|
Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng thành công tốt đẹp
Danh sách Bộ
Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm
tra TW, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra TW khoá XI
Danh sách Ủy viên Chính
thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khóa XI
Danh sách Ủy
viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam khóa XI
Họp
báo về Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Thông tri số 12/TTr-MTTW-BTT, ngày 23 tháng 9
năm 2010 hướng dẫn góp ý kiến vào các dự
thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa
X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Ðảng
Hội
nghị Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt
Nam lần thứ tư (khoá VII)
Về
vị trí và vai trò của MTTQ Việt Nam
Tạo
lập và phát huy các động lực của sự phát triển
Cần
bổ sung những hạn chế và khuyết điểm
Lược
ghi ý kiến phát biểu của GS.TSKH Phạm thị Trân
Châu, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam vào các dự thảo Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ XI
Chủ
nghĩa xã hội mục tiêu thiêng liêng của cả dân
tộc
Góp
ý kiến vào các văn kiện Đại hội XI của Đảng
Tăng cường kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ
luật của Đảng
Về
chủ đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị
Góp ý dự thảo các
Văn kiện
MTTQ Thành phố Hà
Nội góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội
XI của Đảng
Nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo Bến Tre góp
ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng
lần thứ XI
Góp
ý kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI
của Đảng: Vấn đề dân tộc cần được đề cập sâu sắc
hơn
Xây
dựng cơ chế nhân dân làm chủ
Ý
kiến góp ý của GS TS Đỗ Quang Hưng, Chủ nhiệm
Hội đồng tư vấn về Tôn giáo, Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Cần tiếp tục đổi mới
chính sách tôn giáo
Cần
có chiến lược về giai cấp công nhân
Cộng đồng doanh nhân là nhân tố quan trọng phát
triển nền kinh tế đất nước
Dự
thảo Cương lĩnh cần xác định rõ hơn nữa vai trò
của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Ðể
phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
trong thời kỳ mới
Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam: góp ý vào Dự thảo
các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng
Góp
ý kiến vào Dự thảo các văn kiện Đại hội XI của
Đảng: Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc
Nhiều đảng viên thuộc Đảng bộ tỉnh Phú Yên đóng
góp ý kiến vào Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất
nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Để
thực sự dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam góp ý các Dự thảo Văn kiện trình Ðại
hội XI của Ðảng
Cần cụ thể hóa cơ
chế “Nhân dân làm chủ”
Bàn
về dân chủ trong Đảng
Ủy
ban MTTT tỉnh Hưng Yên: Tổ chức lấy ý kiến đóng
góp vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI
Ý kiến... Nguyễn
Phan Luỹ - Nguyên Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt Nam,
nguyên Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng
Ý
kiến góp ý của PGS.TS Phan Hữu Tiến, Ủy viên Hội
đồng tư vấn Khoa học-Giáo dục,Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào các văn kiện trình
Đại hội XI của Đảng
Ý kiến góp ý của
Bà Nguyễn Thị Minh Phương-Viện Khoa học Giáo dục
Việt Nam vào các Dự thảo Văn kiện trình Ðại hội
XI của Ðảng
Ðổi
mới tổ chức, hoạt động của chính quyền ở cơ sở
Ý kiến góp ý của
TS.Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL: Cần
có chính sách kịp thời cho người trồng lúa
Ý kiến góp ý của
Ông Bùi Sỹ Tiếu, PCT T.Ư Hội Làm vườn VN: Phải
đặc biệt quan tâm đến vấn đề an sinh xã hội
Ý kiến …Vũ Quốc
Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Bảo
đảm sự bình đẳng trong kinh doanh
Ý kiến của Ông Vũ
Thành Vĩnh, Chủ tịch MTTQ quận Hoàn Kiếm: Đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt
trận Tổ quốc
Góp ý kiến vào
các văn kiện Đại hội XI của Đảng Tăng cường
kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng
UỶ BAN
TRUNG ƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Số: 12/TTr-MTTW-BTT
Hà Nội, ngày 23 tháng 09 năm 2010
THÔNG TRI
Hướng dẫn góp ý
kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành
Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Ðảng
Ngày 10-9-2010, Ban Tuyên giáo
Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 112-BTGTW về
việc công bố và lấy ý kiến của các tổ chức, cán
bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn
kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình
Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng,
Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam
hướng dẫn công tác Mặt trận tham gia góp ý kiến
vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung
ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Ðảng như sau:
1. Tầm quan trọng và ý nghĩa
Nội dung các dự thảo văn kiện và
việc lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cán bộ,
đảng viên và nhân dân vào vào các dự thảo văn
kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình
Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng
có tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt nhằm xác
định hướng đi lâu dài, đánh giá tổng quát quá
trình cách mạng Việt Nam; đánh giá những thành
tựu và hạn chế thực hiện Chiến lược kinh tế-xã
hội 2001-2010 và chiến lược phát triển kinh
tế-xã hội năm 2011-2020; đánh giá việc thực hiện
Nghị quyết Đại hội X của Đảng, phương hướng
nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011-2015;
đồng thời phát huy trách nhiệm, dân chủ trong
mọi tầng lớp nhân dân góp phần hiến kế xây dựng
Đảng, xây dựng đất nước theo tinh thần của Điều
lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân
dân lao động và của dân tộc”.
2. Yêu cầu và cách thức tiến
hành
- Ban Thường trực Uỷ ban Trung
ương Mặt trân Tổ quốc Việt Nam đề nghị Uỷ ban
MTTQ các cấp và các tổ chức thành viên tổ chức
góp ý vào dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành
Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Ðảng. Đây là đợt sinh hoạt
chính trị sâu rộng để quán triệt những định
hướng lớn của Đảng trong cán bộ, đảng viên và
nhân dân. Việc tổ chức góp ý cần bảo đảm dân chủ,
trách nhiệm, chân thành, cởi mở và tôn trọng
những ý kiến khác nhau. Thông qua việc tổ chức
góp ý để tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa
Đảng với nhân dân; phát huy tinh thần trách
nhiệm của mỗi người dân đối với Đảng.
- Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương: Tổ chức Hội nghị Uỷ ban
MTTQ tỉnh, thành phố mở rộng để góp ý, trong đó
cần mời các thành phần mở rộng là các nhóm đại
biểu đại diện các tổ chức thành viên, các ngành,
các giới, các thành phần tham gia (không chỉ mời
một người đại diện). Đối với các địa phương có
nhiều đối tượng, thành phần như dân tộc thiểu số,
các tôn giáo, doanh nhân, vùng đông người Hoa...
có thể tổ chức riêng hội nghị góp ý trong từng
đối tượng, thành phần một cách phù hợp. Uỷ ban
MTTQ các tỉnh, thành phố mời đồng chí Bí thư
tỉnh, thành uỷ hoặc một đồng chí trong Thường
trực, Ban Thường vụ tỉnh, thành uỷ đến dự và
phát biểu, hướng dẫn việc góp ý vào dự thảo văn
kiện.
- Các tổ chức thành viên: Thông
qua các hình thức khác nhau để tổ chức việc lấy
ý kiến rộng rãi của đoàn viên, hội viên của tổ
chức mình tham gia góp ý vào dự thảo các văn
kiện.
3. Thời gian tiến hành
Việc tổ chức góp ý được tiến hành
sau khi công bố dự thảo các văn kiện của Ban
Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng trên các
phương tiện thông tin đại chúng (ngày
15-9) đến hết ngày 31-10-2010.
4.
Tổng hợp ý kiến
- Uỷ ban MTTQ các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương tổng hợp bằng văn bản ý
kiến của Mặt trận Tổ quốc các cấp, của các tầng
lớp nhân dân tham gia vào dự thảo các văn kiện
gửi về Ban Dân vận tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam - 46 Tràng Thi -
quận Hoàn Kiếm - Hà Nội hoặc gửi ý kiến đóng góp
về địa chỉ Email:
takinhbac@yahoo.com.vn.
- Các
tổ chức thành viên
tổng hợp bằng văn bản ý kiến của các đoàn viên,
hội viên tham gia vào dự thảo các văn kiện gửi
về Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam - 46 Tràng Thi -
quận Hoàn Kiếm - Hà Nội hoặc gửi ý kiến đóng góp
về địa chỉ Email:
takinhbac@yahoo.com.vn.
TM. BAN
THƯỜNG TRỰC
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KÝ
Nơi nhận:
- Ban Bí thư (báo cáo);
(Đã Ký)
- Uỷ ban MTTQVN
các tỉnh, thành phố;
Vũ Trọng Kim
- Các tổ chức
thành viên;
- Chủ tịch, Các
Phó Chủ tịch,
VP,
Ban CTPN và các ban, đơn vị MTTW;
- Các VP: TW Đảng, Chủ tịch nước,
Quốc hội, Chính phủ;
- Ban Dân vận TW;
- Ban Tuyên giáo TW;
- Vụ Tổng hợp-Văn phòng TW Đảng;
- Vụ Đoàn thể-Ban Dân vận TW;
- Vụ Tuyên truyền-Ban Tuyên giáo
TW;
- Vụ Tổng hợp, Văn phòng Chính
phủ;
- Lưu Văn thư, Tổng hợp MTTW.
Về đầu trang
Dự thảo Cương lĩnh cần xác định rõ hơn nữa vai
trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân
Đó
là ý kiến của đồng chí Phạm Xuân Thăng, Uỷ viên
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hải Dương khoá XV, Chủ
tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Đại biểu Đảng
bộ tỉnh Hải Dương đi dự Đại hội XI của Đảng, góp
ý vào Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011).
...Trong Dự thảo Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, tại
phần IV “Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo
của Đảng”, những nội dung về dân chủ xã hội chủ
nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân tiếp tục được bổ sung những quan điểm
mới, thể hiện sự phát triển về tư duy, nhận thức
của Đảng ta qua mỗi giai đoạn, mỗi kỳ đại hội
phù hợp với sự phát triển của thời đại, của thực
tiễn cuộc sống; Trong đó, đặc biệt đã bổ sung
làm rõ hơn những nội dung thể hiện mối quan hệ
hữu cơ, biện chứng giữa phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa và vai trò to lớn của nhân dân, như
“Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện
trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả
các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do
nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực
tiếp”, “Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân,
thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, tôn
trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự
giám sát của nhân dân”. Dự thảo Cương lĩnh cũng
chỉ rõ “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể
nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự
nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; đại diện cho quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn
viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã
hội lành mạnh…” Nội dung này đã kế thừa và tiếp
tục khẳng định vai trò, vị thế, trách nhiệm của
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong
hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu Dự thảo Cương lĩnh bổ sung, phát
triển năm 2011, tôi đề nghị cần xác định rõ nét
hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân trong nhiệm vụ phát huy dân chủ xã
hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Cụ thể là, tại mục 9, phần IV, tôi đề
nghị nên bỏ cụm từ do nhân dân bầu ra sau cụm từ
Nhà nước vì điều này đã được nêu rõ nét trong
mục 10, và bổ sung thêm cụm từ Mặt trận Tổ quốc
sau từ Nhà nước, như vậy sau khi sửa sẽ là: “…Dân
chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống
ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua
hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể nhân dân và các hình thức dân chủ trực
tiếp...”
Đề xuất trên xuất phát từ những lý do sau đây. Trước hết,
trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ, quyền làm chủ của nhân dân
được thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân
chủ trực tiếp, đối với hình thức dân chủ đại
diện, đó chính là vai trò của Nhà nước của dân,
do dân, vì dân thông qua việc bầu cử các đại
biểu dân cử để thành lập bộ máy nhà nước và thực
thi quyền lực Nhà nước do nhân dân uỷ nhiệm,
đồng thời còn thông qua vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân - người
đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã ghi
rõ: “Nhân dân vừa thực hiện quyền làm chủ trực
tiếp vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại
diện là các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân”.
Thứ hai là: Ở nước ta, thực chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
mà chúng ta đang xây dựng là sự tham gia một
cách thật sự bình đẳng, ngày càng rộng rãi của
các tầng lớp nhân dân vào công việc quản lý Nhà
nước và xã hội. Dân chủ chính là hình thái tồn
tại của Nhà nước. Muốn xây dựng Nhà nước, muốn
phát huy dân chủ của nhân dân thì phải đảm bảo
cho Nhà nước, cho nền dân chủ có một nền móng
thật vững chắc. Nền móng đó không có gì khác hơn
là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh
giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ
trí thức làm nòng cốt do Đảng lãnh đạo. Nhân dân
đứng ở vị trí trung tâm, vừa là chủ thể và cũng
chính là người được hưởng quyền dân chủ thực sự
theo đúng tư tưởng của Bác: “Bao nhiêu lợi ích
đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân….nói
tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy tốt hơn nữa vai trò,
vị thế làm chủ của nhân dân, tiềm năng và sức
mạnh to lớn trong nhân dân. Lý luận và thực tiễn
đã cho thấy, cái gốc của vấn đề chính là việc
phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Muốn xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trước hết
dân chủ phải được đặt lên hàng đầu, dân chủ vừa
phải là mục tiêu, vừa là động lực cho mọi hoạt
động của Nhà nước. Muốn có đoàn kết thật sự thì
phải có dân chủ thực sự. Dân chủ càng cao thì
đoàn kết sẽ càng được đảm bảo vững chắc, có dân
chủ thực sự thì mới tạo ra sự đồng thuận trong
Đảng và trong toàn xã hội, có đồng thuận thống
nhất cao thì mới có thể xây dựng được khối đoàn
kết vững chắc toàn dân tộc, khi đó mới tạo nên
được sức mạnh “dời non, lấp bể” của nhân dân để
cùng kiến tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn, xã hội
xã hội chủ nghĩa. Một trong các phương hướng cơ
bản được nêu trong Dự thảo Cương lĩnh năm 2011
cũng đã nêu rõ: “Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng
cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất."
Thứ ba là: Thực tiễn trong cả nước và ở tỉnh Hải Dương những
năm qua đã minh chứng một cách sinh động vai trò
ngày càng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội,
tham gia xây dựng chính quyền. Thông qua các
hoạt động đã trở thành nề nếp và ngày càng được
nâng cao về chất lượng như: vận động các tầng
lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng, phổ
biến và thực thi pháp luật; tổ chức hiệp thương
và vận động nhân dân hưởng ứng tham gia bầu cử
đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp; tập hợp ý
kiến, kiến nghị của cử tri và các tầng lớp nhân
dân phản ánh tại các kỳ họp Quốc hội và HĐND; Tổ
chức giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước,
đại biểu dân cử, nhất là việc vận động nhân dân
thực hiện và giám sát việc thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã
phường, thị trấn; Phát huy vai trò của thanh tra
nhân dân gắn với nhiệm vụ giám sát đầu tư của
cộng đồng; Tham gia giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo; làm tốt công tác hoà giải ở cơ sở. Chính
thông qua những hoạt động đó, Mặt trận Tổ quốc
ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu, quyền lợi,
hợp pháp và chính đáng của nhân dân, phát huy
tốt vai trò đại diện cho quyền làm chủ của nhân
dân, góp phần tích cực xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền các cấp ngày càng hoàn thiện và vững
mạnh.
Thứ tư là: Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa đòi hỏi bên cạnh việc phải đảm bảo tất cả
quyền lực thuộc về nhân dân, tạo ra được một cơ
chế tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân
thì đồng thời phải có sự kiểm soát chặt chẽ bộ
máy quyền lực, tránh sự lạm dụng, tha hoá quyền
lực. Đó chính là sự kiểm soát của nhân dân,
thông qua việc thực hiện chức năng giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Hiện nay,
trước yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị, đặc
biệt là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và
quản lý của Nhà nước đòi hỏi phải có sự tham gia
rộng rãi của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và
sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào quá trình
hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy,
nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội của Mặt
trận ngày càng có vị trí và tầm quan trọng cao
hơn.
Hoạt động giám sát và phản biện xã hội là một nhiệm vụ đặc
thù của MTTQ, mang tính nhân dân sâu sắc. Phản
biện xã hội là một biểu hiện sinh động và tập
trung cho mệnh đề “Nhân dân làm chủ”. Mặt trận
thể hiện chức năng phản biện xã hội tức là lắng
nghe một cách chân thành và nghiêm túc ý chí,
nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để trung
thực chuyển đến Đảng và Nhà nước. Mục đích chính
trị của phản biện xã hội là góp phần tạo ra và
đảm bảo sự đồng thuận xã hội, sự đoàn kết toàn
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một hình
thức, một biện pháp cụ thể thể hiện quyền làm
chủ của nhân dân và ý thức trách nhiệm của dân
đối với công việc chung của đất nước, của Nhà
nước. Nói một cách cụ thể, phản biện xã hội của
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân được hiểu là
sự nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến khẳng định
những nội dung đúng đắn của dự thảo chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án, đồng
thời phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa
phù hợp với đời sống xã hội và lợi ích chính
đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền xem xét, sửa đổi bổ sung. Tất cả
những hoạt động đó đều hướng tới mục tiêu góp
phần làm tăng sự đồng thuận xã hội.
Trong Dự thảo Cương lĩnh bổ sung và phát triển năm 2011 có
nêu “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách tạo
điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám
sát và phản biện xã hội". Đây chính là sự khẳng
định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta tăng
cường quan tâm, tạo điều kiện để phát huy tốt
hơn nữa vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân
dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và
tham gia xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò giám
sát và phản biện xã hội...
