được thực tiễn chứng minh trong quá trình triển khai công cuộc đổi mới. Và muốn có cạnh tranh lành mạnh, đúng luật pháp, các tổ chức kinh tế cần được bình đẳng. 

Lành mạnh hóa môi trường kinh doanh 

Nghiên cứu các dự thảo văn kiện trình Đại hội lần thứ XI của Đảng, chúng tôi rất phấn khởi khi thấy trong Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã ghi: “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Dự thảo Báo cáo Chính trị viết: “Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội. Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh”. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cũng đã 3 lần nhấn mạnh tinh thần cạnh tranh bình đẳng.  

Thế nhưng, cũng ngay trong các dự thảo văn kiện vẫn thấy mệnh đề kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Thực tiễn cho thấy, một khi nhấn mạnh vai trò chủ đạo của một thành phần kinh tế đã đi đến xem nhẹ vai trò của các thành phần kinh tế khác, cũng tức là công nhận sự bất bình đẳng trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; không có sự cạnh tranh đúng nghĩa. 

Khi kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, doanh nghiệp nhà nước thường ỷ vào lợi thế của mình, đương nhiên sẽ không có động lực để nâng cao sức cạnh tranh, làm hạn chế việc phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của đội ngũ công nhân viên chức doanh nghiệp nhà nước.  

Thực tế là không phải doanh nghiệp nhà nước nào cũng gương mẫu trong sản xuất, kinh doanh mà khá nhiều doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ, Nhà nước phải lấy tiền thuế của dân để ứng cứu, thậm chí một số doanh nghiệp còn trở thành gánh nặng cho nền kinh tế đất nước. 

Xin nhấn mạnh rằng, làm sao có thể cạnh tranh bình đẳng, nếu như có những doanh nghiệp được ưu ái hơn doanh nghiệp khác, nếu như doanh nghiệp tư nhân còn phải chịu sự vòi vĩnh, sách nhiễu của cơ quan thuế, hải quan, quản lý thị trường, quản lý giao thông và chi phí bôi trơn làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh và giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa? 

Nếu như cần những “quả đấm mạnh” cho nền kinh tế, có thể thành lập những tập đoàn kinh tế ở một số ngành chủ chốt, nhưng phải là những tập đoàn đa sở hữu, có các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia và kinh doanh theo quy luật của kinh tế thị trường. 

Tạo động lực cho kinh tế tư nhân 

Hiện nay kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng nhiều cho công cuộc xây dựng đất nước. Đặc biệt là những năm gần đây, khu vực này đã đóng góp gần 50% GDP, giải quyết việc làm cho trên 70% lao động xã hội, trên 11% tổng thu ngân sách nhà nước, tạo ra khối lượng lớn sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000-2008, vốn đăng ký của doanh nghiệp tư nhân đã đạt 2.110 tỷ đồng, lớn hơn cả vốn FDI cùng kỳ; vốn đăng ký bình quân tăng 61,5%. Đó là chưa kể số vốn của gần 4 triệu hộ kinh doanh cá thể, trong đó có khá nhiều hộ có quy mô vốn và lao động lớn nhưng do nhiều nguyên nhân đã không đăng ký lập doanh nghiệp.  

Thế nhưng trong các dự thảo văn kiện trình Đại hội lần thứ XI, vấn đề kinh tế tư nhân chỉ được đề cập một cách mờ nhạt, chưa đánh giá đúng mức vị trí, tầm quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta trong thời kỳ hiện nay cũng như trong những năm tới.  

Chính vì vậy, xin đề nghị nhấn mạnh hơn nữa vị trí của kinh tế tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ sản xuất, các doanh nghiệp làng nghề. Đó là những tổ chức sản xuất, kinh doanh đang và sẽ thu hút một phần rất lớn lao động, nhất là ở khu vực nông thôn, những nơi đang thiếu việc làm do đô thị hóa, mất đất. Kinh tế thị trường phát triển, chắc chắn các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân sẽ trở thành động lực chủ yếu phát triển nền kinh tế. Vì vậy, xin kiến nghị khẳng định trong văn kiện: “Kinh tế tư nhân là động lực chủ yếu của nền kinh tế. Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân là một nhiệm vụ chiến lược. Cần xóa bỏ mọi kỳ thị, phân biệt đối xử; tạo môi trường thuận lợi khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh không hạn chế về quy mô trong những lĩnh vực có lợi cho quốc kế, dân sinh”.  

Đồng thời, để tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, cần đẩy mạnh cải cách hành chính. Ngoài việc tích cực cắt giảm những thủ tục phiền hà, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, điều cần làm hiện nay là rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, tức là xác định rõ sự “phân vai” của 3 tác nhân trong kinh tế thị trường: Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự. Từ đó, xác định rõ Nhà nước cần làm những gì và không nên hoặc không cần làm những gì mà nên chuyển giao cho thị trường hoặc các tổ chức xã hội dân sự thực hiện, như vậy sẽ đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn, tránh lãng phí, thất thoát. 

Cùng với đó là chấn chỉnh, làm trong sạch đội ngũ công chức, kịp thời xử lý những hành vi nhũng nhiễu, hạch sách người dân và doanh nghiệp. Cuối cùng, cần thực hiện bước đột phá trong cải cách tiền lương công chức. Đây cũng là biện pháp chủ yếu để góp phần chống tham nhũng.

Về đầu trang


Ý kiến của Ông Vũ Thành Vĩnh, Chủ tịch MTTQ quận Hoàn Kiếm: Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc

Dự thảo Báo cáo chính trị có mục nói về "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng", nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết TƯ 5 (khóa X). Tôi đề nghị cần xác định rõ việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác MTTQ, vì đây là vấn đề rất quan trọng được đại hội MTTQ các cấp vừa qua rất quan tâm. Thực tế cho thấy, MTTQ muốn đổi mới nội dung, phương thức và chất lượng hoạt động, trước hết phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. 

Bên cạnh đó, tôi xin đề nghị được đảo mệnh đề "ý Đảng, lòng dân" mà trước đây chúng ta hay nói và thực hiện thành "lòng dân, ý Đảng". Bởi vì chỉ khi nào trong nghị quyết của Đảng phản ánh cuộc sống nhân dân phong phú, thì khi đó nghị quyết mới đi vào cuộc sống một cách sinh động và hiệu quả. Đó là tiếng nói chân thành, thiết tha từ lòng dân đối với Đảng. Thực hiện đúng tinh thần ấy nhất định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ được phát huy, vai trò của MTTQ Việt Nam sẽ được nâng cao, sự đồng thuận xã hội và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc sẽ được nhân lên. Đây là nhân tố quyết định đưa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đi vào cuộc sống.

Về đầu trang


Góp ý kiến vào các văn kiện  Đại hội XI của Đảng Tăng cường kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng

Tôi nhất trí với dự thảo: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại". Trong phần 6 (nhỏ) có đoạn về kết quả công tác kiểm tra giám sát được coi trọng chất lượng, hiệu quả được nâng lên... nhưng tôi đề nghị đoạn này làm rõ hơn nguyên nhân  về vai trò lãnh đạo của Đảng, rất đổi mới, sáng suốt cụ thể như tehé nào để có được kết quả đó. Tôi cũng nhất trí với cả phần B đã nêu nhiều hạn chế, khuyết điểm, chứng tỏ bản lĩnh của Đảng. Điều này làm cho dân càng yêu Đảng.

Trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ  luật của Đảng đề nghị nói thêm một số hạn chế, khuyết điểm nữa là trong cả nước có không ít tổ chức cơ sở Đảng chỉ xử lý nội bộ, không công khai kỷ luật Đảng cho dân biết, bàn, kiểm tra nên làm giảm lòng tin của dân.

Tại phần XII và mục 7 (nhỏ) đề nghị nêu thêm công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng  cần làm đúng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: "lãnh đạo quên kiểm tra là một sai lầm rát to (báo sự thật số ra ngày 30/11/1948 ký tên XYZ". Tiếp đó Bác dạy: "Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra mới đủ kinh nghiệm và oai tín". Ngày 29/7/1964 trong một bài nói chuyện, Bác kính yêu nhắc nhở: "các cấp uỷ Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra". Vậy đề nghị Dự thảo nêu rõ toàn Đảng ta nhất là tất cả các cấp từ chi uỷ trở lên đều phải làm tốt công tác kiểm tra giám sát không khoán trắng cho cán bộ kiểm tra, không xử lý nội bộ, mà thẳng thắn công khai kỷ luật Đảng cho dân biết, bàn, kiểm tra, giám sát vì công việc của Đảng cũng là công viêc của dân. Vì càng công khai thì dân càng thêm tin yêu Đảng. Bởi Đảng ta từ 3/2/1930 đến nay đã thực sự là Đảng vĩ đại của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lơi ích gì khác. Nên đề nghị dự thảo nêu rõ trong nhiệm kỳ 5 năm 2005 - 2010 Đảng đã phát hiện, xử lý  kỷ luật Đảng nhiều vụ và có đánh giá để tạo niềm tin của dân.