(Theo Báo
ĐTĐCSVN)
Về đầu trang
Ðể phát
huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
trong thời kỳ mới
Trong Dự thảo Cương lĩnh trình
Ðại hội XI của Ðảng đã tổng kết quá trình cách
mạng Việt Nam và nêu lên những bài học chủ yếu,
trong đó có bài học không ngừng củng cố, tăng
cường đoàn kết: đoàn kết toàn Ðảng, đoàn kết
toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế.
Từ bài học có giá trị lý luận và
thực tiễn đó, trong phần viết về quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta, đã nêu rõ tám phương
hướng cơ bản, trong đó nội dung thứ sáu là "Xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại
đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt
trận dân tộc thống nhất". Viết về hệ thống chính
trị, Dự thảo Cương lĩnh nhấn mạnh, "Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò
rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn
dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Cương lĩnh là văn kiện cơ bản của
Ðảng nên chỉ có thể nêu lên những quan điểm và
phương hướng lớn, không thể đề cập những chủ
trương, chính sách, biện pháp cụ thể. Do đó, các
kỳ Ðại hội đều cần bổ sung những giải pháp để
thực hiện hiệu quả. Với chiến lược đại đoàn kết
dân tộc trong Dự thảo Cương lĩnh, trước hết cần
nhận thức rõ đại đoàn kết toàn dân tộc không
phải là sự hô hào, kêu gọi chung chung mà là
hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Ðảng
có ý nghĩa khoa học, lý luận và chính trị - thực
tiễn sâu sắc. Muốn tập hợp, xây dựng lực lượng
cách mạng hùng mạnh, thực hiện đại đoàn kết toàn
dân tộc, Ðảng lãnh đạo, cầm quyền phải chú trọng
xây dựng, hoàn thiện và bảo đảm tính đúng đắn,
hiện thực của Cương lĩnh, đường lối chính trị,
đề ra mục tiêu chiến lược lâu dài phản ánh quy
luật phát triển của cách mạng, đồng thời đề ra
những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng
giai đoạn. Ðảng chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây
dựng, phát triển các tổ chức quần chúng, lựa
chọn hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp và
phát huy vai trò tích cực, chủ động, tự giác của
các tầng lớp nhân dân. Ðảng coi trọng và không
ngừng đổi mới công tác vận động quần chúng, củng
cố sự gắn bó mật thiết với nhân dân, khắc phục
những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng
nhân dân.
Trong công cuộc đổi mới, trong đó
có 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Ðảng
Cộng sản Việt Nam rất coi trọng hoàn thiện các
quan điểm và chủ trương, chính sách để thực
hiện ngày càng có hiệu quả chiến lược đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Ðại hội IX của Ðảng đã lấy chủ đề
là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ðại hội X của Ðảng (4-2006) đã phát triển hoàn
chỉnh quan điểm và hệ thống các chủ trương,
chính sách nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc và nhấn mạnh, đại đoàn kết toàn dân
tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh,
động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết
định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. "Lấy mục tiêu giữ
vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các
dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở
trong nước và người Việt Nam định cư ở nước
ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt
đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn
trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi
ích của dân tộc. Ðề cao truyền thống nhân nghĩa,
khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy
lẫn nhau vì sự ổn định và đồng thuận xã hội".
Trong vòng 5 năm từ 2003 đến
2008, Trung ương Ðảng có nhiều Nghị quyết lãnh
đạo tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX (1-2003) ra Nghị quyết chuyên đề về phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, nêu bật 4 quan điểm, trong đó nhấn mạnh
bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo
lợi ích thiết thực, chính đáng và hợp pháp của
các giai cấp và tầng lớp nhân dân. Hội nghị
Trung ương cũng ra nghị quyết về công tác dân
tộc, và nghị quyết về công tác tôn giáo. Hội
nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X
(1-2008) ra Nghị quyết về tiếp tục xây dựng giai
cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội nghị lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X (7-2008)
đã ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo
của Ðảng đối với công tác thanh niên: Nghị quyết
về xây dựng đội ngũ trí thức và Nghị quyết về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn... Ðó là một hệ
thống các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ nhằm
tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã và
đang được hiện thực hóa.
Thực tiễn của công cuộc đổi mới
hiện nay đang đặt ra những vấn đề bức thiết mà
Cương lĩnh trình Ðại hội XI của Ðảng phải tập
trung làm rõ hơn cả về lý luận và thực tiễn nhằm
thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên sức
mạnh to lớn hơn. Theo ý kiến của tôi, cần tổng
kết thực tiễn sâu sắc hơn nữa về chiến lược đại
đoàn kết để củng cố, tăng cường và phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân thực hiện có
hiệu quả Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển)
và các văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng. Tôi
xin đề xuất một số vấn đề, nội dung dưới đây.
Một là, hoàn thiện nội dung nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa và thực hiện đồng bộ,
triệt để. Dân chủ càng mở rộng và thiết thực
càng tạo sự đồng thuận xã hội và do đó sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường
lối đổi mới, nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa
phát triển và đòi hỏi phải nhận thức và thực
hiện đúng đắn cả từ phía Nhà nước và cả từ phía
người dân, để khắc phục những biểu hiện lệch lạc
trong thực hiện dân chủ, hoặc dân chủ hình thức,
hoặc dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây
mất ổn định chính trị, xã hội. Thực hiện dân chủ
không chỉ là kêu gọi, động viên mà nội dung dân
chủ, quyền làm chủ của dân, phải được thể hiện
trong chính sách, pháp luật và được bảo đảm bằng
chính sách, pháp luật, quy chế. Nội dung dân chủ
trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cần
được cụ thể hóa, lượng hóa để người dân hiểu và
thực hiện. Cần nhận thức và xử lý đúng đắn mối
quan hệ giữa dân chủ và tập trung dân chủ với kỷ
luật, kỷ cương, pháp luật, dân chủ với trách
nhiệm, nghĩa vụ công dân, dân chủ phải có lãnh
đạo và lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên
cơ sở phát huy dân chủ. Thực tế đã cho thấy, ở
địa phương nào, lĩnh vực hoạt động nào, đơn vị
nào thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa thì
tạo được sự đồng thuận, ổn định và phát triển,
củng cố được sự đoàn kết, thống nhất.
Hai là, đại đoàn kết toàn dân tộc
gắn liền với xây dựng và không ngừng hoàn thiện
hệ thống chính trị của đất nước. Năng lực lãnh
đạo, năng lực cầm quyền của Ðảng, hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước được nâng cao chẳng
những quyết định sự ổn định, phát triển của xã
hội, đất nước mà còn củng cố vững chắc niềm tin
của các giai cấp, dân tộc, các tầng lớp nhân dân
làm cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày
càng phát triển. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống
pháp luật, chính sách để mang lại lợi ích cho
nhân dân, bảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp
của mọi giai cấp, dân tộc, lực lượng xã hội, của
các thành phần kinh tế, của mọi người dân, đồng
thời bảo đảm, bảo vệ, phát triển lợi ích chung
của dân tộc, đất nước. Ðó là cái gốc của sự đoàn
kết cộng đồng dân tộc và đồng thuận xã hội.
Chính phủ đã quan tâm đặc biệt đến người nghèo,
nông dân nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn nhằm giúp họ xóa đói,
giảm nghèo. Theo đó, Chương trình 135 (1998),
Chương trình 134 (2004) đã thực hiện. Vì vậy,
qua 10 năm thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ do
Liên hợp quốc đề ra, Việt Nam đã thực hiện có
hiệu quả việc xóa bỏ tình trạng đói nghèo cùng
cực, phổ cập tiểu học, thực hiện tốt bình đẳng
giới và nâng cao vị thế của phụ nữ. Nhưng hiện
nay, Nhà nước cũng cần quan tâm nhiều hơn đến
công nhân, khi đời sống, thu nhập của một bộ
phận công nhân còn thấp, làm sao để trong các
doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài,
công nhân không bị giới chủ bóc lột quá đáng.
Ðối với nông dân, cần thực hiện đồng bộ chính
sách tam nông của Ðảng gắn liền với công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông thôn, xây dựng nông thôn
mới. Ðối với trí thức, sự quan tâm đến điều kiện
và đời sống vật chất là cần thiết, nhưng nhiều
khi, sự động viên kịp thời, đánh giá và phát huy
được năng lực thật sự của họ lại có tác dụng gấp
nhiều lần. Các tổ chức Mặt trận, đoàn thể nhân
dân cần đổi mới nhiều về nội dung, phương thức
hoạt động. Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên
trong hệ thống chính trị có ảnh hưởng to lớn đến
củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, chú trọng giáo dục, đào
tạo, hoàn thiện con người Việt Nam trong thời
đại mới, bởi con người là thành tố, là cái gốc
vững bền của dân tộc và đất nước. Mỗi người, mỗi
công dân cần phải nêu cao niềm tự hào, tự tôn
dân tộc, bồi đắp tinh thần yêu nước, sống và làm
việc có trách nhiệm đối với đất nước, vì sự hùng
cường, vững bền của Tổ quốc. Không ngừng nâng
cao học vấn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, thể
chất và đạo đức. Thực hiện có hiệu quả Cuộc vận
động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của
Bác Hồ, hiện thân của khối đoàn kết toàn dân,
Người luôn chăm lo chiến lược con người, nâng
cao đạo đức, con người sống với nhau phải có
tình nghĩa, mỗi người vì mọi người, mọi người vì
mỗi người, không tham lam, lười biếng, ỷ lại.
(Theo Báo Nhân
dân)
Về đầu trang
Hội nghị Đoàn
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam lần thứ
tư (khoá VII)
Ngày
5/10 tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
MTTQ Việt Nam đã tổ chức Hội nghị đóng góp ý
kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Dự hội nghị
có đồng chí Tô Huy Rứa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí
Thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung
ương; đồng chí Huỳnh Đảm, Uỷ viên Trung ương
Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam;
đồng chí Vũ Trọng Kim, Uỷ viên Trung ương Đảng,
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam; các đồng chí Phó Chủ tịch và các
Ủy viên Đoàn Chủ tịch; đại diện lãnh đạo các tổ
chức thành viên của Mặt trận; các vị trong Ban
Chủ nhiệm các Hội đồng tư vấn của Ủy ban Trung
ương MTTQ Việt Nam, các chuyên gia, các nhà khoa
học, nhà nghiên cứu, các chức sắc tôn giáo, đại
biểu dân tộc thiểu số là thành viên Ủy ban Trung
ương MTTQ Việt Nam.
Đến dự còn có đại diện lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, các Ban của
Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch
nước, Văn phòng Chính phủ, Thường trực Tổ biên
tập Cương lĩnh và Báo cáo Chính trị tại Đại hội
XI của Đảng và phóng viên các cơ quan báo chí,
phát thanh, truyền hình của Trung ương và thành
phố Hà Nội.
Tại
hội nghị, Đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính
trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên
giáo Trung ương thay mặt Bộ Chính trị giới thiệu
những nội dung cơ bản của Dự thảo các văn kiện
trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng. Đồng chí Tô Huy Rứa nhấn mạnh, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của
đất nước. Việc công bố dự thảo các văn kiện Đại
hội để lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân
dân ở trong và ngoài nước nhằm phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trong tham gia quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước, góp phần
làm cho văn kiện trở thành sản phẩm kết tinh trí
tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta. Đồng chí Tô Huy Rứa khẳng định Bộ
Chính trị, Ban Bí thư luôn trân trọng các ý kiến
đóng góp của MTTQ và mong các đại biểu phát huy
tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm đóng góp nhiều ý
kiến vào những vấn đề cụ thể trong Dự thảo Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011);
Dự thảo báo cáo chính trị; Dự thảo chiến lược
Phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 –
2020).
Các đại biểu đánh giá cao và hoan nghênh Trung ương chuẩn bị các dự thảo
văn kiện công phu, chu đáo, nghiêm túc, thể hiện
sâu sắc lý luận và thực tiễn và công bố để lấy ý
kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Hầu hết
các ý kiến đều thống nhất những nội dung cơ bản
thể hiện trong các dự thảo văn kiện, hết sức
phấn khởi, hoan nghênh những nội dung mới được
bổ sung trong các dự thảo văn kiện lần này. Các
đại biểu cũng thẳng thắn nêu ra những nội dung
cần được làm rõ, cần được quan tâm xem xét một
cách thấu đáo và tiếp thu nghiêm túc để bổ sung
hoàn thiện các dự thảo văn kiện của Đại hội XI;
đồng thời, đại biểu cũng nêu lên những bất cập,
những bức xúc đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo quản lý có hiệu quả trong
thời gian sắp tới.
Các
đại biểu đều nhất trí cao với đánh giá những
thắng lợi của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt
Nam. Về chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
giai đoạn 2011 – 2020, các đại biểu cơ bản nhất
trí với đánh giá về thành tựu thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2020
cũng như những bài học kinh nghiệm rút ra từ
thực tiễn thực hiện chiến lược. Các đại biểu cho
rằng, mục tiêu và định hướng cơ bản của quá
trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa là hướng đi lên vững chắc; đồng thời
đề nghị cần cụ thể hơn nữa trong các mục tiêu
cần hướng tới, đặc biệt là vấn đề giáo dục cần
được cụ thể hóa hơn bằng các giải pháp cụ thể
mang tính khả thi, nhằm đào tạo nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Các đại biểu đóng góp
nhiều ý kiến vào công tác dân tộc, tôn giáo,
khoa học công nghệ, công tác tổ chức cán bộ, cải
cách thể chế và thủ tục hành chính, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chống quan
liêu, tham nhũng, lãnh phí, công tác xây dựng
Đảng và vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức
thành viên…
Góp ý vào dự thảo văn kiện Đại hội XI của Đảng, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Lê
Truyền, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương
MTTQ Việt Nam nhấn mạnh, trong quá trình lãnh
đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nêu vấn đề tạo
lập và phát huy các động lực của sự phát triển
đất nước, đây được xem như là các yếu tố nhằm
giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng con
người. Việc quan tâm tạo lập và phát huy các
động lực của sự phát triển đã được nêu ra trong
các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng và trong Dự
thảo văn kiện Đại hội XI cũng đã được đề cập,
tuy vậy chưa nhấn mạnh và làm rõ những nội dung
và tính chất mới của các động lực, chưa thể hiện
rõ mối liên hệ và tác động qua lại giữa các động
lực, chưa xác định trách nhiệm cụ thể của từng
bộ phận trong hệ thống chính trị và chưa phân
công tổ chức nào chủ trì phối hợp việc phát huy
các động lực của sự phát triển trong thời kỳ đổi
mới đất nước.
Ông
Lê Truyền cũng đề nghị bổ sung những hạn chế và
khuyết điểm vào Dự thảo Cương lĩnh 2011, bởi
theo ông, từ Đại hội VI đến nay đã tròn 25 năm,
nếu tính từ khi có Cương lĩnh 1991 đến nay là 20
năm. Đây là khoảng thời gian Đảng ta lãnh đạo
thực hiện công cuộc đổi mới đất nước trong bối
cảnh tình hình thế giới và trong nước đấy biến
động. Đảng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn,
thách thức, phải tìm tòi lý giải và giải quyết
nhiều vấn đề lý luận và những diễn biến thực
tiễn rất đa dạng, phong phú. “Thành công và
thành tựu là to lớn, sai lầm và khuyết điểm mới
là không thể tránh khỏi. Nếu viết về những sai
lầm, khuyết điểm như Dự thảo Cương lĩnh 2011 là
chưa thỏa đáng…”, ông Truyền nhấn mạnh.
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Lân Dũng, Báo cáo chính trị đã thẳng thắn
vạch ra những tồn tại trong công tác xây dựng
Đảng, đó là công tác nghiên cứu lý luận, tổng
kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn
đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Việc
đổi mới công tác cán bộ còn chậm, thiếu cơ chế,
chính sách để thực sự phát huy dân chủ trong
công tác cán bộ, phát hiện sử dụng người tài… GS
Nguyễn Lân Dũng cho rằng: Như vậy là Đảng đã
thực sự làm theo những lời căn dặn của Bác Hồ.
Vấn đề đặt ra cho Đại hội Đảng XI là cần có
những biện pháp gì để khắc phục nhanh chóng và
có hiệu quả những tồn tại…
Góp ý vào nội dung Nhà nước pháp quyền XHCN, ông Đỗ Duy Thường, nguyên
Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
nhấn mạnh: Đại hội IX, X của Đảng đã đề ra chủ
trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa… Qua 10 năm thực hiện chủ
trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, luật pháp
đang dần được hoàn thiện, kỷ cương xã hội được
giữ vững, hệ thống tổ chức Nhà nước không ngừng
được hoàn thiện. Cơ chế kiểm tra, giám sát trong
hệ thống nhà nước, trong nhân dân tiếp tục được
xây dựng và thực hiện nhằm ngăn ngừa và trừng
trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách
nhiệm, lộng quyền, cửa quyền. Cơ chế dân chủ
cũng đang được xây dựng, từng bước hoàn thiện
thể chế, chính sách, pháp luật. Vì vậy cần bổ
sung vào nội dung này một nguyên tắc có tính
pháp quyền là “Dân được làm những gì mà pháp luật không cấm, cán bộ, đảng viên, công
chức chỉ được làm những việc pháp luật quy định”.
Đây là một
nguyên tắc rất cơ bản để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là nguyên tắc thực
hiện dân chủ trong đời sống xã hội ngày càng
phát triển.