Tôi đã đọc kỹ kết luận của Dự thảo nêu trên: "Đất nước ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức tolớn và đang vững bước đi lên...đến hết). Tôi tha thiết đề nghị ghi thêm nội dung nữa đặc biệt quan trọng mà kết luận chưa đề cập là: toàn đảng, toàn dân, toàn quân quyết đoàn kết phấn đấu làm đúng điều mong muốn cuối cùng trong di chúc thiêng liêng viết ngày 10/5/1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nguyễn Cảnh

Đảng bộ thị trấn Phúc Thọ, Hà Nội

Về đầu trang


Họp báo về Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sáng ngày 10/1/2011 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình - Hà Nội, được sự đồng ý của Bộ Chính trị và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội XI của Đảng, Trung tâm báo chí Đại hội XI tổ chức họp báo trong nước và quốc tế về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam.Đồng chí Tô Huy Rứa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao, Hội Nhà báo Việt Nam chủ trì buổi họp báo. Tham dự buổi họp báo còn có đại diện các ban, ngành, MTTQ Việt Nam, các đoàn thể, đông đảo các phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí trong nước và ngoài quốc tế.

Đồng chí Nguyễn Bắc Son - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, thành viên Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội XI thay mặt các đồng chí chủ trì buổi họp báo thông báo về Đại hội XI.

Được biết, tham dự Đại hội Đảng XI có 1.377 đại biểu, đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên sinh hoạt ở gần 54.000 tổ chức cơ sở đảng. Ngoài số đại biểu chính thức, Đại hội còn mời các vị nguyên là Tổng Bí thư, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Thủ tướng Chính phủ, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng… đại diện Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, đại diện thế hệ trẻ. Đại hội cũng mời các vị Đại sứ, đại diện ngoại giao các nước, các tổ chức quốc tế đến tham dự.

Chủ đề của Đại hội XI là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Ban Chấp hành Trung ương khóa mới phấn đấu sẽ tăng tỷ lệ trẻ, tỷ lệ nữ, tỷ lệ cán bộ người dân tộc, cán bộ khoa học trong Ban chấp hành Trung ương, đảm bảo có tính kế thừa, số mới không dưới 1/3 và có 3 độ tuổi.

Đại hội Đảng XI diễn ra từ ngày 12 đến 19/1 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Thủ đô Hà Nội. Hơn 700 phóng viên trong nước và quốc tế sẽ tham gia đưa tin.

Đại hội sẽ họp phiên trù bị ngày 11/1 để thông qua chương trình, qui chế làm việc, bầu Đoàn chủ tịch, đoàn Thư ký, Ban thẩm tra tư cách đại biểu… Phiên chính thức sẽ họp từ ngày 12-19/1/2011. Tại đại hội chính thức, sẽ có một số phiên thảo luận tổ và một số phiên thảo luận tại Hội trường.

Các đồng chí chủ trì họp báo đã giải đáp các câu hỏi của các phóng viên trong nước và quốc tế làm rõ hơn chủ đề của Đại hội, công tác nhân sự, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đường lối đối ngoại của Đảng ta, công tác chuẩn bị Đại hội.

Phát biểu tại họp báo, đồng chí Tô Huy Rứa chào mừng và cảm ơn tình cảm, sự quan tâm của các nhà báo trong nước và quốc tế dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam và cho sự phát triển của đất nước Việt Nam trong thời gian tới. Đồng chí nhấn mạnh: Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đồng chí Tô Huy Rứa mong muốn các cơ quan báo chí và các nhà báo sẽ phối hợp chặt chẽ với Trung tâm báo chí, các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đưa được nhiều thông tin bổ ích, cần thiết, chính xác, kịp thời, sinh động tới đông đảo công chúng trong cả nước và bạn bè quốc tế. 

                                                                                                      Hoàng Quy

Về đầu trang


Danh sách Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra TW, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra TW khoá XI

Chiều ngày 18-1, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI họp Hội nghị lần thứ nhất, đã bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra TW, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra TW.

 

Tổng Bí thư: Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI

Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí:

 

 1.Đồng chí Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư; Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.

 

 

 2. Đồng chí Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc Phòng; Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.

 

 3. Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.

 

 4. Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.

 

 5. Đồng chí Lê Hồng Anh , Bộ trưởng Công an, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IX, X.

 

 6. Đồng chí Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP HCM, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X.

 

 7. Đồng chí Tô Huy Rứa, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X.

 

 8.Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X;

 

 9. Đồng chí Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.

 

 10. Đồng chí Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an.

 

 11. Đồng chí Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội.

 

 12. Đồng chí Ngô Văn Dụ, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

 

 13. Đồng chí  Đinh Thế Huynh, Tổng biên tập báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam.

 

14. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

 Ban Bí thư:

Bộ Chính trị sẽ cử 1 số đồng chí trong Bộ Chính trị tham gia Ban Bí thư; Ban Chấp hành TW bầu các đồng chí sau:

1. Đồng chí Ngô Xuân Lịch

2. Đồng chí Trương Hoà Bình

3. Đồng chí Hà Thị Khiết

4. Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân

Ban Chấp hành TW bầu 21 đồng chí vào Ủy ban Kiểm tra TW và bầu đồng chí Ngô Văn Dụ làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW khóa XI

 Theo Báo ĐTĐCSVN

Về đầu trang


Danh sách Ủy viên Chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI

Sáng ngày 18/1, trong phiên họp toàn thể tại Hội trường, Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã công bố Danh sách chính thức các đồng chí trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI. Sau đây là toàn bộ Danh sách.

DANH SÁCH
UỶ VIÊN CHÍNH THỨC BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XI

    1.    

Hoàng Tuấn Anh

UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

    2.    

Lê Hồng Anh

UVBCT, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an

    3.    

Lê Thị Thu Ba

UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội

    4.    

Hà Ban

Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum

    5.    

Bùi Quang Bền

Bí thư Tỉnh uỷ Kiên Giang

    6.    

Dương Thanh Bình

Bí thư Tỉnh uỷ Cà Mau

    7.    

Nguyễn Hoà Bình

Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi

    8.    

Nguyễn Thái Bình

UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ

    9.    

Nguyễn Thanh Bình

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh

    10.    

Nguyễn Văn Bình

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    11.    

Phan Thanh Bình

UVTWDK, Thành uỷ viên, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

    12.    

Trương Hoà Bình

UVTWĐ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao

    13.    

Lương Ngọc Bính

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Bình

    14.    

Huỳnh Minh Chắc

Bí thư Tỉnh uỷ Hậu Giang

    15.    

Lê Chiêm

Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 5 - Bộ Quốc phòng

    16.    

Đỗ Văn Chiến

UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang

    17.    

Hà Ngọc Chiến

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Cao Bằng

    18.    

Võ Minh Chiến

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Sóc Trăng

    19.    

Mai Văn Chính

UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Long An

    20.    

Phạm Minh Chính

Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an

    21.    

Phạm Thị Hải Chuyền

UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Thường  trực Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

    22.    

Nguyễn Thành Cung

UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

    23.    

Đinh Văn Cương

UVTWĐ, Phó Trưởng ban Thường trực  Ban Chỉ đạo Tây Bắc

    24.    

Hà Hùng Cường

UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp

    25.    

Lương Cường

Trung tướng, Chính uỷ Quân khu 3 - Bộ Quốc phòng

    26.    

Nguyễn Quốc Cường

UVTWĐ, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam

    27.    

Nguyễn Xuân Cường

Bí thư Tỉnh uỷ Bắc Kạn

    28.    

Nguyễn Thị Doan

UVTWĐ, Phó Chủ tịch nước

    29.    

Ngô Văn Dụ

BTTWĐ, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng

    30.    

Đào Ngọc Dung

UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Yên Bái

    31.    

Đinh Tiến Dũng

Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình

    32.    

Mai Tiến Dũng

Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam

    33.    

Nguyễn Chí Dũng

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận

    34.    

Nguyễn Tấn Dũng

UVBCT, Thủ t­ướng Chính phủ

    35.    

Phan Xuân Dũng

UVTWDK, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

    36.    

Trần Trí Dũng

Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh

    37.    

Trịnh Đình Dũng

UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Xây dựng

    38.    

Võ Văn Dũng

UVTWDK, Bí thư Tỉnh uỷ  Bạc Liêu

    39.    

Mai Thế Dương

UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

    40.    

Vũ Đức Đam

UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Quảng Ninh

    41.    