Phát biểu bế mạc Hội nghị, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh
Đảm cảm ơn những ý kiến đóng góp đầy tâm huyết,
trách nhiệm, trí tuệ, thể hiện tình cảm, niềm
tin của các đại biểu đối với Đảng, với dân tộc
và sẽ tổng hợp đầy đủ các ý kiến của các đại
biểu báo cáo Bộ Chính trị và gửi Tiểu ban Văn
kiện Đại hội XI để đề nghị nghiên cứu, tiếp thu
hoàn thiện dự thảo các văn kiện Đại hội. Chủ
Tịch nhấn mạnh, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam trân trọng đề nghị Bộ Chính trị
chỉ đạo Tiểu ban Văn kiện Đại hội nghiên cứu,
tiếp thu các ý kiến đóng góp của Đoàn Chủ tịch
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, các tổ chức
thành viên của Mặt trận, cùng với các ý kiến
đóng góp của đông đảo các tầng lớp nhân dân để
làm cho các văn kiện
Đại hội XI của Đảng thật sự kết tinh trí tuệ, ý
chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta.
Tùng Lâm
Về đầu trang
Những ý kiến
của đồng chí Lê Truyền, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch,
nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
MTTQ Việt Nam lần thứ tư, khoá VII góp ý kiến
vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng
*
Về vị trí và vai trò của MTTQ Việt Nam
Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Đảng ta đã kế thừa và có sự
phát triển lý luận và chỉ đạo hoạt động thực
tiễn về tư tưởng chính sách đại đoàn kết và về
tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, mỗi kỳ Đại hội lại có thêm điểm mới được
bổ sung cho phù hợp tình hình nhiệm vụ mới.
Với tư duy đổi mới về vai trò của nhân dân và về vấn đề dân
tộc trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định
đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến
lược, là nguồn sức mạnh và là động lực chủ yếu
của cách mạng Việt Nam, là nhân tố có ý nghĩa
quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết
là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống
chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức
Đảng. Theo đó về mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng
được bổ sung và làm rõ vị trí, vai trò đúng như
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Chính sách Mặt trận
là chính sách rất quan trọng, công tác Mặt trận
là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công
tác cách mạng".
Dự thảo cương lĩnh 2011 nói về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể nhân dân đã được thể hiện ngắn gọn,
súc tích và đầy đủ. So với Cương lĩnh 1991, Dự
thảo cương lĩnh lần này có những điểm mới đã
được bổ sung rất rõ ràng, mà trước đó Cương lĩnh
1991 chưa có, đó là:
- Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là "tổ chức" liên minh chính
trị, liên hợp tự nguyện...
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị...
- Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam "đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp
của nhân dân"...
- Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam "thực hiện vai trò giám sát và phản biện
xã hội".
-
"Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách tạo điều kiện"
để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân hoạt động có hiệu quả.
Tuy vậy, trong Dự thảo Cương lĩnh 2011 khi nói về vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân
dân có cụm từ "thắt chặt mối liên hệ giữa
Đảng, Nhà nước với nhân dân" là chưa phù hợp.
Mặt trận là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà
nước. Khi đã nói Mặt trận với các đoàn thể nhân
dân đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của
nhân dân, chăm lo cho lợi ích của các đoàn viên,
hội viên, thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội
lành mạnh... nghĩa là Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân phải luôn gắn liền với nhân dân, bảo vệ
lợi ích hợp pháp của nhân dân trước mọi quan hệ
xã hội (bao gồm các quan hệ lợi ích trong nội bộ
nhân dân, quan hệ lợi ích của nhân dân đối với
các đơn vị kinh tế, các tổ chức xã hội và quan
trọng hơn hết là quan hệ lợi ích đối với chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và việc
thực thi chủ trương, chính sách của các tổ chức
Đảng, các cấp chính quyền từ Trung ương tới cơ
sở. Không phải ngẫu nhiên khi nói về Mặt trận Tổ
quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân qua các kỳ Đại hội
Đảng đã có sự điều chỉnh. Nghị quyết Đại hội VI
đã dùng cụm từ "giữ vững và tăng cường mối liên
hệ mật tiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân"
(*) và Cương lĩnh 1991 cũng ghi "thắt chặt mối
liên hệ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân"(**).
Sau đó, trải qua thực tiễn tổ chức và hoạt động,
qua đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị, nên về mục này, các Đại hội
VIII và Đại hội IX đã có sự điều chỉnh, đã diễn
đạt chính xác hơn về vai trò cầu nối và mối quan
hệ của Mặt trận với nhân dân, cụ thể Nghị quyết
Đại hội VIII đã ghi về vai trò của MTTQVN và các
đoàn thể nhân dân là "tăng cường mối liên hệ
mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước"
(***) và Nghị quyết Đại hội IX cũng một lần nữa
ghi rõ "thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với
Đảng và Nhà nước"(****). Vậy nên, trong dự thảo
Cương lĩnh 2011 cần sửa lại cụm từ "thắt chặt
mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân"
thành "thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với
Đảng, Nhà nước". Điều chỉnh điểm này
tuy nhỏ nhưng lại có ý nghĩa lớn
đối với
vai trò của MTTQVN và các đoàn thể
nhân dân.
Tinh thần của các nội dung được bổ sung, phát triển trên đây
trong Dự thảo Cương lĩnh 2011 là quá trình tiếp
thu có chọn lọc từ chỉ đạo thực tiễn và đã được
nêu trong Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng trong
thời kỳ đổi mới (Từ Đại hội VI đến Đại hội X)
và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương.
Đây sẽ là điều kiện thuận lợi cho Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hoạt động có hiệu quả và sẽ là cơ
sở lý luận và thực tiễn để sớm nghiên cứu sửa
đồi, bổ sung Hiến pháp và Luật Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
(*): Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, NXB
chính trị quốc gia, Hà Nội 2005, tr. 298.
(**): Sách đã dẫn, tr. 328
(***) Sách đã dẫn, tr. 509
(****) Sách đã dẫn, tr 67.
Về đầu trang
Tạo lập và phát
huy các động lực của sự phát triển
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nêu
vấn đề tạo lập và phát huy các động lực của sự
phát triển đất nước, đây được xem như là các yếu
tố nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, giải
phóng con người. Hệ thống các động lực của sự
phát triển đã được nêu ra và sắp xếp thứ tự như
sau: phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc;
phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; kết hợp hài
hoà lợi ích, thực hiện công bằng xã hội; phong
trào thi đua yêu nước; phát triển văn hoá; xây
dựng con người...
Việc quan tâm tạo lập và phát huy các động lực của sự phát
triển đã được nêu ra trong các văn kiện của các
kỳ Đại hội Đảng và trong Dự thảo văn kiện Đại
hội XI cũng đã được đề cập, tuy vận chưa nhấn
mạnh và làm rõ những nội dung và tính chất mới
của các động lực, chưa thể hiện rõ mối liên hệ
và tác động qua lại giữa các động lực, chưa xác
định trách nhiệm cụ thể của từng bộ phận trong
hệ thống chính trị và chưa phân công tổ chức nào
chủ trì phối hợp việc phát huy các động lực của
sự phát triển trong thời kỳ đổi mới đất nước.
Ngày nay, hệ thống các động lực được tạo lập đã có những nội
dung mới phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi
mới đất nước và trở thành nhu cầu, nguyện vọng
thiết thân của các tầng lớp nhân dân. Phát huy
tốt và đồng bộ hệ thống các động lực sẽ tạo
thành tổng lực của sự phát triển đất nước.
Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đây là nguồn
sức mạnh, là động lực chủ yếu, là nhân tố có ý
nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ trước
tới nay và mãi mãi về sau. Trong công cuộc đổi
mới hiện nay, đại đoàn kết có yêu cầu và nội
dung mới khi điểm tương đồng được mở rộng để tập
hợp và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xoá bỏ
mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ,
thành phần giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác
nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Chính
sách đại đoàn kết cũng đề cao truyền thống nhân
dân, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin
cậy lẫn nhau vì sự đồng thuận xã hội và phát
triển đất nước. Đại đoàn kết phải là sự nghiệp
của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà
hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực
hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức trong đó
các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật
của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Tầm
và chất lượng mới của sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc hiện nay là đại đoàn kết, đồng thuận xã
hội gắn liền với dân chủ, công bằng xã hội vì sự
ổn định và phát triển của đất nước.
Về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định vừa là
mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hình thức thể
hiện quyền tự do, bình đẳng công dân, xác định
nhân dân là chủ thể của quyền lực. Thực hành dân
chủ trong đời sống xã hội sẽ làm cho mọi tiềm
năng sáng tạo của con người được phát huy, sự
tìm tòi những sáng kiến mới, giải pháp mới được
nở rộ, tính tích cực và chủ động của nhân dân
được tăng lên, sự tham gia của nhân dân vào các
quá trình hoạt động của các cấp uỷ Đảng, các cấp
chính quyền từ Trung ương đến cơ sở bằng các
hoạt động giám sát, phản biện xã hội sẽ ngày
càng trở thành nhu cầu bức thiết. Đảng, Nhà nước
tôn trọng toàn bộ quyền tự do cá nhân, tự do
ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, đi lại, tín
ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở,
quyền nghỉ ngơi, học hành, đồng thời tạo cho mọi
công dân những khả năng rộng rãi để bày tỏ ý chí,
nguyện vọng và trình bày ý kiến của mình về
những vấn đề của đời sống xã hội. Trong chế độ
xã hội mới, nền dân chủ ngày càng phong phú, đa
dạng được thực hiện bằng nhiều hình thức, bên
cạnh dân chủ có tính chất dân cử còn là những
hình htức dân chủ trực tiếp, dân chủ thông qua
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức
xã hội và các hoạt động tự quản ở cộng đồng dân
cư.
Về kết hợp hài hoà lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích
cá nhân, quan tâm lợi ích thiết thân của con
người. Lợi ích chung của sự phát triển xã hội
được thể hiện và thực hiện một phần quan trọng
qua lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân, mỗi cộng
động. Thực tiễn trong những năm đổi mới chứng tỏ
cần thiết phải kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân
với lợi ích chung, trong đó lợi ích thiết thân
của con người là động lực trực tiếp và mạnh mẽ
nhất. Nói về lợi ích phải gắn liền với bảo đảm
công bằng xã hội, ngày nay công bằng xã hội được
hiểu không chỉ giới hạn công bằng về kinh tế vẫn
là yếu tố nền tảng, chủ yếu là chế độ phân phối.
Từ thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới,
Đảng ta chỉ rõ: thực hiện chế độ phân phối chủ
yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế,
đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn
lực khác và thông qua phúc lợi xã hội. Quan tâm
đến lợi ích của con người và thực hiện công bằng
xã hội trở thành động lực quan trọng của sự phát
triển xã hội mới.
Về thi đua yêu nước, phong trào thi đua yêu nước đã có tác
dụng bồi dưỡng tinh thần tập thể, tinh thần lao
động hăng say sáng tạo, tăng năng suất lao động,
hiệu quả kinh tế... và đã trở thành truyền thống
của các cấp, các ngành trong hàng chục năm nay.
Ngày nay, thi đua yêu nước vẫn tiếp tục phát huy
tác dụng và cũng là một động lực của sự phát
triển. Phong trào thi đua ngày nay có chứa đựng
tinh thần cạnh tranh lành mạnh sẽ là yếu tố nuôi
dưỡng và thúc đẩy mạnh mẽ, tránh được tính phô
trương, hình thức, không chạy theo thành tích
chủ nghĩa, không tự tô hồng và đánh bóng thương
hiệu một cách không thực chất. Các danh hiệu anh
hùng, chiến sỹ thi đua và các điển hình tiên
tiến được nhân dân suy tôn và xét phong tặng
đúng đắn, thực chất sẽ là những tấm gương dẫn
dắt mọi người học tập và noi theo.
Như vậy, các động lực chủ yếu của sự phát triển nêu trên vừa
mang những nội dung truyền thống vừa có những
yêu cầu nội dung phù hợp với yêu cầu thời kỳ đổi
mới đất nước, phù hợp với ý chí và nhu cầu bức
thiết của nhân dân. Thực chất của các động lực
là sức mạnh sáng tạo của toàn dân, là mối quan
hệ giữa con người với con người trong xã hội,
khi con người có niềm tin vào sự phát triển của
đất nước, con người được giải phóng thì các động
lực sẽ được phát huy cao độ.
Các động lực của sự phát triển quan hệ mật thiết với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau để
trở thành tổng lực của sự phát triển. Nếu việc
kết hợp các động lực không thống nhất và đồng bộ
cả về nhận thức và phương pháp sẽ làm cản trở
lẫn nhau, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Nếu coi
đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu cũng có
nghĩa là có sự quy tụ và hợp thành cùng với các
động lực khác. Nói đại đoàn kết từ mỗi cộng
đồng dân cư đến toàn xã hội mà thiếu dân chủ,
thiếu công bằng xã hội, thiếu những tấm gương
sáng thì cũng không có đại đoàn kết thực sự. Một
chủ trương, một chính sách không còn phù hợp mà
không được sửa đổi, việc thực thi chính sách
không đúng ở các cấp, việc vi phạm quyền làm chủ
của nhân dân... đều là các lực cản của quá trình
phát huy các động lực.
Việc tạo lập và phát huy các động lực của sự phát triển là
công sức của toàn dân, là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Để giúp Đảng
tiếp tục lãnh đạo việc tạo lập và phát huy các
động lực của sự phát triển, cần có một tổ chức
đứng ra chủ trì phối hợp thực hiện. Xét về tính
chất và nội dung của hệ thống các động lực là
rất phù hợp với vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, một tổ chức liên minh chính trị,
liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của nước ta.
Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có trách nhiệm và khả năng chủ trì phối hợp
thực hiện nhằm phát huy cao độ các động lực của
sự phát triển đất nước.
Về đầu trang
Cần bổ sung
những hạn chế và khuyết điểm
Về những sai lầm, khuyết điểm, trong Cương lĩnh 1991 đã viết:
"Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi
phạm quy luật khách quan nóng vội trong cải tạo
xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều
thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây
dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế
quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có
nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả,
tiền tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ
chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng".
Tại đại hội lần thứ VI, Đảng đã tự phê bình, đề
ra đường lối đổi mới và lãnh đạo công cuộc đổi
mới suốt 25 năm qua giành được những thành tựu
có ý nghĩa lịch sử.
Về phần này, trong Dự thảo Cương lĩnh 2011 (bổ sung và phát
triển) đã viết: “Trong lãnh đạo, Đảng có lúc
cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm,
khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan
duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã
nghiêm túc tự phê bình và sửa chữa khuyết điểm
để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên".
Vậy so với Cương lĩnh 1991, Dự thảo Cương lĩnh
2011, chẳng những không có sự bổ sung mà còn rút
gọn lại những sai lầm, khuyết điểm cũ của thời
kỳ bao cấp đã nêu trong Cương lĩnh 1991.
Từ Đại hội VI đến nay đã tròn 25 năm, nếu tính từ khi có
Cương lĩnh 1991 đến nay là 20 năm, đây cũng là
khoảng thời gian Đảng ta lãnh đạo thực hiện công
cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh tinh hình
thế giới và trong nước đầy biến động, Đảng ta
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức phải
tìm tòi lý giải và giải quyết nhiều vấn đề lý
luận và những diễn biến thực tiễn rất đa dạng,
phong phú. Thành công và thành tựu là to lớn,
sai lầm và khuyết điểm mới là không thể tránh
khỏi. Nếu viết về những sai lầm, khuyết điểm như
Dự thảo Cương lĩnh 2011 là chưa thoả đáng, chưa
thể hiện nghiêm túc tinh thần tự phê bình của
Đảng ta.
Tổng kết những vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới,
đánh giá khái quát về những yếu kém và khuyết
điểm có thể nêu ra mấy điểm chủ yếu sau đây:
không ít vấn đề về nhận thức lý luận còn chưa đủ
rõ, nhất là việc nhận thức và giải quyết quan hệ
giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với
phát triển văn hoá giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới hệ thống chính chị... Chính vì vậy, kinh tế
phát triển chưa tương xứng so với khả năng và
yêu cầu, sức cạnh tranh còn yếu và vẫn tồn tại
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Nhiều vấn
đề văn hoá xã hội bức xúc chậm được giải quyết.
Nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng
chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của
không ít cán bộ, đảng viên vẫn nghiêm trọng. Tệ
nạn xã hội phát triển, sự phân hoá giàu nghèo
trong xã hội gia tăng, tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị chậm được đổi mới, hiệu lực
quản lý của Nhà nước chưa cao, dân chủ trong
Đảng và trong xã hội chưa được phát huy đầy đủ,
mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân có
mặt giảm sút...
Trên đây là khái quát những sai lầm, khuyết điểm trong hơn 20
năm Đảng lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới.
Qua đây, cho thấy hai vấn đề nổi lên, Một là:
những mặt được là do đổi mới tư duy kinh tế, do
những mặt tích cực của cơ chế thị trường đem lại,
còn mặt trái của cơ chế thị trường thì chưa hạn
chế tốt, điều đó chứng tỏ khả năng lãnh đạo thực
hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa còn hạn chế, có khuyết điểm kéo dài. Hai
là: Hệ thống chính trị chậm đổi mới, Cương lĩnh
1991 đã nêu rõ: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động
của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn
mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực
thuộc về nhân dân” (Cương lĩnh 1991, Văn kiện
Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, NXB chính trị Quốc
gia, Hà Nội – 2005, tr 327) và Nghị quyết
Đại hội VII cũng đã ghi: “Thực hiện dân chủ xã
hội chủ nghĩa là thực chất của việc đổi mới và
kiện toàn hệ thống chính trị”. Như vậy chậm đổi
mới hệ thống chính trị cũng đồng thời là việc
thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội
chưa tốt, việc lãnh đạo thể chế hoá những chủ
trương về những vấn đề chính trị còn khó khăn và
chậm, như việc ban hành Luật Dân tộc, Luật về
Hội, việc sửa đổi Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ
sung Luật MTTQ Việt Nam đã nêu ra ở nhiều Nghị
quyết của Đảng vẫn chưa làm được, gần đây việc
xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội,
vấn đề xã hội dân sự ở Việt Nam đã nêu ra và
nghiên cứu từ lâu vẫn chưa có kết luận…
Tôi hiểu Cương lĩnh là đường lối dài hạn của Đảng, không thể
nêu quá nhiều những sai lầm, khuyết điểm cụ thể,
việc này sẽ nêu ra ở Nghị quyết các kỳ Đại hội
của Đảng và trong Nghị quyết của Ban chấp hành
Trung ương. Nhưng không vì thế mà rút gọn lại
những sai lầm, khuyết điểm cũ đã viết trong
Cương lính từ năm 1991. Từ năm 1991 đến nay là
một thời kỳ, thời kỳ Đảng lãnh đạo công cuộc đổi
mới, nhất định có những sai lầm, khuyết điểm mới.
Tôi tha thiết đề nghị cần có sự lựa chọn nghiêm
túc để tìm ra những sai lầm, khuyết điểm bổ sung
vào Cương lĩnh lần này - một Cương lĩnh bổ sung
và phát triển Cương lĩnh 1991.
Về đầu trang
Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam: góp ý vào Dự thảo các văn
kiện trình Đại hội XI của Đảng
Ngày
9/10 tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam đã tổ chức Hội thảo góp ý kiến vào dự thảo
các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng với sự
góp mặt của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam; đại diện 30 Liên
đoàn Lao động các tỉnh, thành và công đoàn ngành
Trung ương cùng các nhà nghiên cứu.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Hoàng Ngọc Thanh, Phó
Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khẳng
định: Đại hội Đảng lần thứ XI có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất
nước. Việc công bố dự thảo các văn kiện Đại hội
để lấy ý kiện rộng rãi của các tầng lớp nhân dân
nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong
việc tham gia góp ý những vấn đề quan trọng của
đất nước, góp phần làm cho các văn kiện trình
Đại hội Đảng trở thành ý chí, nguyện vọng của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta….
Trên tinh thần xây dựng thẳng thắn, chân thành, các đại biểu
dự Hội thảo tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến
vào dự thảo các văn kiện trình trình Đại hội XI,
trong đó tập trung vào các vấn đề lớn có liên
quan đến giai cấp công nhân và hoạt động công
đoàn. Cụ thể: vấn đề phát triển lý luận về giai
cấp công nhân góp phần hoàn thiện nội dung xây
dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. Giai cấp công nhân và định hướng xã hội
chủ nghĩa, về mục tiêu xây dựng giai cấp công
nhân trong thời kỳ quá độ lên CNXH; vấn đề tri
thức hóa giai cấp công nhân. Nguồn nhân lực công
nghiệp; vấn đề việc làm, điều kiện làm việc, đời
sống công nhân. Vấn đề chính sách pháp luật liên
quan đến công nhân, lao động. Vấn đề xây dựng tổ
chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp; chính sách đối
với cán bộ nói chung và cán bộ công đoàn; vấn đề
cơ cấu cán bộ trong cấp ủy, Trung ương, Bộ Chính
trị. Các ý kiến về kết nạp đảng viên là công
nhân và đào tạo cán bộ Đảng, Nhà nước từ công
nhân và cán bộ công đoàn.
Các đại biểu bày tỏ đồng tình với nội dung cơ bản của 3 dự
thảo văn kiện và cho rằng, các Dự thảo đã thể
hiện được tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, các
vấn đề nóng đang được dư luận xã hội quan tâm;
đặc biệt đã nêu và phân tích được những biểu
hiện và nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém
trong Đảng. Việc đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và
giải pháp cho nhiệm kỳ tới và cả giai đoạn tiếp
theo đã thể hiện rõ tầm chiến lược, tính cách
mạng và sự đột phá, nhất là trong lĩnh vực kinh
tế và hội nhập quốc tế…
Đại biểu Đan Tâm, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn
khẳng định: Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đều nhằm xây
dựng và phát triển đất nước ta theo định hướng
XHCN. Định hướng đó đã thể hiện ý chí, nguyện
vọng, lợi ích cơ bản và thiết thực của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động nước ta, phù hợp
với quy luật phát triển của xã hội loài người và
cũng phù hợp với lý tưởng và tương lai phát
triển của giai cấp công nhân. Là giai cấp đại
biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của
xã hội, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử
cao cả vừa là giai cấp lãnh đạo, vừa là lực
lượng nòng cốt đi đầu thực hiện sự nghiệp xây
dựng xã hội XHCN, trước mắt là xây dựng xã hội
dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Nhưng dù sao, sứ mệnh đó vẫn là khả năng –
dù là khả năng tất yếu và cả sức mạnh to lớn đối
với công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội
mới – XHCN, bởi phải có sự lãnh đạo của Đảng thì
khả năng đó mới trở thành hiện thực, sức mạnh to
lớn đó mới được phát huy. Bởi như Bác Hồ đã nói:
“Giai cấp công nhân mà không có Đảng lãnh đạo
thì không thể làm cách mạng được. Đảng mà không
có giai cấp công nhân cũng không làm được gì"…
Về công tác xây dựng Đảng, Đại biểu Đan Tâm cho rằng, Dự thảo
văn kiện còn nặng về hiện tượng và việc cụ thể,
chưa nêu bật được bản lĩnh và năng lực lãnh đạo
với những tiêu chí cần có của tổ chức đảng, của
cán bộ, đảng viên, nhất là của các cấp ủy đảng
và người đứng đầu từng cấp ủy đảng đáp ứng được
đòi hỏi lãnh đạo của Đảng trong kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế. Về bản lĩnh chính
trị, cần nhấn mạnh kiên trì định hướng XHCN,
quyết tâm lãnh đạo thực hiện thắng lợi Cương
lĩnh, rèn luyện, nâng cao lập trường giai cấp
công nhân và quan điểm quần chúng, đạo đức chí
công vô tư, có cuộc sống công, tư trong sạch,
lành mạnh…. Cần nêu bật tiêu chuẩn đầu tiên phải
có của cán bộ, đảng viên, trước hết là người
đứng đầu các cấp ủy đảng trong kinh tế thị
trường là lập trường giai cấp công nhân, quan
điểm quần chúng và ý thức đảng. Quan điểm quần
chúng là lắng nghe dân, vì lợi ích của dân, tôn
trọng dân, chịu trách nhiệm với dân. Thực tế cho
thấy rằng, chỉ có đứng vững trên lập trường,
quan điểm giai cấp công nhân, mới xử lý đúng mối
quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội bởi
lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và lợi ích
cơ bản của các giai tầng xã hội khác là thống
nhất…
Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động Hải Phòng Hoàng Duy Đính bày
tỏ băn khoăn về phần đánh giá những hạn chế, yếu
kém trong văn kiện, mặc dù đã nêu ra 6 nhóm vấn
đề nhưng chưa thấy được đằng sau những hạn chế,
yếu kém đó đang tiền ẩn các nguy cơ. Đó là sự
tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng
viên đang dần làm suy giảm lòng tin trong các
tầng lớp nhân dân đối với Đảng; tham nhũng, lãng
phí đã và đang trở thành một vấn nạn làm tổn hại
đến nền kinh tế đất nước, gây tâm lý hoang mang
trong nhân dân; cải cách bộ máy hành chính chậm
đổi mới, kém hiệu quả; vai trò lãnh đạo của Đảng
ở cơ sở đang dần mờ nhạt, nhất là ở các doanh
nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài…
Đại biểu Hoàng Duy Đính đề nghị các văn kiện phải rõ hơn về
giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn, phải rõ
nội dung: Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân, đội
quân cách mạng của mình thông qua tổ chức đảng
và các đoàn thể nhân dân; phải có chiến lược về
giai cấp công nhân, trong đó quan tâm đặc biệt
đến việc giáo dục đạo đức, lý tưởng và phát
triển đảng trong công nhân lao động.
Góp ý vào dự thảo Cương lĩnh 1991, nguyên Ủy viên Đoàn Chủ
tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nguyên
Viện trưởng Viện nghiên cứu giai cấp công nhân
và công đoàn Nguyễn Văn Dũng cho rằng, nhận thức
và đánh giá của Đảng ta đối với vai trò và tác
dụng lịch sử của cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân và phong trào công đoàn thế giới là có
tính lịch sử và là một động lực to lớn trong
thời đại ngày nay nhằm thực hiện mục tiêu hòa
bình, dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội. Giai
cấp công nhân và tổ chức công đoàn là lực lượng
đi đầu trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh,
chống bóc lột và bất bình đẳng xã hội. Đảng ta
khẳng định Đảng là của giai cấp công nhân, mang
bản chất giai cấp công nhân nhưng trong cương
lĩnh làm rõ, cụ thể là cấp ủy đảng có cơ cấu đại
diện là công nhân, cần đảng viên là đại diện
công đoàn vào thường vụ cấp ủy các cấp. Đảng chủ
trương tăng thành phần lãnh đạo quản lý nhà nước
những người đã kinh qua phong trào công nhân,
công đoàn. Đảng có chính sách và Nhà nước có thể
chế hóa quyền và vai trò công đoàn trong việc
tham gia quản lý kinh tế ở các cấp. Ông Nguyễn
Văn Dũng cũng kiến nghị Cương lĩnh cần có thêm
phần tổ chức thực hiện, thành lập ủy ban giám
sát thực hiện Cương lĩnh của Trung ương Đảng
trong đó các đồng chí nguyên là Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Tổng
Liên đoàn qua các thời kỳ, đại diện các tổ chức
chính trị - xã hội làm ủy viên.
Đại biểu Vũ Quang Bình, Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh Hải
Dương nhất trí cao với dự thảo về việc tiếp tục
đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con
đường xã hội chủ nghĩa. Song ông cũng đề nghị
Đảng và Chính phủ cần dự báo chính xác, lâu dài
về tình hình đất nước và khu vực trong những năm
tới để có chính sách, giải pháp phù hợp. Đồng
thời phải có chiến lược khai thác, sử dụng hiệu
quả các nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước.
Nhà nước cần quan tâm đến chính sách kích cầu,
thực hiện chính sách an sinh xã hội, quan tâm
đến môi trường nông thôn, tăng cường các chính
sách về nông nghiệp, nông dân và nông thôn để
xây dựng nông thôn mới, tránh sự phân hóa giàu
nghèo giữa các vùng miền ngày càng lớn.
Phát biểu bế mạc Hội thảo, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam Hoàng Ngọc Thanh đề nghị, các đại
biểu khi về cơ sở tiếp tục triển khai các cuộc
góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện trình Đại
hội XI để có nhiều góp ý ngày càng chất lượng,
sát với thực tiễn giai cấp công nhân và tổ chức
công đoàn. Các ý kiến đóng góp của các đại biểu
sẽ được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổng
hợp để gửi lên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
để trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư./.
Theo Thu Hà - Báo
ĐTĐCSVN
Về đầu trang
Lược ghi ý kiến
phát biểu của GS.TSKH Phạm thị Trân Châu, Uỷ
viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt
Nam vào các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ XI
Đọc các bản dự thảo văn kiện, tôi thấy tâm đắc
với nhiều vấn đề và có nhiều hy vọng. Qua các ý
kiến đóng góp được nêu trên các phương tiện
thông tin đại chúng, tôi cảm nhận điều được mọi
người quan tâm nhiều là những chính sách, cơ
chế và biện pháp để thực hiện cương lĩnh. Vì
trong thực tế, đã có những vấn đề được Đại hội
X nêu ra đã nhận được sự hoan nghênh, đồng tình
cao của người dân, nhưng đến nay vẫn chưa được
thực thi trong cuộc sống hoặc thực thi chưa đạt
hiệu quả như: vấn đề phản biện xã hội, vấn đề
chống tham nhũng.
Là một người hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục
và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, về cơ bản tôi
đồng tình cao với những nhận định chung đã nêu
trong các văn bản dự thảo, cũng như những mục
tiêu phải đạt được thuộc lĩnh vực này, trong
thời gian tới. Sau đây tôi chỉ xin được làm rõ
thêm đôi điều tôi tự thấy có trách nhiệm cần nói
rõ:
I. Trước hết xin phát biểu về dự thảo Báo cáo Chính trị, phần “hạn chế,
khuyết điểm” trong lĩnh vực Giáo dục, Đào tạo,
Khoa học, Công nghệ (trang 62).
-
Trong phần về Giáo dục, Đào tạo: dự thảo đã nhận
định rất đúng về các yếu kém cần khắc phục như:
sự không tương xứng giữa: số lượng- chất lượng,
dạy chữ- dạy người; chưa có biện pháp
khắc phục xu hướng thương mại hóa và sa sút về
đạo đức trong Giáo dục...; chưa giải quyết tốt
mối quan hệ giữa tăng nhanh và sử dụng có hiệu
quả tiềm lực Khoa học và Công nghệ của đất nước;
KH-CN chưa trở thành động lực, sử dụng chưa hiệu
quả đầu tư cho Khoa học- Công nghệ. Vấn đề
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho Giáo
dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ quả thực
đang là vấn đề cần quan tâm kịp thời, nếu không
muốn nói là cấp thiết và bức xúc.
Từ việc xác định đúng yếu kém, chúng ta có thể
hi vọng sau này sẽ có được các cơ chế, chính
sách, biện pháp đúng để lành mạnh hóa nền
giáo dục, khoa học công nghệ, đáp ứng
yêu cầu của thời kì công nghiệp hóa- hiện đại
hóa của nước ta.
Để góp phần thoát khỏi những yếu kém vừa nêu
tôi thấy cần làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm của
những người trong cuộc: thầy và trò, cán bộ khoa
học và cán bộ quản lý các cấp trong ngành
II. Về bản “Dự thảo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ
lên Chủ nghĩa Xã hội ”
1. Về con người.
dự thảo có nêu: gắn quyền con người với quyền
và lợi ích dân tộc, đất nước… giàu lòng yêu nước
có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri
thức…và
nêu rõ: để xây dựng được con người như vậy
cần có sự kết hợp gia đình, nhà trường, xã hội,
trong đó gia đình là môi trường trực tiếp.
Tôi hoàn toàn nhất trí về mục tiêu xây dựng con
người và trách nhiệm của gia đình là môi trường
trực tiếp, nhưng thực tế hiện nay khi mà những
tiêu cực, tính thực dụng ngày càng tăng và trở
thành phổ biến trong xã hội, đã lấn át sự giáo
dục tốt của từng gia đình riêng rẽ. Vì vậy, để
có được con người theo các tiêu chí đã nêu trong
dự thảo, có vẻ vấn đề gốc rễ là phải làm
lành mạnh toàn xã hội, có như vậy thì
việc giáo dục ở từng gia đình mới có cơ hội phát
huy tác dụng và nhân rộng.
2. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ,
Cho đến khi nào mà số đông học sinh, sinh viên đi học chỉ để qua được
các kì thi, có bằng cấp chứng chỉ, xem đó là mục
tiêu cuối cùng, còn việc học làm người, học
cách tư duy, phương pháp làm việc chưa là nung
nấu suy nghĩ hàng ngày, ở mọi lúc mọi nơi, thì
chưa thể nói nhiều đến ý nghĩa đích thực của
chất lượng giáo dục và đào tạo.
Khi nào mà chúng ta chưa có được một đội ngũ đông đảo người thầy, cán bộ
nghiên cứu KH là tấm gương sáng về đạo đức và
nghề nghiệp, sống với cái tâm trong sáng, đủ sức
thu hút đông đảo học sinh, sinh viên cùng lao
động trong lĩnh GD-ĐT, KH- CN, người đi học chưa
có được động cơ học tập đúng, thì chưa thể nói
đã thành công trong đổi mới GD-ĐT, KH-CN.
Để khắc phục được những yếu kém, đạt được các mục tiêu như mong muốn,
đòi hỏi một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn xã
hội, từ các lĩnh vực, truyền thông đến mọi gia
đình, toàn thể xã hội, cán bộ quản lý trong mọi
lĩnh vực, chỉ riêng ngành giáo dục và khoa
học công nghệ không thể tạo được chuyển biến
quan trọng.
+ Vấn đề chất lượng trong GD-ĐT: Các chỉ tiêu về số lượng cử nhân,
kĩ sư, thạc sĩ, tiến sĩ sẽ có trong thời gian
tới là những chỉ tiêu đáng phấn khởi vì chúng ta
sẽ có được đội ngũ nhiều người lao động qua đào
tạo ở trình độ cao. Những người này sẽ
đóng góp tốt hơn cho xã hội so với chính họ
khi chưa qua đào tạo. Vì vậy, xét về khía cạnh
này là có ích cho xã hội, nhưng vấn đề mà xã hội
đang quan tâm là chất lượng thực, trình độ
thực của những người sở hữu các văn bằng
và đặc biệt là khi sử dụng các văn bằng
như là một tiêu chí để tuyển chọn và đề bạt cán
bộ. Việc lẫn lộn “thật, giả” không chỉ
có ảnh hưởng lớn đến kết quả và hiệu quả công
việc mà có khi còn gây trở ngại, hạn chế sự phát
huy tài năng của những người khác.