Trần Đơn

Thiếu tướng, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 7 - Bộ Quốc phòng

    42.    

Lê Hữu Đức

 Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

    43.    

Phạm Xuân Đương

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên

    44.    

Lò Văn Giàng

Bí thư Tỉnh uỷ Lai Châu

    45.    

Nguyễn Văn Giàu

UVTWĐ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    46.    

Nguyễn Thị Thu Hà

Phó Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh

    47.    

Phạm Hồng Hà

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Nam Định

    48.    

Hoàng Trung Hải

UVTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ

    49.    

Lê Thanh Hải

UVBCT, Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh

    50.    

Nguyễn Đức Hải

Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam

    51.    

Trần Lưu Hải

UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương

    52.    

Trần Văn Hằng

UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

    53.    

Phùng Quốc Hiển

UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách của  Quốc hội

    54.    

Nguyễn Văn Hiến

UVTWĐ, Phó Đô đốc Hải quân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư­ lệnh Quân chủng Hải quân

    55.    

Đặng Văn Hiếu

UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an

    56.    

Dương Đức Hoà

Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 2 - Bộ Quốc phòng

    57.    

Nguyễn Thị Thanh Hoà

UVTWĐ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

    58.    

Ph­ương Minh Hoà

UVTWĐ, Trung tướng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng

    59.    

Bùi Thị Minh Hoài

UVTWDK, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân Việt Nam

    60.    

Vũ Huy Hoàng

UVTWĐ, Bộ tr­ưởng Bộ Công thương

    61.    

Vũ Ngọc Hoàng

UVTWĐ, Phó Tr­ưởng ban Tuyên giáo Trung ương

    62.    

Vương Đình Huệ

UVTWĐ, Tổng Kiểm toán Nhà n­ước

    63.    

Nguyễn Sinh Hùng

UVBCT, Phó Thủ t­ướng Thường trực Chính phủ

    64.    

Phạm Xuân Hùng

UVTWĐ, Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam

    65.    

Trần Quốc Huy

Bí thư Tỉnh uỷ Đắc Nông

    66.    

Đinh Thế Huynh

UVTWĐ, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân

    67.    

Nguyễn Tấn Hưng

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Phước

    68.    

Thuận Hữu

PhóTổng Biên tập Báo Nhân Dân

    69.    

Nguyễn Tuấn Khanh

UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương

    70.    

Nguyễn Doãn Khánh

Bí thư Tỉnh uỷ Phú Thọ

    71.    

Trương Quang Khánh

UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

    72.    

Hà Thị Khiết

BTTWĐ, Tr­ưởng Ban Dân vận Trung ương

    73.    

Phùng Thanh Kiểm

Bí thư Tỉnh uỷ Lạng Sơn

    74.    

Vũ Trọng Kim

UVTWĐ, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    75.    

Tô Lâm

Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an

    76.    

Ngô Xuân Lịch

UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam

    77.    

Đào Tấn Lộc

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên

    78.    

Phạm Vũ Luận

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

    79.    

Uông Chu Lưu

UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội

    80.    

Trương Thị Mai

UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội

    81.    

Trần Thanh Mẫn

UVTWDK, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Cần Thơ

    82.    

Châu Văn Minh

Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

    83.    

Nguyễn Tuấn Minh

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

    84.    

Phạm Bình Minh

UVTWĐ, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao

    85.    

Trần Bình Minh

Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam

    86.    

Trần Văn Minh

Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẵng

    87.    

Bùi Văn Nam

Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an

    88.    

Nguyễn Phương Nam

Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng QK9 - Bộ Quốc phòng

    89.    

Nguyễn Văn Nên

Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh

    90.    

Nguyễn Thị Kim Ngân

UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

    91.    

Phạm Quang Nghị

UVBCT, Bí thư­ Thành uỷ Hà Nội

    92.    

Trương Quang Nghĩa

Bí thư Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương

    93.    

Phạm Quý Ngọ

Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an

    94.    

Hồ Mẫu Ngoạt

Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng

    95.    

Trần Thế Ngọc

Bí thư Tỉnh uỷ Tiền Giang

    96.    

Nguyễn Thiện Nhân

UVTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ

    97.    

Hà Sơn Nhin

UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Gia Lai

    98.    

Mai Văn Ninh

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thanh Hoá

    99.    

Vũ Văn Ninh

UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Tài chính

    100.    

Nguyễn Thị Nương

UVTWĐ, Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương

    101.    

Nguyễn Đình Phách

UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

    102.    

Cao Đức Phát

UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

    103.    

Mai Quang Phấn

UVTWĐ, Trung tướng, Chính uỷ Quân khu 4 - Bộ Quốc phòng

    104.    

Nguyễn Thành Phong

Bí thư Tỉnh uỷ Bến Tre

    105.    

Tòng Thị Phóng

BTTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội

    106.    

Lê Hữu Phúc

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị

    107.    

Nguyễn Hạnh Phúc

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình

    108.    

Nguyễn Xuân Phúc

UVTWĐ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ

    109.    

Võ Văn Phuông

UVTWDK, Phó Bí thư­ Tỉnh uỷ Tây Ninh

    110.    

Giàng Seo Phử

UVTWĐ, Bộ tr­ưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc

    111.    

Ksor Phước

UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội

    112.    

Lê Thanh Quang

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Khánh Hoà

    113.    

Nguyễn Minh Quang

UVTWĐ, Bí thư Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương

    114.    

Trần Đại Quang

UVTWĐ, Trung tướng, Thứ tr­ưởng Bộ Công an

    115.    

Hoàng Bình Quân

UVTWĐ, Tr­ưởng Ban Đối ngoại Trung ương

    116.    

Lê Hoàng Quân

UVTWĐ, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh

    117.    

Nguyễn Quân

Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ

    118.    

Nguyễn Tấn Quyên

UVTWĐ, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND thành phố Cần Thơ

    119.    

Bùi Thanh Quyến

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Hải D­ương

    120.    

Nguyễn Văn Quynh

UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương

    121.    

Tô Huy Rứa

UVBCT, BTTWĐ, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

    122.    

Trương Tấn Sang

Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư

    123.    

Phan Văn Sáu

Bí thư Tỉnh uỷ An Giang

    124.    

Nguyễn Bắc Son

UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

    125.    

Hồ Xuân Sơn

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao

    126.    

Huỳnh Ngọc Sơn

UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội

    127.    

Nguyễn Thanh Sơn

UVTWDK, Phó Bí thư­ Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang

    128.    

Thào Xuân Sùng

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh  Sơn La

    129.    

Lê Vĩnh Tân

Bí thư Tỉnh uỷ Đồng Tháp

    130.    

Tạ Ngọc Tấn

UVTWĐ, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

    131.    

Ngô Thị Doãn Thanh

Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội

    132.    

Nguyễn Bá Thanh

UVTWĐ, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND thành phố Đà Nẵng

    133.    

Phùng Quang Thanh

UVBCT, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

    134.    

Nguyễn Văn Thành

Bí thư Thành uỷ Hải Phòng

    135.    

Trần Đình Thành

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai

    136.    

Nguyễn Thế Thảo

UVTWĐ, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội

    137.    

Đinh La Thăng

UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam

    138.    

Nguyễn Xuân Thắng

Phó Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

    139.    

Sơn Minh Thắng

Tỉnh uỷ viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trà Vinh

    140.    

Đào Trọng Thi

UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá Giáo dục - Thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội

    141.    

Nguyễn Ngọc Thiện

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế

    142.    

Nguyễn Văn Thiện

Bí thư Tỉnh uỷ Bình Định

    143.    

Đặng Thị Ngọc Thịnh

UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Vĩnh Long

    144.    

Nguyễn Văn Thông

Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên

    145.    

Niê Thuật

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk

    146.    

Võ Văn Th­ưởng

UVTWDK, Bí thư­ thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

    147.    

Huỳnh Văn Tí

UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Thuận

    148.    

Nguyễn Thị Kim Tiến

UVTWDK, Thứ trưởng Bộ Y tế

    149.    

Nguyễn Xuân Tiến

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Lâm Đồng

    150.    

Bùi Văn Tỉnh

Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hoà Bình

    151.    

Phan Đình Trạc

Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An

    152.    

Huỳnh Phong Tranh

UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Lâm Đồng

    153.    

Lò Mai Trinh

Bí thư Tỉnh uỷ Điện Biên

    154.    

Nguyễn Phú Trọng

UVBCT, Chủ tịch Quốc hội

    155.    

Đào Việt Trung

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao

    156.    

Mai Thế Trung

UVTWĐ, Bí thư­ Tỉnh uỷ Bình Dương

    157.    

Nguyễn Thế Trung

UVTWĐ,  Phó trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương

    158.    