Kiểm định chất lượng là điều đã được quan tâm và nhắc đến trong nhiều văn
kiện. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở một số chỉ
tiêu theo kết quả thi cử, đánh giá cấp bậc những
trường đại học theo những con số: số sinh viên/giáo
viên, suất đầu tư, quy mô thư viện, mạng
internet…thì hoàn toàn chưa đủ, mà còn cần quan
tâm đến chất lượng một cách toàn diện hơn, sâu
sắc hơn. Đó là: trình độ tri thức, chất
lượng thực của từng bài giảng, kinh nghiệm và
trình độ tư duy của từng thầy giáo, mà không chỉ
là bằng cấp, chứng chỉ mà họ sở hữu;
chất lượng của từng học sinh, sinh viên phải là
sau từng năm học họ có những tiến bộ gì về tri
thức, kinh nghiệm, khả năng tự học, khả
năng tư duy mà không chỉ là điểm
số đạt được qua các kì thi.
Về ngân sách nhà nước dành cho Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ,
tuy còn khiêm tốn so với các nước phát triển,
nhưng cũng phải thực sự khách quan mà thừa nhận
rằng: đó là một khoản đầu tư mà nhà nước và nhân
dân đã phải hết sức cố gắng dành cho Giáo dục và
Khoa học. Điều đáng suy nghĩ là một phần
không nhỏ những khoản đầu tư ấy đã chưa được sử
dụng một cách thật hiệu quả cho việc
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên
cứu khoa học, cho việc cải thiện đời sống của
thầy và trò, cho người nghiên cứu khoa học, nhằm
góp phần nâng cao chất lượng công việc của họ.
Then chốt vẫn là ở trách nhiệm của những
người quản lý, tấm lòng và trách nhiệm của những
người thực hiện.
+ Vấn đề bồi dưỡng nhân tài (tr.11).
Dự thảo văn kiện có nêu “…phát triển nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…”. Có bồi dưỡng
được nhân tài không? Nên hiểu như thế nào?
Nội hàm chính là ươm mầm tài năng và tạo điều
kiện môi trường thuận lợi để các “hạt giống” tốt
này phát triển. Vì vậy, để làm
rõ nội hàm trên, nên chăng có thể bổ sung và
sửa đoạn này thành “phát hiện, tạo điều
kiện và môi trường thuận lợi để tài năng phát
triển ”. Quả thực điều kiện và môi
trường thuận lợi cả về vật chất và tinh
thần, môi trường thuận lợi của gia đình
và xã hội thực tế đã đem lại thành công cho
nhiều tài năng tiềm ẩn trong toàn xã hội. Đối
với phụ nữ, điều này càng quan trọng, cần được
tạo điều kiện sớm để nhiều tài năng nữ (hơn 50%
dân số) có thể thành công.
“Nhân tài” là người tài, chắc không nhiều lắm,
nhưng điều chúng ta cần là phát hiện và tạo điều
kiện để phát huy “tài năng ” của mỗi người
về từng mặt, từng lĩnh vực. Nếu tạo được điều
kiện và môi trường thuận lợi, phát triển được
tài năng riêng của mỗi người, thì tài năng nở
rộ, trong đó sẽ bật lên các nhân tài, hiệu quả
đóng góp cho sự phát triển đất nước sẽ là rất to
lớn.
+ Đào tạo, đánh giá, quản lý và đãi ngộ người
làm Giáo dục và Khoa học
Từ chỗ xem con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đặc biệt
trong lĩnh vực GD-ĐT và KH-CN, từ chỗ phải xem
chất lượng là chỉ tiêu chủ yếu của công việc
GD-ĐT và KH-CN, hãy nhìn lại việc đào tạo, đánh
giá và đãi ngộ những người hoạt động trong lĩnh
vực này.
Về mặt quản lý cán bộ, cũng như trong nhiều lĩnh vực khác,
người ta thường nói đầy đủ đến đức, tài, nhưng
trong thực tế người có trách nhiệm đã viện dẫn
đến quá nhiều những tiêu chí hình thức như:
bằng cấp, học vị, học hàm (cả thật và giả)…mà đã
không muốn hoặc không xem xét một cách
khách quan, công tâm đến đức, tài.
Kết quả là không tuyển chọn được đội
ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, đánh đồng (nếu không
muốn nói là có khi người kém nhưng biết luồn
lách lại được ưu ái, đảm nhận trọng trách hơn
người có năng lực phù hợp hơn với nhiệm vụ) cào
bằng giữa những người có tâm, có tầm, có tài với
những người khác. Điều này quả thực đã
có ảnh hưởng không tốt đến sự phấn đấu vươn lên
của các thế hệ kế cận, thế hệ trẻ. Trách nhiệm
về ai? Cá nhân hay tập thể cán bộ quản lý?.
Không có đủ những người có tâm, có tầm, có tài chịu trách nhiệm tuyển
chọn và đào tạo cho tương lai, thì làm sao có
được một đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm và có tài
cho GD-ĐT và KH-CN. Không đánh giá đúng và thẳng
thắn cán bộ thuộc quyền, thì làm sao công việc
giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học có được
chất lượng. Chất lượng công việc không được đánh
giá đúng thì làm sao động viên, kích thích được
sự cố gắng , tinh thần trách nhiệm và ý chí sáng
tạo của cán bộ. Kết quả là : chỉ có thể có
được số lượng sinh viên tốt nghiệp, số
kĩ sư, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ được đào
tạo theo kế hoạch. Một sự đãi ngộ bình
quân, một mức thu nhập trung bình thấp của những
người làm GD-ĐT và KH-CN là hậu quả tất yếu của
cả một hệ thống quản lý cào bằng, của những
người lãnh đạo các cấp thiếu thắng thắn, thiếu
trách nhiệm, hoặc không đủ năng lực. Nhiều
trường hợp người lãnh đạo có tâm, có tầm, có tài
và muốn làm, nhưng lại thiếu hoàn cảnh và điều
kiện để họ thực thi đúng nhiệm vụ mà họ phải
hòan thành.
Thoát khỏi tình trạng này quả là không dễ, không biết bắt đầu từ đâu, từ
“trứng ” hay từ “gà ”. Xin được đề nghị hãy bắt
đầu từ những tổ chức mới (trường, viện) , từ
những nhà khoa học, nhà giáo đủ tâm, đủ tầm và
đủ tài và cũng dám chịu trách nhiệm, với điều
kiện lãnh đạo dám giao cho họ đủ quyền. Từ những
tổ chức nhỏ đến tổ chức lớn, phải kiên nhẫn,
kiên định trong nhiều năm mà không phải theo
nhiệm kì hoặc có “hội chứng nhiệm kỳ”. Hãy bắt
đầu mạnh dạn tính đến nhiều hơn về chỉ
tiêu chất lượng trong thành tích giáo
dục, đào tạo và khoa học công nghệ.
Tóm lại xin đề nghị trong công tác cán bộ, không chỉ riêng trong lĩnh vực
giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, cần chú
ý đến ba chữ T là “ tâm, tài, tầm ”
….
Về đầu trang
Góp ý kiến vào
các văn kiện Đại hội XI của Đảng Tăng cường
kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng
Tôi nhất trí với dự thảo: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh
toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".
Trong phần 6 (nhỏ) có đoạn về kết quả công tác
kiểm tra giám sát được coi trọng chất lượng,
hiệu quả được nâng lên... nhưng tôi đề nghị đoạn
này làm rõ hơn nguyên nhân về vai trò lãnh đạo
của Đảng, rất đổi mới, sáng suốt cụ thể như thế
nào để có được kết quả đó. Tôi cũng nhất trí với
cả phần B đã nêu nhiều hạn chế, khuyết điểm,
chứng tỏ bản lĩnh của Đảng. Điều này làm cho dân
càng yêu Đảng.
Trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đề nghị
nói thêm một số hạn chế, khuyết điểm nữa là
trong cả nước có không ít tổ chức cơ sở Đảng chỉ
xử lý nội bộ, không công khai kỷ luật Đảng cho
dân biết, bàn, kiểm tra nên làm giảm lòng tin
của dân.
Tại phần XII và mục 7 (nhỏ) đề nghị nêu thêm công tác kiểm
tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cần làm đúng tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: "lãnh đạo quên kiểm
tra là một sai lầm rất to (báo sự thật số ra
ngày
30/11/1948 ký tên XYZ". Tiếp đó Bác dạy: "Người
lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra mới đủ
kinh nghiệm và oai tín". Ngày 29/7/1964 trong
một bài nói chuyện, Bác kính yêu nhắc nhở: "các
cấp uỷ Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra".
Vậy đề nghị Dự thảo nêu rõ toàn Đảng ta nhất là
tất cả các cấp từ chi uỷ trở lên đều phải làm
tốt công tác kiểm tra giám sát không khoán trắng
cho cán bộ kiểm tra, không xử lý nội bộ, mà
thẳng thắn công khai kỷ luật Đảng cho dân biết,
bàn, kiểm tra, giám sát vì công việc của Đảng
cũng là công viêc của dân. Vì càng công khai thì
dân càng thêm tin yêu Đảng. Bởi Đảng ta từ
3/2/1930 đến nay đã thực sự là Đảng vĩ đại của
nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta
không có lơi ích gì khác. Nên đề nghị dự thảo
nêu rõ trong nhiệm kỳ 5 năm 2005 - 2010 Đảng đã
phát hiện, xử lý kỷ luật Đảng nhiều vụ và có
đánh giá để tạo niềm tin của dân.
Tôi đã đọc kỹ kết luận của Dự thảo nêu trên: "Đất nước ta đã
vượt qua những khó khăn, thách thức to lớn và
đang vững bước đi lên...đến hết). Tôi tha thiết
đề nghị ghi thêm nội dung nữa đặc biệt quan
trọng mà kết luận chưa đề cập là: toàn đảng,
toàn dân, toàn quân quyết đoàn kết phấn đấu làm
đúng điều mong muốn cuối cùng trong di chúc
thiêng liêng viết ngày
10/5/1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nguyễn Cảnh
Đảng bộ thị trấn
Phúc Thọ, Hà Nội
Về đầu trang
Góp ý kiến vào
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng:
Vấn đề dân tộc cần được đề cập sâu sắc hơn
Hai văn kiện rất quan trọng là Cương lĩnh và Báo
cáo chính trị đều cùng đề cập một vấn đề về
dân tộc; nhưng việc xác định vị trí chiến
lược, các nguyên tắc chính sách, nội dung giải
quyết vấn đề đó thấy chưa nhất quán và chưa sâu
sắc, có thể làm cho cán bộ và đồng bào các dân
tộc hiểu khác nhau. Suy nghĩ từ thực tiễn của
nước ta và kinh nghiệm của thế giới, tôi xin góp
vào Dự thảo các Văn kiện Đại hội XI của Đảng một
số ý kiến liên quan đến vấn đề dân tộc
như sau:
1. Cương lĩnh là tuyên ngôn chính trị của Đảng,
định hướng cho nhận thức và hành động của toàn
Đảng và toàn dân ta, nhất thiết phải đề cập –
xác định về vị trí chiến lược của vấn
đề dân tộc; đề nghị bổ sung vào điểm 6 của
Cương lĩnh (ở trang 13, dự thảo các Văn kiện
trình Đại hội XI của Đảng) là: Vấn đề dân tộc
và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lớn
và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Báo cáo chính trị khi xác định vị trí chiến
lược của vấn đề dân tộc cũng không nên chỉ nhấn
đoàn kết mà cần phải bổ sung đầy đủ như
vậy, vì đoàn kết là một mặt của vấn đề dân tộc.
Phải thấy, nước Việt Nam ta là một quốc gia
thống nhất, có nhiều dân tộc và tôn giáo, ngày
nay cũng đã mở cửa và hội nhập quốc tế, mối quan
hệ giữa các dân tộc và tôn giáo ở trong và ngoài
nước gia tăng, các yếu tố dân tộc và tôn giáo
đan xen nhau, các thế lực thù địch vấn tăng
cường “chiến tranh ngầm dân tộc và tôn giáo”
nhằm chia rẽ dân tộc và tôn giáo, phá hoại cách
mạng nước ta;… nên vấn đề dân tộc không chỉ có
vị trí chiến lược lớn và lâu dài mà có tính
thời sự cấp bách và rất nhậy cảm. Đảng ta
phải đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc, hòa giải
và hòa hợp, đoàn kết được các dân tộc theo tư
tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là chìa
khóa để ổn định và phát triển đất nước. Cần nhất
quán về khái niệm khi Cương lĩnh viết “Các
dân tộc trong cộng đồng Việt Nam” và Báo cáo
chính trị viết “Các dân tộc trong đại gia
đình Việt Nam”, liên quan đến chủ thể dân
tộc Việt Nam; đề nghị sau cụm từ cộng đồng
hay gia đình thêm cụm từ
dân tộc.
2. Về các nguyên tắc cơ bản của chính
sách dân tộc, hai văn kiện đều xác định có
một số nguyên tắc giống nhau, có nguyên tắc lại
khác nhau, như Cương lĩnh thì có phát triển,
Báo cáo chính trị thì có tiến bộ và thêm
thương yêu; đề nghị Cương lĩnh và Báo cáo
chính trị thống nhất xác định là: Thực hiện nhất
quán chính sách bình đẳng, tôn trọng, đoàn
kết, giúp nhau, tiến bộ giữa các dân tộc
trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Phải đặt
tôn trọng lên trước đoàn kết, bớt đi thương
yêu, phát triển, vì đoàn kết đã có thương
yêu, giúp nhau tiến bộ đã gồm cùng phát triển
rồi, bỏ bớt các từ và, đỡ, cùng cho gọn,
còn lại 10 chữ; xác định các nguyên tắc cơ bản
của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
như vậy là đầy đủ, hợp với thực tiễn.
Con người ta sống phải biết tôn trọng và thương
yêu nhau thì mới có đoàn kết; có tôn trọng,
thương yêu, đoàn kết thì mới giúp nhau cùng phát
triển và tiến bộ, có phát triển mới tiến bộ,
phải phát triển theo hướng tiến bộ; có đoàn kết,
giúp nhau phát triển và tiến bộ thì mới bình
đẳng thực sự, có bình đẳng thực sự thì mới có
đoàn kết thực sự. Chúng ta không những phải nhận
thức đúng đắn các nguyên tắc đó và mối quan hệ
của nó, mà phải vận dụng thực hiện tốt trong
thực tiễn từ việc nhỏ đến việc lớn; nếu ai không
thực hiện tốt, chỉ bỏ sót một trong các nguyên
tắc trên là vi phạm chính sách dân tộc, sẽ gây
hậu quả khó lường.
3. Về nội dung giải quyết vấn đề dân tộc,
Báo cáo chính trị đặt ra những việc sẽ làm (ở
trang 103 – sđd) chung quá, cần có nội dung
cụ thể và sát hợp hơn, tạo chuyển biến rõ
rệt cái gì ở vùng dân tộc thiểu số, để giải
quyết hài hòa lợi ích giữa các dân tộc? Tôi đề
nghị phải tạo chuyển biến rõ rệt về mọi
mặt, nhất là nâng cao chất lượng nhân lực,
xây dựng kết cấu hạ tầng, xoá được đói giảm được
nghèo,...Cương lĩnh và Báo cáo chính trị cần
bổ sung: Chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc
hẹp hòi, rồi mới tiếp đến chống kì thị và
chia rẽ dân tộc,…
Báo cáo chính trị và Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đều đề cập
đến Vùng trung du miền núi, việc
sẽ làm ở vùng này. Tôi xin nhấn thêm về miền
núi – vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống. Đây là vùng có vị trí chiến
lược quan trọng về kinh tế - văn hoá, xã hội,
quốc phòng - an ninh. Tuy có tiềm năng và thế
mạnh, có đổi mới, phát triển và tiến bộ, nhưng
vẫn là vùng có nhiều khó khăn và nghèo,
khó khăn nhất là vùng núi phía Bắc, đặc biệt
là Tây Bắc; ở đây có trình độ phát triển
không đều, có khoảng cách chênh lệch về nhiều
mặt, rõ nhất là dân trí thấp, năng lực sản xuất
thấp, đói nghèo cao, thiếu nước, thiếu đường,
thiếu trường, quan hệ giữa dân tại chỗ với dân
tái định cư, dân di cư tự do luôn tiếp diễn vẫn
còn phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố bất ổn về an
ninh chính trị, …
Để vực dậy vùng miền núi, phải chủ động tổ chức
cuộc sống mới của đồng bào các dân tộc ở các khu
dân cư, xóa giảm được đói nghèo, không di cư tự
do, không phá rừng trái phép; khai thác các tiềm
năng, phát huy các thế mạnh – nhất là thế mạnh
về rừng, không có rừng, có cây, người ta
không thể sống được, nâng cao hơn nữa độ che
phủ của rừng, giao cho đồng bào các dân tộc làm
rừng để họ sống bằng nghề rừng, dân làm rừng có
nước là làm thuỷ điện, để làm giàu cho mình và
cho đất nước; gắn phát triển kinh tế - xã
hội với bảo đảm quốc phòng – an ninh, xây được
phòng tuyến biên giới bằng lòng dân; xây dựng hệ
thống chính trị thật sự trong sạch và vững
mạnh,…
Cán bộ và đảng viên, đồng bào các dân tộc ở miền
núi phải có tâm và có tầm làm những việc
đó, phát huy được nội lực của mình, tinh
thần yêu nước và cách mạng, khắc phục cho
được tư tưởng ỷ lại và trông chờ, để tự giải
quyết lấy công việc của đồng bào mình là chính.
Đồng thời, Trung ương và cả nước phải tạo
mọi điều kiện phát triển vùng khó khăn này,
không chỉ có cơ chế và chính sách đặc thù mà
phải có vốn đầu tư đủ độ; ví như người ốm đau
phải được bác sĩ khám tìm đúng bệnh, điều trị
đúng bệnh, dùng đúng thuốc và đủ liều mới khỏi
bệnh,…Có như vậy thì vùng miền núi mới ổn định
và phát triển được, mới giải quyết được hài
hòa lợi ích giữa các dân tộc, mới
bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng
trong nước.
Chiến lược đề ra mục tiêu đến năm 2020: Thu
hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và
nhóm dân cư. Tôi đề nghị ở vùng miền núi
không chỉ có thu nhập mà phải nói các mặt – nhất
là đời sống, cán bộ dân tộc, văn hóa dân tộc;
không chỉ nhóm dân cư mà phải nói là các dân
tộc; xin điều chỉnh và bổ sung: Sớm thu hẹp
khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các vùng
và các dân tộc. Phải phấn đấu sao cho
người dân sống ở miền núi cũng có thu nhập,
có điều kiện sống không khác gì so với người
dân sống ở miền xuôi và đô thị. Một số đồng
bào dân tộc ở vùng cao xuống vùng thấp thấy sống
ở vùng thấp sướng hơn sống ở vùng cao, đã nói
rằng: Chúng ta đổi nhau, tao sống ở vùng cao lâu
rồi, nay mày phải lên sống ở vùng cao thay tao.
Báo cáo chính trị xác định trong nhiệm kỳ Đại
hội XI, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện những nhiệm
vụ trọng tâm (ở trang 114 – sđd), tôi đề nghị bổ
sung thêm:
-
Phải đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc và tôn
giáo, hòa giải, hòa hợp, đoàn kết được dân tộc
và tôn giáo theo tư tưởng và tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh là chìa khóa để ổn định và phát
triển đất nước.
Vấn đề cốt lõi là sớm tạo ra một cơ chế kết hợp
giải quyết hài hòa, hợp lý các lợi ích về chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giữa lợi ích vật
chất và tinh thần, lợi ích chung và lợi ích
riêng, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của
các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn
giáo, các thành phân kinh tế, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài. Có làm như vậy mới xây
được niềm tin, mới tạo lập được các mối quan hệ
hài hòa giữa cá nhân với cộng đồng, với xã hội,
mới có đồng thuận xã hội, mới có đại đoàn kết
toàn dân tộc trong thời kỳ mới.
-
Phải xóa được đói, giảm được nghèo, thu hẹp được
khoảng cách giàu – nghèo.
Ai cũng thấy đói nghèo là sự đau khổ, là yếu
kém, là nhục nhã! Nếu chậm thu hẹp khoảng cách
chênh lệch về các mặt, không xóa được đói nghèo,
để khoảng cách giàu – nghèo quá lớn thì sẽ dẫn
đến nguy cơ xung đột xã hội, gây bùng nổ dân
tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Bác Hồ
đã nói đói nghèo là giắc và kêu gọi toàn
dân phải chống giặc đói nghèo. Ai cũng biết,
đánh giặc ngoại xâm đã khó và có đổ máu nhưng
không khó và phức tạp như đánh giặc đói nghèo.
Giải quyết đói nghèo và thu hẹp khoảng cách giàu
– nghèo là sự thách thức đối với Đảng ta, uy tín
của Đảng cao hay thấp, niềm tin của đồng bào các
dân tộc với Đảng tăng hay giảm đều tùy thuộc vào
có lãnh đạo đánh thắng giặc đói nghèo hay không?
4. Đề nghị tiếp tục xây dựng Dự án Luật dân
tộc Việt Nam. Luật này nhằm cụ thể hóa
điều 5 của Hiến pháp, thể chế hóa chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, điều chỉnh các
mối quan hệ (công dân giữa các dân tộc, giữa
công dân các dân tộc với Nhà nước, trách nhiệm
của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đối với đồng
bào các dân tộc), các biện pháp bảo đảm thực
hiện tốt chính sách dân tộc ở nước ta,… Đây
là việc làm hợp lòng dân. Việc xây dựng
Luật dân tộc đã được đặt ra từ Đại hội VIII
của Đảng, Dự án Luật được chuẩn bị trên 10 năm
rồi. Nay dừng lại, lý do dừng lại chưa có sức
thuyết phục, làm cho cán bộ và đồng bào các dân
tộc có nhiều suy tư, buồn phiền, họ vẫn mong
Đảng và Nhà nước xem xét lại. Nghiên cứu vấn đề
dân tộc của ta và thế giới trong thời kỳ mới,
chúng ta cần phải làm tiếp Luật này, không
nên quá thận trọng mà dừng lại, làm việc này
chính là để chủ động giải quyết tốt vấn đề dân
tộc của nước ta, bảo đảm thực hiện tốt
hơn chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta,
…
5. Về Đảng, tôi đề nghị với Đảng và Nhà nước
nghiên cứu xây dựng Dự án Luật về Đảng lãnh
đạo. Luật này nhằm cụ thể hóa điều 4 của
Hiến pháp, điều chỉnh mối quan hệ giữa Đảng
với nhân dân và Nhà nước theo đúng đường lối của
Đảng, đúng Hiến pháp. Có luật này chỉ có lợi,
không có chút hại nào cho xây dựng Đảng và
cho sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng; sẽ tăng thêm
đoàn kết giữa Đảng với nhân dân, tạo thêm
điều kiện cho nhân dân có cơ sở pháp lý để
tham gia xây dựng Đảng, giám sát Đảng và bảo
vệ Đảng. Không có lý do nào có luật về tổ
chức Nhà nước, về Quốc hội, về Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, … lại không cần có luật về Đảng lãnh
đạo.
Lù Văn Que
Ủy viên Đoàn Chủ tịch
Ủy
ban Trung ương MTTQVN
(Nguyên Phó Chủ nhiệm UBDT TW)
Về đầu trang
Xây
dựng cơ chế nhân dân làm chủ
Dự thảo Báo cáo Chính trị, trong
phần kiểm điểm đã có đánh giá thành tựu và những
hạn chế, khuyết điểm của Mặt trận và các đoàn
thể nhân dân trong việc thực hiện dân chủ, tham
gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân,
tập hợp, động viên nhân dân thực hiện chủ trương,
chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước,
tham gia xây dựng Ðảng. Tôi có một số kiến nghị
như sau:
Mặt trận, đoàn thể có nhiều vai
trò, trong đó có vai trò thực hiện dân chủ, đại
diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân
dân, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ
tham gia xây dựng Ðảng, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân,
thắt chặt mối liên hệ giữa Ðảng, Nhà nước với
nhân dân. Trong cơ chế Ðảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ, thì vai trò Ðảng lãnh
đạo là rất rõ, Nhà nước quản lý cũng rất rõ vai
trò, còn vai trò nhân dân làm chủ thì chưa có
Nghị quyết nào chỉ ra rõ ràng, đầy đủ. Về phương
diện dân chủ, có dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp. Cơ chế dân chủ đại diện được quan tâm
và đề cập nhiều trong các Nghị quyết và các quy
định của pháp luật (tuy chưa thật đầy đủ), nhưng
cơ chế dân chủ trực tiếp thì chưa được thể chế
hóa.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình
Ðại hội XI của Ðảng nêu rõ: 'Có cơ chế để nhân
dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực
tiếp', đây là chủ trương rất đúng đắn, đáp ứng
nguyện vọng của nhân dân, nhân dân rất mong muốn
quyền dân chủ, quyền làm chủ trực tiếp được Nhà
nước sớm ban hành cơ chế. Vấn đề ở đây cần xác
định: Cơ quan, tổ chức nào ban hành cơ chế ấy.
Có cơ chế rồi nhưng cần phải được
thể chế thành pháp luật và bằng tổ chức. Quyền
dân chủ đại diện thì theo cơ chế nào? Tôi đề
nghị nên cụ thể cơ chế: 'Nhân dân làm chủ' trên
mấy vấn đề sau đây:
a. Ðề ra nguyên tắc làm chủ của
nhân dân, đó là: 'Nhân dân được làm những gì mà
Nhà nước không cấm'.
b. Các lĩnh vực cần mở rộng quyền
dân chủ, quyền làm chủ đó là: 'Các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội'...
c. Nội dung quyền làm chủ là: 'Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát'.
d. Phương thức làm chủ là nhân
dân vừa thực hiện dân chủ trực tiếp vừa 'thực
hiện dân chủ đại diện thông qua các cơ quan Nhà
nước, đại biểu dân cử, Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân'.
e. Trách nhiệm của cơ quan Nhà
nước bảo đảm để nhân dân được làm chủ trên thực
tế, vì vậy Nhà nước sớm ban hành các đạo luật
liên quan.
Ðỗ Duy Thường, Nguyên Phó
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam
Về đầu trang
Ý kiến góp ý
của GS TS Đỗ Quang Hưng, Chủ nhiệm Hội đồng tư
vấn về Tôn giáo, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam: Cần tiếp tục đổi mới chính sách
tôn giáo
Sự đổi mới căn bản về đường lối và chính sách tôn giáo ở nước
ta được đánh dấu từ khi có NQ 24 của Bộ Chính
trị (tháng 10-1990). Từ đó đến nay, nói đúng hơn
từ Cương lĩnh 91 (Đại hội VII, 1991) và Văn kiện
các Đại hội tiếp theo VIII, IX và X đã liên tục
in dấu những luận điểm có tính đột phá quan
trọng của Nghị quyết nói trên, mở ra một thời kì
mới trong việc thực hiện đường lối chính sách
tôn giáo ở nước ta và trên thực tế đã đem lại
những thắng lợi to lớn trên lĩnh vực này.
Tuy thế sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh 91, riêng về lĩnh vực
đời sống tôn giáo cũng đã và đang đặt ra những
vấn đề mới, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi
mới về tư duy, lý luận cũng như chính sách tôn
giáo, phù hợp với những đòi hỏi ngày càng cao
trong bối cảnh mở cửa hội nhập, toàn cầu hóa
hiện nay.
Nghiên cứu Dự thảo Văn kiện Đại hội XI sắp tới của Đảng,
trong lĩnh vực đường lối chính sách tôn giáo,
chúng tôi có một số suy nghĩ và kiến nghị dưới
đây:
Thứ nhất, chúng ta đã thừa nhận tôn giáo còn là một thực tại
xã hội, thậm chí nó có thể đồng hành với dân tộc
và với CNXH. Tư duy lý luận của chúng ta phải
tiến thêm một bước quan trọng khác, một luận đề
có tính “đột phá” khác là, để tôn giáo-“thực
thể xã hội” ấy có thể thích ứng với CNXH phải
tạo cho nó khả năng và quyền hạn pháp lý để vừa
có thể tham gia tích cực hơn vào một số lĩnh vực
xã hội thích hợp, đóng góp vào việc xây dựng
phát triển đất nước vừa thoả mãn nhu cầu của bản
thân các tôn giáo.
Khi thừa nhận xu hướng “tôn giáo xã hội”, về mặt lý thuyết
chúng ta đứng trước hai khả năng. Một mặt, các
“tôn giáo xã hội” sẽ có điều kiện bộc lộ tích
cực, năng động hơn những khả năng của các cộng
đồng tôn giáo với xã hội hiện nay. Mặt khác, Nhà
nước lại đứng trước cục diện mới, trong đó khi
các tôn giáo đã “hồi sinh” và phát triển thì tự
nó tất yếu cũng sẽ trở thành “những đoàn thể áp
lực” với Nhà nước. Điều này các nhà nghiên cứu
xã hội học tôn giáo gần đây đã nói đến xu hướng
“giải tục hóa” với ý nghĩa như vậy.
Thứ hai, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa Nhà nước và các
giáo hội.
Hiện nay, vấn đề then chốt để tiếp tục đổi mới về tôn giáo là
phải đặt mối quan hệ này trong vấn đề Nhà nước
pháp quyền, bình thường hoá và pháp trị. Càng
làm tốt điều này, đời sống tôn giáo càng ổn định,
khối đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo... càng được
xây dựng vững chắc. Hiện nay nhiều tôn giáo đã
thể hiện sự đòi hỏi vị thế “một tôn giáo dân sự”,
vì thế trong điều kiện xây dựng mô hình Nhà nước
pháp quyền, cũng cần có cái nhìn mới mẻ thông
thoáng hơn nữa trong quan hệ giữa Nhà nước và
các tổ chức giáo hội.
Ở Việt Nam hiện nay, trước khi nói đến một bộ luật về tôn
giáo (Các văn bản của Bộ Chính trị khoá IX đã
từng nói điều này) thì cấp thiết phải xây dựng
Luật Pháp nhân tôn giáo. Kinh nghiệm cho thấy,
khi lựa chọn mô hình một nhà nước thế tục, điều
cấp thiết có tính hệ luận là Nhà nước phải có
Luật Tư cách pháp nhân, nghĩa là luật công nhận
các tổ chức tôn giáo và những định chế về quyền
hạn và nghĩa vụ của chúng về phương diện pháp lý.
Thứ ba, việc ổn định đời sống tôn giáo và tạo thêm điều kiện
cho các tôn giáo cống hiến khả năng xây dựng,
phát triển đất nước là không ngoài quy luật mà
tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra: luôn luôn duy
trì và phát triển xu hướng tôn giáo đồng hành
với dân tộc và CNXH; đoàn kết dân tộc tôn giáo
trước hết bằng mục tiêu chung, điểm tương đồng
giữa lý tưởng tốt đẹp vốn có của các tôn giáo
với CNXH; khai thác những giá trị tích cực của
các tôn giáo trước hết là các giá trị văn hoá và
đạo đức, đồng thời luôn cảnh giác với những âm
mưu lợi dụng các tôn giáo vào mục đích chính trị
phản dân tộc và CNXH...
Thứ tư, trong sự đổi mới (tiếp tục) về chính sách tôn giáo,
phải chăng chúng ta cần thực sự tính đến việc mở
rộng hơn ba khu vực cơ bản mà các tổ chức tôn
giáo có nhiều tiềm năng để tham gia:
- Các hoạt động giáo dục - đào tạo với tư cách một chủ thể
đầu tư, dĩ nhiên là trong khuôn khổ Luật Giáo
dục của Nhà nước. Có thể với thực tiễn nước ta,
sự “mở cửa” bước đầu này chỉ ở một phần của giáo
dục phổ thông.
- Các hoạt động y tế, đặc biệt là những “khu vực đặc biệt” (các
bệnh viện chuyên biệt cho các bệnh nan y, nhà
thương làm phúc, các cơ sở y tế khám chữa bệnh
khác...) với tư cách là một chủ thể đầu tư.
- Về hoạt động từ thiện, đây vốn là một mặt mạnh của các tổ
chức tôn giáo, có thể mở rộng hoạt động này để
mang lại hiệu quả nhiều mặt hơn.
Sự mở rộng như vậy không chỉ đáp ứng nhu cầu các tổ chức tôn
giáo mà còn hòa nhịp, thích ứng hơn đối với
thông lệ quốc tế.
Thứ năm, cùng với việc mở cửa hội nhập quốc tế,
cùng với việc hệ thống tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay ngày một mở rộng hơn, quan hệ quốc tế về tôn
giáo cũng theo đó đặt ra nhiều vấn đề mới, trong
đó có vấn đề sinh hoạt tôn giáo của người nước
ngoài ở Việt Nam. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
đã giải quyết bước đầu vấn đề này. Tuy vậy chúng
ta cần có cái nhìn rộng rãi, sâu sắc hơn về một
“sự kiện tôn giáo” mới mẻ này để có những chính
sách sát hợp hơn.
Về đầu trang
Cần có chiến
lược về giai cấp công nhân
Trong Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH, (bổ sung, phát triển năm 2011) ở
mục 12 nói về vai trò lãnh đạo của Ðảng: "Ðảng
lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên
hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính
trị...
Ðảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả
lãnh đạo...' và trong Dự thảo Báo cáo Chính trị
mục 5 nói về kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và
nâng cao chất lượng đảng viên: 'Kiện toàn tổ
chức của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo
toàn diện của đảng ở cơ sở'. Vậy ở những nơi có
đông quần chúng (cụ thể là những doanh nghiệp có
đông công nhân và người lao động), không có đảng
viên, không có tổ chức cơ sở đảng, chưa có tổ
chức công đoàn thì đảng lãnh đạo như thế nào?
Ðây là vấn đề rất đáng quan tâm đối với Ðảng, là sự băn khoăn
của nhiều đảng viên. Thực tế cho thấy hai vấn đề
rất cần được xem xét đối với vai trò lãnh đạo
của Ðảng trong các cơ sở doanh nghiệp.
Một là, khi chuyển sang kinh tế thị trường, các doanh nghiệp
nhà nước được cổ phần hóa, vai trò điều hành và
quyết định sự phát triển của doanh nghiệp thuộc
quyền quyết định của hội đồng quản trị. Nếu tỷ
lệ cổ phiếu của Nhà nước thấp, nếu các đảng viên
trong cấp ủy không nắm giữ phần lớn cổ phần thì
cấp ủy đảng trong doanh nghiệp chủ yếu lãnh đạo
về công tác tư tưởng.