Võ Tiến Trung

Trung tướng, Giám đốc Học viện Quốc phòng - Bộ Quốc phòng

    159.    

Mai Trực

Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

    160.    

Bế Xuân Trường

Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 1 - Bộ Quốc phòng

    161.    

Trần Cẩm Tú

UVTWDK, Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

    162.    

Nông Quốc Tuấn

Bí thư Tỉnh uỷ Bắc Giang

    163.    

Đặng Ngọc Tùng

UVTWĐ, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

    164.    

Trần Văn Tuý

 Phó Bí thư Tỉnh uỷ,  Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh

    165.    

Đỗ Bá Tỵ

UVTWĐ, Trung tướng, Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

    166.    

Nguyễn Hữu Vạn

Bí thư Tỉnh uỷ Lào Cai

    167.    

Nguyễn Sáng Vang

Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang

    168.    

Nguyễn Hoàng Việt

UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương

    169.    

Võ Trọng Việt

Trung tướng, Chính uỷ Bộ đội Biên phòng - Bộ Quốc phòng

    170.    

Bùi Quang Vinh

UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    171.    

Triệu Tài Vinh

UVTWDK, Bí thư­ Tỉnh uỷ Hà Giang

    172.    

Nguyễn Chí Vịnh

Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

    173.    

Phạm Văn Vọng

Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc

    174.    

Lê Quý Vương

Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an

    175.    

Trần Quốc Vượng

UVTWĐ, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

 Theo Báo ĐTĐCSVN  

Về đầu trang


Danh sách Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI

Sáng ngày 18/1, trong phiên họp toàn thể tại Hội trường, Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã công bố Danh sách Uỷ viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI. Sau đây là toàn bộ Danh sách.

DANH SÁCH

UỶ VIÊN DỰ KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XI

STT

Họ và tên

Chức vụ, đơn vị công tác hiện nay

1.

Chu Ngọc Anh

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

2.

Nguyễn Xuân Anh

Ủy viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Bí thư Quận uỷ Liên Chiểu, Đà Nẵng

3.

Tất Thành Cang

Thành uỷ viên, Bí thư Quận uỷ, Chủ tịch UBND quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh

4.

Nguyễn Tân Cương

Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1, Bộ Quốc phòng

5.

Bùi Văn Cường

Phó Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai

6.

Nguyễn Phú Cường

Tỉnh uỷ viên, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai

7.

Nguyễn Công Định

Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch HĐND huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre

8.

Trần Hồng Hà

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

9.

Ngô Đông Hải

Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Hoài Ân, Bình Định

10.

Điểu Kré

UVTWDK, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

11.

Hầu A Lềnh

UVTWDK, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Huyện uỷ Sa Pa, Lào Cai

12.

Bh'Riu Liếc

Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

13.

Nguyễn Hồng Lĩnh

UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Bà Rịa - Vũng Tàu

14.

Lâm Văn Mẫn

Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng

15.

Phạm Hoài Nam

Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng vùng 4, Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng

16.

Nguyễn Thanh Nghị

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh

17.

Phùng Xuân Nhạ

Thành uỷ viên, Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội

18.

Trần Lưu Quang

Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

19.

Nguyễn Thị Thanh

Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh uỷ Ninh Bình

20.

Trần Sỹ Thanh

Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk

21.

Nguyễn Văn Thể

Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Huyện uỷ Tân Hồng, Đồng Tháp

22.

Nguyễn Khắc Toàn

Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thành uỷ Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà

23.

Nguyễn Thị Tuyến

Thành uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; Đại biểu QH khoá XII

24.

Nguyễn Đắc Vinh

Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

25.

Võ Thị Ánh Xuân

Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ Tân Châu, tỉnh An Giang

 Theo Báo ĐTĐCSVN   

Về đầu trang


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thành công tốt đẹp

Sáng 19/1, sau 9 ngày làm việc nghiêm túc, khẩn trương, dân chủ, với ý thức trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra và thành công tốt đẹp. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được Đại hội bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

Đại hội đã thảo luận sôi nổi, dân chủ và nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2011 - 2015 và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương lần thứ XI gồm 175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên, Ban Bí thư gồm 4 ủy viên, bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 21 đồng chí.