Hai là, hiện đang có rất nhiều doanh nghiệp không có đảng
viên, không có tổ chức cơ sở đảng. Vấn đề đặt ra
là Ðảng lãnh đạo đội ngũ công nhân và người lao
động, giai cấp tiên phong của Ðảng bằng cách nào,
nếu ở đó không có các đoàn thể chính trị, không
có công đoàn? Nếu tổ chức công đoàn không mạnh,
không tuyên truyền, giáo dục thì làm sao đường
lối chủ trương của Ðảng đến được công nhân và
người lao động trong khi hàng loạt doanh nghiệp
vẫn chưa có tổ chức công đoàn? Tại Báo cáo Chính
trị mục 3, nói về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
kinh tế đất nước 10 năm (2011- 2020) chỉ có một
câu: 'Ðổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân';
nói về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mục 2:
'Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp
tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động,
phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân
dân, thực hiện dân chủ cơ sở, giám sát và phản
biện xã hội; tổ chức các phong trào thi đua yêu
nước...'; trong khi đó thực tế, bộ máy tổ chức
công đoàn đang bị thu hẹp nhưng lại phải gánh
vác rất nhiều nhiệm vụ. Một quận, huyện, hay một
ngành có tới hàng chục nghìn công nhân, viên
chức và người lao động, hàng trăm công đoàn cơ
sở nhưng chỉ vẻn vẹn từ ba đến bốn cán bộ công
đoàn chuyên trách, phải đảm đương một khối lượng
công việc đồ sộ; tại cơ sở, cả một bộ máy ban
chấp hành nhưng hoạt động kiêm nhiệm và hầu hết
là công nhân và người lao động trực tiếp, không
có thời gian, không được trang bị phương tiện,
hưởng lương sản xuất và chịu sự điều hành của
chủ doanh nghiệp... Vì vậy, vấn đề truyền tải
các thông tin của Ðảng đến công nhân và người
lao động là công việc quá khó?
Tôi đề nghị, dự thảo các văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng
phải nêu rõ hơn nữa vai trò, trách nhiệm và sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tổ chức
công đoàn. Phải xác định rõ hơn nữa nội dung
Ðảng lãnh đạo giai cấp công nhân thông qua tổ
chức cơ sở đảng, thông qua tổ chức công đoàn.
Ðảng ta cần sớm có Chiến lược về xây dựng và
phát triển giai cấp công nhân thời kỳ CNH, HÐH
đất nước.
Nguyễn Văn Bính (Phường
Hoàng Nghĩa, quận Dương Kinh, TP Hải Phòng)
Về đầu trang
Cộng đồng doanh
nhân là nhân tố quan trọng phát triển nền kinh
tế đất nước
Tại Hội nghị doanh nhân toàn quốc với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí
Minh với doanh nghiệp, doanh nhân; góp ý kiến
vào các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI" diễn ra sáng ngày 9/10 tại Hà Nội do Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ
chức, hầu hết đều nhất trí rằng: cộng đồng doanh
nhân là một lực lượng quan trọng, góp phần phát
triển nền kinh tế đất nước.
PGS.TS. Vũ Văn Phúc, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương;
TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI; PGS.TS. Phạm
Hồng Chương, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các
lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh đồng chủ trì Hội nghị.
Trong nhiều năm qua, VCCI – tổ chức quy tụ của giới doanh
nhân cả nước - đã có nhiều hoạt động thiết thực
nhằm phát huy các quan điểm, đạo đức, lối sống
của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cộng đồng doanh
nghiệp, doanh nhân Việt Nam. Hội nghị doanh nhân
toàn quốc lần này là một trong nhiều hoạt động
tiếp nối đó.
Thông qua Hội nghị lần này, VCCI muốn phát huy tinh thần của
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, thiết
thực chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng, chào mừng Ngày doanh nhân Việt
Nam (13/10/2010), chào mừng 1000 năm Thăng Long
– Hà Nội, xây dựng và phát triển đội ngũ doanh
nghiệp, doanh nhân Việt Nam, đồng thời khẳng
định vai trò dẫn đầu của đội ngũ doanh nhân
trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển
kinh tế đất nước, nêu cao tinh thần trách nhiệm
của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân với xã
hội; tăng cường sức mạnh liên kết cộng đồng
doanh nhân trong tiến trình hội nhập và phát
triển.
45 tham luận của các học giả, các nhà nghiên cứu và các doanh
nhân đã tập trung vào hai phần chính: Phần
một"Chủ tịch Hồ Chí Minh với doanh nghiệp, doanh
nhân" và phần thứ hai “Góp ý vào các văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI”.
Trong phát biểu khai mạc, TS. Vũ Tiến Lộc cho biết: Thực tiễn
của quá trình đổi mới và hội nhập đã làm sáng tỏ
tư tưởng của Bác Hồ về doanh nghiệp, doanh nhân.
TS. Vũ Tiến Lộc cũng khẳng định: Sự nghiệp dân giàu, nước
mạnh đòi hỏi phải xây dựng lực lượng xung kích
hùng hậu là đội ngũ doanh nghiệp và doanh nhân
có ý chí khao khát làm giàu cho mình và cho đất
nước, có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm trong đầu tư phát triển kinh doanh,
có ý thức tôn trọng pháp luật, có tầm nhìn chiến
lược và tư duy năng động, sáng tạo.
Theo TS Lộc, mục tiêu phải đạt trong thời gian tới là xây
dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có đủ năng lực,
trình độ để lãnh đạo, điều hành hệ thống doanh
nghiệp có sức cạnh tranh cao, có tinh thần dân
tộc, có trách nhiệm xã hội, liên kết chặt chẽ và
tham gia tích cực vào mạng sản xuất và chuỗi giá
trị toàn cầu, đóng vai trò quyết định trong công
cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế. Phấn đấu đến năm 2020 tạo được
bước chuyển về chất lượng và cơ cấu doanh nghiệp;
tăng tỷ trọng các doanh nghiệp lớn và vừa,và có
được một số doanh nghiệp đạt tầm cỡ khu vực và
thế giới.
Qua các phần trình bày của các đại biểu, hầu hết đều bày tỏ
tin tưởng và hy vọng rằng, trở lại với tư tưởng
Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng sẽ mở ra
một giai đoạn phát triển đột phá của đội ngũ
doanh nhân trong sự nghiệp chống đói nghèo, làm
giàu cho bản thân và cho đất nước.
Kiến nghị những giải pháp thiết thực phát triển doanh nghiệp,
doanh nhân trong dự thảo văn kiện trình Đại hội
Đảng XI
Theo Đại tá Phùng Danh Thắm, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Thái
Sơn Group (Bộ Quốc Phòng), để xây dựng được
những tên tuổi lớn trong tầng lớp doanh nhân và
doanh nghiệp cần có quá trình với nhiều yếu tố
khách quan và quá trình đó phụ thuộc nhiều vào
cơ chế, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà
nước về đường hướng phát triển doanh nghiệp
doanh nhân trong thời kỳ mới. Do vậy, trong Dự
thảo văn kiện đề cập đến lực lượng doanh nghiệp,
doanh nhân cần nhấn mạnh vào mục tiêu xây dựng
và phát triển tầng lớp doanh nhân. Trong đó,
đáng chú ý là: thống nhất nhận thức về vị trí,
vai trò của doanh nhân; khẳng định tiếng nói của
doanh nghiệp trong tham gia xây dựng và đóng góp
ý kiến vào chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước; xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ
nhưng giản gọn, xóa bỏ những thủ tục bất hợp lý,
phiền hà…, đẩy mạnh cải cách hành chính: quy
định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, trách
nhiệm của doanh nhân trên các mặt: trách nhiệm
với người tiêu dùng, cộng đồng, người lao động,
đối tác, nhà nước… đồng thời có cơ chế khuyến
khích doanh nghiệp, doanh nhân khẳng định thương
hiệu và tên tuổi trên trường quốc tế và trở
thành thương hiệu quốc gia.
Ông Nguyễn Đại Lai, chuyên gia kinh tế đã chỉ ra: tại mục I,
trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2011-2020, phần đánh giá những mặt hạn chế,
yếu kém còn quá kiệm lời. Do đó nên bổ sung thêm
theo hướng cụ thể hóa những mặt yếu kém nhất đã
nêu như: tăng trưởng kém chất lượng, văn hóa-xã
hội còn bức xúc, môi trường nhiều nơi bị ô nhiễm
nặng nề... Với những yếu kém mang tính vật cản
lớn nhất như đã liệt kê trong Dự thảo, nên chỉ
rõ nguyên nhân cụ thể từ thành phần kinh tế nào
gây ra, từ trên xuống hay từ dưới lên. Cách diễn
đạt trong Dự thảo đều bộc lộ một phương pháp nói
định tính, chung chung kiểu văn phong nghị quyết,
giao nhiệm vụ hơn là văn phong chiến lược kinh
tế - xã hội.
Ông Nguyễn Đại Lai đã phân tích: tình hình kinh tế Việt Nam
sở dĩ còn lạc hậu như hiện nay sau gần 40 năm
giải phóng và hơn 20 năm gia nhập kinh tế thị
trường là ở chỗ phân biệt đối xử, sự không minh
bạch và thiếu công bằng quá lâu đối với các chủ
thể (thể nhân và pháp nhân) của nền kinh tế.
Chính vì vậy, về quan điểm phát triển, trong văn
kiện chính thức cũng nên nêu rõ việc giải bài
toán về tạo môi trường công bằng, bình đẳng,
nghiêm minh... chứ không phải bằng phân biệt,
càng không nên phân biệt không tương xứng giữa
các thành phần kinh tế do chính mô hình cũ đã
tạo ra. Ông Lai khẳng định: “Một trong những
nghịch lý là chúng ta luôn luôn hô hào về việc
“coi khoa học – công nghệ là động lực”; “coi
giáo dục – đào tạo là quốc sách”; “coi hiền tài
là nguyên khí quốc gia”... Nhưng trên thực tế,
cả 3 chủ trương rất đúng đắn nói trên chủ yếu
còn nguyên là niềm mong ước, là “chủ trương”
trong tư duy chứ chưa biểu hiện đáng kể trong
hành động”. Chính vì vậy, ở tầm quốc gia, theo
ông Lai, cần phải thành lập Quỹ phát triển khoa
học – công nghệ (KH-CN) quốc gia để tạo cú hích
và thường xuyên đỡ đầu cho các lực lượng nghiên
cứu KH-CN phát triển, để ngày càng có nhiều nhà
khoa học đầu đàn, nhiều tổng công trình sư tài
năng, có uy tín và có khả năng làm cho nước ta
sớm có đủ sức tiếp cận và sáng tạo công nghệ mới
ở mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, đáp ứng cho
chiến lược phát triển kinh tế đất nước thời kỳ
hậu WTO; Ở cấp doanh nghiệp cũng cần được khuyến
khích mở Quỹ phát triển KH-CN để khoa học, công
nghệ đi được nhiều hơn vào cuộc sống.
Trong khi đó, Luật gia Vũ Xuân Tiền, Chủ tịch Hội đồng thành
viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam thì cho rằng
Dự thảo Báo cáo chính trị là văn kiện rất toàn
diện, được nghiên cứu công phu. Những định hướng
lớn về phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
được nêu trong Dự thảo là phù hợp với các quy
luật kinh tế khách quan, yêu cầu của tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế và thực trạng của nền
kinh tế nước ta trong thời gian tới. Tuy nhiên,
trong Dự thảo vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm:
một số nhận định còn quá chung chung, chưa đủ
sức thuyết phục. Những định hướng lớn về phát
triển kinh tế, xã hội của nước ta trong 5 năm
tới chưa được chứng minh với đầy đủ căn cứ khoa
học. Dự thảo đã nêu ra khá nhiều lĩnh vực cần ưu
tiên và tập trung phát triển, song chưa chỉ rõ,
trong số những lĩnh vực đó, lĩnh vực nào, ngành
nào là ưu tiên và tập trung hơn? Mục tiêu "Hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa" chưa có tư duy đột phá, vẫn đi
theo lối mòn từ những thập kỷ trước… Theo luật
gia Vũ Xuân Tiền, cần có nghị quyết về việc tập
trung sức giải quyết, tháo gỡ ngay những "nút
thắt" về an sinh xã hội; cần có nghị quyết về
việc nâng cao phẩm chất, đạo đức và năng lực của
đội ngũ cán bộ, đảng viên; trong quản lý kinh tế,
cần khắc phục ngay tình trạng thiếu nghiêm minh
trong việc sử dụng vốn của Ngân sách nhà nước;
thúc đẩy nhanh hơn nữa sự hình thành Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Những nội dung liên quan tới chính sách phát triển kinh tế,
vấn đề thể chế và những chủ trương, giải pháp
phát triển doanh nghiệp được đề cập chính yếu
tại Hội nghị và phần lớn đều nêu lên nhiều giải
pháp thiết thực góp ý vào văn kiện Đại hội Đảng
sắp tới./.
Về đầu trang
Nhân
sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo Bến Tre góp ý vào
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ
XI
Ngày 7/10, Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc, Ban Tuyên giáo và Liên hiệp các hội khoa
học- kỹ thuật tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị
lấy ý kiến các nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn
giáo đóng góp vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội
toàn quốc lần thứ XI của Đảng.
Sau khi nghe ông Vũ Hồng Thanh,
Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bến Tre giới thiệu
tóm tắt nội dung các Dự thảo văn kiện gồm: Cương
lĩnh chính trị, Báo cáo chính trị và Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 – 2020,
các đại biểu bày tỏ nhất trí với các nội dung
được nêu lên trong các Dự thảo văn kiện, đồng
thời đóng góp nhiều ý kiến sát thực góp phần làm
cho văn kiện được đầy đủ và phản ánh đúng thực
tế.
Liên quan đến Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, bà Phạm Thị Tỏ, Giám đốc
Công ty TNHH Đông Á, sản xuất, kinh doanh kẹo
dừa mang nhãn hiệu "Bến Tre " kiến nghị: Trong
Chiến lược cần thể hiện rõ hơn chính sách nhà
nước tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ để đủ sức cạnh tranh trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Đại biểu Thượng Huế Thanh, đại
diện cho Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên cho rằng:
Các văn kiện được chuẩn bị chu đáo và nhận được
sự đồng thuận của đa số tín đồ cũng như đông đảo
quần chúng nhân dân. Đại biểu bày tỏ đồng tình
với các nội dung trong Dự thảo, đồng thời đề
cao những dự báo đầy đủ về các khó khăn và thuận
lợi đối với đất nước trong thời kì mới...
Đại biểu Lữ Minh Châu, đại diện
Hội thánh Cao Đài Ban Chính đạo cho rằng: Cải
cách giáo dục không chỉ đơn giản là nhấn mạnh
chống gian lận, mà phải tính đến những giải pháp
hướng tới cải cách chương trình, phương pháp
giảng dạy để xứng tầm với vị thế mới của đất
nước và đòi hỏi mới của thời kỳ hội nhập.
Linh mục Khổng Đức Ý, Phó Chủ
tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo tỉnh đề nghị: Cần
nêu cụ thể các nội dung của “Nền văn hóa đậm đà
bản sắc dân tộc” là gì và kết hợp các nội dung
này với Cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong việc giáo dục,
xây dựng con người Việt Nam mới hiện nay…/.
(Theo TTXVN)
Về đầu trang
Về chủ
đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị
1- Trước hết tôi đề xuất bổ sung
vào chủ đề của Dự thảo Báo cáo Chính trị trình
Ðại hội XI của Ðảng cụm từ "uy tín" sau cụm từ
sức chiến đấu; các phần khác giữ nguyên và sẽ có
toàn văn như sau: "Tiếp tục nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín của Ðảng; phát
huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại".
Ở mục X - Phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Dự thảo Báo cáo Chính trị đề cập:
1. Phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Tôi đề nghị nói rõ hơn khái niệm 'Cán bộ,
công chức thật sự là công bộc của nhân dân' phù
hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
ta hiện nay. Cơ chế chính sách và điều kiện bảo
đảm để cán bộ công chức thực hiện được sứ mạng
cao cả đó.
- Yêu cầu đổi mới công tác tổ
chức và cán bộ theo hướng trọng dụng người hiền
tài (đức, tài) nhất là đội ngũ cán bộ quản lý và
cán bộ đầu đàn khoa học. Thực hiện nghiêm túc
tin dùng, bồi dưỡng và phát huy. Kiên quyết đấu
tranh khắc phục tình trạng suy thoái của một bộ
phận cán bộ.
2- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc. Tôi đề nghị viết lại câu thứ 2 cho
phù hợp với Di chúc của Bác Hồ và như Nghị quyết
Ðại hội X của Ðảng đã đề cập tới.
'Lấy mục tiêu xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,
độc lập dân tộc, dân chủ, dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, văn minh làm điểm tương đồng;
xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần
giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau...
tăng cường đồng thuận xã hội'.
Tôi đề nghị viết bổ sung vào nội
dung phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
một mệnh đề sau đây: 'Ðồng thời, cán bộ Mặt trận
phải ra sức học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ
công tác chuyên môn và đổi mới phương thức hoạt
động để đáp ứng công tác dân vận, mặt trận ngày
càng hiệu quả và thiết thực hơn'.