Ban Chấp hành Trung ương đã bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng giữ chức Tổng Bí thư của Đảng. Đồng chí Ngô Văn Dụ được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Phát biểu tại phiên bế mạc, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã chúc mừng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XI. Đồng chí bày tỏ tin tưởng rằng, thành công của Đại hội sẽ mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước ta trên con đường xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phát biểu bế mạc Đại hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Các văn kiện được thông qua tại Đại hội lần này là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 20 năm thực hiện Cương lĩnh, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001 - 2010) và 5 năm thực hiện phương hướng, nhiệm vụ kinh tế - xã hội (2006 - 2010), là sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta; là sự tiếp tục khẳng định, hoàn thiện và phát triển quan điểm, đường lối của Đảng ta theo tư tưởng đổi mới; xác định mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tộc ta trong giai đoạn phát triển mới đầy triển vọng và không ít thách thức của cách mạng nước ta từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

Sự thống nhất ý chí của Đại hội biểu thị quyết tâm sắt đá của Đảng ta, trong những năm tới, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".

Theo Tổng Bí thư, để thực hiện mục tiêu cao cả đó, Đại hội đã thảo luận và thông qua những quvết sách trên tất cả các lĩnh vực cơ bản và trọng yếu của sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những năm tới. Những quyết sách trên giữ vai trò vô cùng quan trọng, có giá trị định hướng và chỉ đạo sâu sắc trong toàn bộ quá trình triển khai và tổ chức thực hiện trong thực tiễn phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước 5 năm, 10 năm và 20 năm tới.

Đại hội đã tập trung thảo luận và thông qua những nhiệm vụ to lớn nhằm tiếp tục chỉnh đốn, xây dựng và tự đổi mới Đảng với mục tiêu nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đại hội nhấn mạnh đến sự đoàn kết, thống nhất ý chí của toàn Đảng trên cơ sở Cương lĩnh và đường lối, quan điểm của Đảng, đến sự gắn bó mật thiết với giai cấp, với nhân dân lao động và dân tộc như là một phẩm chất cốt lõi nhất thể hiện bản chất và sức sống của Đảng. Để đảm bảo sự trong sạch và vững mạnh cũng như uy tín, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Đại hội nhận thức sâu sắc và thể hiện quyết tâm đẩy mạnh và có những giải pháp nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Đại hội đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh trong các buổi thảo luận, trong các văn kiện nhiệm vụ to lớn cần kiên trì chỉ đạo việc thực thi và phát huy dân chủ trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, đảm bảo thực hiện bằng được tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh : "Quyền hạn và lực lượng đều ở nơi dân". Đại hội khẳng định rằng, trong những năm tới, nhiệm vụ xây dựng Đảng là nhân tố quyết định để giữ vững vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng, để Đảng thực sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tạo nên sức mạnh cổ vũ to lớn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt lên mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ cơ hội mới, phấn đấu vì mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Ngay sau Đại hội, tất cả các tổ chức đảng cần tổ chức tốt việc nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết, các văn kiện Đại hội, tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân về kết quả Đại hội; khẩn trương xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động, đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, đồng bào ta ở trong nước cũng như ở ngoài nước, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

 Theo Báo ĐTĐCSVN   

Về đầu trang


 

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
 ĐẠI HỘI MTTQ VIỆT NAM LẦN THỨ VII THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

Giới thiệu Uỷ ban MTTQ Việt Nam 63 tỉnh, thành phố trong cả nước !

 Đ/c Huỳnh Đảm
 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương 
MTTQ Việt Nam
 

Đ/c Vũ Trọng Kim
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam

 

 

 

 

 

 

Kết quả thực hiện Quy chế phối hợp giữa Chủ tịch Nước và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam năm 2008

Làm việc với Ðoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương  MTTQ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để ngăn chặn suy giảm kinh tế, phát triển bền vững

Hội nghị liên tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

 

 
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM          
 
 
 
 
 
 
 
 

|   Giới thiệu  |   Mặt trận Tỉnh Thành  | Tổ chức thành viên |  Hội đồng tư vấn   |   English

 | Trở Về đầu trang    |

Tòa soạn | Lịch sử | Thỏa thuận sử dụng | Trợ giúp | Sitemap | Liên hệ
© 2008 Trang TTĐT - Cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam.
Giấy phép số:111/GP-BC của Bộ Thông tin và Truyền thông • Trưởng ban Biên tập: LÊ BÁ TRÌNH • Phó ban Biên tập: NGUYỄN TUẤN ANH
Địa chỉ: 46 Tràng Thi - Hà Nội • ĐT:04-9287401;  Email:
ubmttqvn@mattran.org.vn