Nguyễn
Tiến Võ: Ủy viên Ðoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ
Việt Nam.
Về đầu trang
Góp
ý dự thảo các Văn kiện
Góp ý vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH (bổ sung và phát triển năm 2011);
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 –
2020 và Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương khóa X trình Đại hội XI, Phó Chủ tịch
Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng Hoàng Duy
Đỉnh cho rằng đây là công trình lý luận và tổng
kết thực tiễn được đầu tư công phu.
Các báo cáo đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, vào
các vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm.
Đặc biệt, các báo cáo đã nêu rõ những tồn tại,
yếu kém trong Đảng và phân tích được nguyên nhân
của những tồn tại, yếu kém đó. Việc đề xuất mục
tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho nhiệm kỳ tới và
cả giai đoạn tiếp theo đã thể hiện rõ tầm chiến
lược, tính cách mạng và sự đột phá, nhất là
trong lĩnh vực kinh tế và hội nhập quốc tế.
Góp ý về Cương lĩnh xây dựng đất nước, (mục 4-trang 7) nêu:
Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã
hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”. Đây là mục tiêu đã được xác định tại Đại
hội VIII, nhưng trật tự các từ đã được thay đổi.
Thuật ngữ “dân chủ” đã được đặt trên “công bằng”.
Đây là một nhận thức mới phù hợp với nguyện vọng
của nhân dân. Bởi lẽ, có dân chủ mới có công
bằng. Tuy nhiên, theo ông Đỉnh, nếu tư duy theo
logic đó thì nên xếp lại trật tự của cả đoạn văn
diễn đạt đó là:… “dân chủ, công bằng, dân giàu,
nước mạnh, xã hội văn minh”. Phân tích cho sáng
tỏ thì có dân chủ, mới có công bằng; có dân chủ,
công bằng, mới có dân giàu; có dân giàu mới có
sức mạnh và tất cả những điều đó là nền tảng của
một xã hội văn minh.
Về vai trò lãnh đạo của Đảng, dự thảo Cương lĩnh (mục
12-trang 17) nêu: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ
chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ
chức của hệ thống chính trị… Đảng thường xuyên
nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo…”.
Báo cáo Chính trị (mục 5 – trang 11) nói về kiện
toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng
đảng viên: “Kiện toàn tổ chức của hệ thống chính
trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ
sở”. Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố
Hải Phòng đặt câu hỏi: Vậy ở những nơi đông quần
chúng (cụ thể là những doanh nghiệp đông công
nhân lao động), không có đảng viên, không có tổ
chức cơ sở đảng sẽ thế nào?
Theo ông Hoàng Duy Đỉnh, đây là vấn đề đáng quan tâm của Đảng,
là sự băn khoăn của nhiều đảng viên. Thực tế cho
thấy hai vấn đề rất đáng phải xem xét đối với
vai trò lãnh đạo của Đảng trong các cơ sở doanh
nghiệp.
Một là, khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, thực hiện đa
dạng hóa thành phần kinh tế, các doanh nghiệp
nhà nước từng bước chuyển đổi sang cổ phần. Vai
trò điều hành và quyết định sự phát triển của
doanh nghiệp thuộc quyền quyết định của Hội đồng
quản trị. Nếu tỷ lệ cổ phiếu của Nhà nước thấp,
nếu các đảng viên trong cấp ủy không nắm giữ
phần lớn cổ phần, cấp ủy đảng trong doanh nghiệp
chủ yếu lãnh đạo về công tác tư tưởng thì có
hiệu quả không?
Hai là, hiện đang có rất nhiều doanh nghiệp không có đảng
viên, không có tổ chức cơ sở đảng. Vấn đề đặt ra
là Đảng lãnh đạo đội ngũ công nhân lao động,
giai cấp tiên phong của Đảng bằng các nào nếu ở
đó không có đoàn thể chính trị, không có Công
đoàn. Nếu tổ chức Công đoàn không mạnh, không
tuyên truyền, giáo dục thì làm sao tư tưởng của
Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng đến được
với công nhân lao động?.
Trong khi hàng loạt doanh nghiệp vẫn chưa có tổ chức Công
đoàn, dự thảo Báo cáo chính trị (mục 3 – trang
73) chỉ nêu: “ Đổi mới và nâng cao chất lượng
hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân”.
Nói về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc (mục 2
– trang 103): “MTTQ và các đoàn thể nhân dân
tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động,
phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân
dân, thực hiện dân chủ cơ sở, giám sát và phản
biện xã hội; tổ chức các phong trào thi đua yêu
nước…”. Trong khi đó, thực tế, bộ máy tổ chức
công đoàn đang bị thu hẹp và công việc lại phình
ra với rất nhiều nhiệm vụ. Một quận, huyện hay
một ngành có tới vài chục nghìn công nhân viên
chức lao động, hàng trăm công đoàn cơ sở nhưng
chỉ có 3- 4 cán bộ công đoàn chuyên trách, phải
đảm đương một khối lượng công việc đồ sộ. Tại cơ
sở, cả một bộ máy ban chấp hành nhưng hoạt động
kiêm nhiệm và hầu hết là công nhân lao động trực
tiếp, không có thời gian, không được trang bị
phương tiện, hưởng lương sản xuất và chịu sự
điều hành của chủ doanh nghiệp…
Trước thực tế trên, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố
Hải Phòng Hoàng Duy Đỉnh đề nghị: Các văn kiện
phải nêu rõ hơn về giai cấp công nhân và công
đoàn, đặc biệt phải rõ nội dung Đảng lãnh đạo
giai cấp công nhân, đội quân cách mạng của mình
thông qua tổ chức cơ sở đảng và các đoàn thể
nhân dân, mà cụ thể là tổ chức công đoàn. Cần
phải có chiến lược về giai cấp công nhân, trong
đó quan tâm đặc biệt đến giáo dục đạo đức, lý
tưởng, và phát triển đảng viên trong công nhân
lao động./.
Trung Anh (lược
ghi)
Về đầu trang
MTTQ
Thành phố Hà Nội góp ý vào Dự thảo các văn kiện
trình Đại hội XI của Đảng
Ngày 14/10, Ủy ban MTTQ Thành
phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị đóng góp ý kiến
vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Góp ý tại Hội
nghị, các đại biểu đánh giá cao và hoan nghênh
Trung ương chuẩn bị Dự thảo các văn kiện hết sức
nghiêm túc và công phu.
Hầu hết các ý kiến đều thống nhất
những nội dung cơ bản thể hiện trong Dự thảo các
văn kiện. Các đại biểu cũng thẳng thắn nêu ra
những nội dung cần được làm rõ, cần được quan
tâm xem xét một cách thấu đáo và tiếp thu nghiêm
túc để bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện
của Đại hội XI; Nêu lên những bất cập, những bức
xúc đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo.
Những vấn đề được các đại biểu
quan tâm góp ý nhiều là Chiến lược phát triển
kinh tế- xã hội giai đoạn 2011 – 2020, công tác
xây dựng Đảng, vai trò của MTTQ Việt Nam và các
tổ chức thành viên…
Góp ý vào nội dung “Phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc” trong phần Báo cáo chính trị, đại biểu
Phạm Lợi, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương
MTTQ Việt Nam cho rằng: Năm năm qua, hoạt động
của MTTQ, các đoàn thể nhân dân đã có những cố
gắng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân, vận động phong trào nhân dân tham gia xây
dựng Đảng, chính quyền. Tuy nhiên, nhiều nội
dung của công tác Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân mà Đại hội X đề ra thực hiện chưa có hiệu
quả như: Cơ chế giám sát, phản biện xã hội, thực
hiện Luật MTTQ Việt Nam, quy chế dân chủ ở cơ sở.
Vì vậy, trong Dự thảo báo cáo lần này nên phân
tích kỹ nguyên nhân để có hướng đi đúng đắn
trong việc chỉ đạo, thực hiện những nghị quyết
mà Đảng đã đề ra.
Góp ý về công tác xây dựng Đảng,
đại biểu Phạm Lợi cho rằng, nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là chủ đề,
nội dung quan trọng. Dự thảo báo cáo đã đánh giá
những kết quả, hạn chế của công tác xây dựng
Đảng, nhưng chưa đánh giá khái quát yêu cầu nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng
như thế nào. Theo ông Lợi, 5 năm qua, năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng chưa đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ mới.
PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ, Ban Tư vấn
Văn hóa-xã hội Ủy ban MTTQ thành phố Hà Nội
khẳng định: Những hạn chế, khuyết điểm nêu trong
Báo cáo chính trị là đúng mức. Tuy nhiên, trong
việc kiểm điểm cần chỉ rõ những yếu kém được đề
cập ở nhiều đại hội mà vẫn chưa khắc phục được,
trong đó, có những yếu kém, khuyết điểm có chiều
hướng ngày càng gia tăng nghiêm trọng, phức tạp
hơn như: Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy
bằng cấp, huân chương chưa được ngăn chặn đẩy
lùi, thì nay lại phát triển thêm chạy dự án,
chạy chính sách... Có những vấn đề Nghị quyết
Đại hội đã đề ra, tại sao cả nhiệm kỳ chưa thực
hiện được. Ví dụ như: Quy định để thực hiện phản
biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức thành
viên...
Góp ý về Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2010-2020, GT.TS Vũ Hoan, Chủ
tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Hà
Nội cho rằng: Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2010-2020 đã được soạn thảo hoàn chỉnh, sâu
sắc và đầy đủ. Tuy nhiên, nên trình bày cụ thể
hơn mối quan hệ phát triển kinh tế với an ninh
chính trị và quốc phòng, giữa lợi ích trước mắt
và lâu dài, đặc biệt những vùng trọng điểm về an
ninh quốc gia như: Tây Nguyên, biển Đông và các
tỉnh biên giới. Ở bài học thứ hai trang 23, cần
nhấn mạnh: Sử dụng tiết kiệm hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên của đất nước, đảm bảo cho
phát triển trước mắt và lâu dài. Hiện nay, nguồn
tài nguyên ngày càng cạn kiệt, dân số ngày càng
tăng, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức
tạp, do đó, nên bổ sung thêm nội dung: “Đặc biệt
coi trọng chất lượng hiệu quả và tính bền vững
của sự phát triển; Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô,
giải quyết hài hòa giữa tốc độ với chất lượng
tăng trưởng, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất,
nước, đảm bảo cho phát triển trước mắt và lâu
dài”…
Đại biểu Vũ Thành Vĩnh, Chủ tịch
MTTQ quận Hoàn Kiếm đồng tình với tồn tại nêu
tại mục 4 (trang 48) Dự thảo Báo cáo Chính trị:
“Dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
chưa được phát huy đầy đủ”. Ông Vĩnh đề nghị:
Trong báo cáo cần kiểm điểm sâu sắc hơn để thấy
rõ những khó khăn, khuyết điểm và hạn chế đang
tác động bất lợi đến quá trình củng cố và tăng
cường khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là vấn đề
được đảng viên và nhân dân đặc biệt quan tâm và
có nhiều ý kiến.
Hiện đời sống vật chất, tinh thần
của các tầng lớp nhân dân tuy có bước cải thiện
nhưng một bộ phận không nhỏ vẫn còn nhiều khó
khăn, nhất là người có thu nhập thấp, đồng bào
dân tộc, vùng sâu vùng xa. Giá cả các mặt hàng
thiết yếu tăng cao. Sự chệnh lệch giàu nghèo
trong xã hội ngày càng cách biệt. Những vấn đề
về việc làm, thu nhập, quản lý đất đai, điều
kiện học hành… đang là những băn khoăn, lo lắng
của nhiều người dân.
Những khó khăn và tồn tại nêu
trên nếu kéo dài, không những gây cản trở công
cuộc đổi mới, giảm lòng tin của nhân dân đối với
Đảng mà còn để các thế lực thù địch lợi dụng
thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, phá hoại
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ông Vĩnh nhấn
mạnh: Nhân dân mong rằng trong Báo cáo Chính trị
của Đảng và tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI cần kiểm điểm rõ và thể hiện tính chiến đấu
mạnh mẽ hơn… Cần phải khẳng định “Phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý
nghĩa chiến lược, đó vừa là mục tiêu, nhiệm vụ
hàng đầu, vừa là động lực to lớn quyết định
thành công của cách mạng nước ta”./.
Thu Hà
Về đầu trang
Góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện Đại hội XI
của Đảng: Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc
“Dự thảo các văn kiện được chuẩn bị nghiêm túc,
công phu, thể hiện tính chiến đấu, sự quyết tâm
cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” là
nhận xét của Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh
Thừa Thiên Huế Trần Phùng về Dự thảo các văn
kiện Đại hội XI của Đảng. Sau đây là một số ý
kiến của ông.
Nội dung các dự thảo báo cáo cơ bản đầy đủ, toàn diện, có
nhiều quan điểm mới, thể hiện tinh thần đổi mới
và tính khoa học của Trung ương Đảng; bố cục các
dự thảo khá chặt chẽ, hành văn gọn gàng, súc
tích; việc lấy ý kiến tham gia dự thảo các văn
kiện đã tạo nên đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng
trong toàn Đảng, toàn dân.
Cương lĩnh đã nêu bật được những thắng lợi vĩ đại của Đảng ta,
nhân dân ta trong 80 năm qua. Những thắng lợi vĩ
đại đó đã chứng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong tiến trình cách mạng đi lên chủ
nghĩa xã hội là sáng suốt, đúng đắn, phù hợp với
thực tiễn đang đặt ra; là động lực to lớn động
viên đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp
nhân dân hăng say góp sức vào công cuộc xây dựng
quê hương, đất nước.
Đề nghị Trung ương đánh giá thêm về “4 nguy cơ” mà Đảng ta đã
xác định trước đây. Hiện nay, 4 nguy cơ đó có
còn hay không và ở mức độ nào, trên cơ sở đó có
những chủ trương, những định hướng lãnh đạo, chỉ
đạo trong giai đoạn mới. Đề nghị chỉnh sửa, bổ
sung cụm từ “và giương cao” vào bài học thứ nhất
để hoàn chỉnh lại là: “Nắm vững và giương cao
ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...”;
bổ sung cụm từ “dân tộc” vào bài học thứ năm để
thành câu: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là
nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác
ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và
dân tộc…” nhằm nhấn mạnh thêm mức độ đánh giá và
phù hợp với dự thảo sửa đổi.
Bày tỏ nhất trí cao với quan điểm của Đảng: “Xã hội chủ nghĩa
mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,…” việc
đưa cụm từ “dân chủ” lên trước “công bằng” không
đơn thuần là thay đổi vị trí các cụm từ mà đó là
sự đổi mới nhận thức của Đảng ta qua thực tiễn
20 năm thực hiện Chiến lược. Điều đó luôn khẳng
định: dân chủ là nền tảng của xã hội. Chính xã
hội thật sự có dân chủ, khi đó mới có công bằng,
mới phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
để xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp. Như vậy
mới phù hợp với định hướng xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đề nghị Trung ương quan tâm hơn nữa chính sách phát triển cơ
sở hạ tầng và kinh tế - xã hội ở các vùng tái
định cư, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn và
đồng bào dân tộc thiểu số. Đảng cần có những chủ
trương, giải pháp linh động để đảm bảo an ninh
trên biển, trong đó kết hợp đầu tư phương tiện,
khí tài hiện đại, xây dựng lực lượng hải quân
vững mạnh gắn với công tác tuyên truyền và triển
khai chiến lược ngoại giao đúng đắn, nhằm bảo vệ
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.Đối
với công tác xây dựng Đảng, các quan điểm được
đề cập trong Cương lĩnh đã thể hiện rõ bản chất
và tính ưu việt của Đảng ta và Nhà nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, đó là chế độ mà dân chủ vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất
nước, là Nhà nước của nhân dân, vì nhân dân, thể
hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân,
trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam là đội quân tiên
phong của giai cấp công nhân; đồng thời là đội
tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc
Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Bố cục Chiến lược cần chia thành 2 thời kỳ cụ thể để phấn đấu
trong tổ chức thực hiện và đánh giá, rút kinh
nghiệm. Thời kỳ đầu trong khoản 2011 – 2015, để
khắc phục xong điểm nghẽn về thể chế kinh tế thị
trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ
tầng; thời kỳ sau là thời kỳ phát triển năng
động mới của giai đoạn phát triển mới, hoàn
thành mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020, nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận,
dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được
giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc
tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc
để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.
Mục tiêu tổng quát ngắn gọn, súc tích, thể hiện tầm nhìn
chiến lược của Đảng trong Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội đến năm 2020. Hiện nay, ngoài
xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng ở các vùng đô
thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đảng
và Nhà nước cần quan tâm hơn đến đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng ở khu vực miền Trung – Tây
Nguyên, Tây Bắc để tạo sự phát triển hài hòa,
giao thương giữa các vùng, miền, bảo đảm an sinh
xã hội.
Nhất trí với đánh giá của Báo cáo chính trị về thành tựu cũng
như yếu kém, khuyết điểm của nhiệm kỳ qua và cho
rằng, Cuộc vận động “Học tập và làn theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một đợt sinh hoạt
chính trị có ý nghĩa sâu sắc và rộng lớn, tạo
những chuyển biến rõ nét về nhận thức và hành
động trong cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân
dân,. Tuy nhiên, có lúc, có nơi, việc triển khai
và tổ chức thực hiện Cuộc vận động chưa đều,
chưa tạo ra phong trào rộng lớn; ông đề nghị
Trung ương nghiên cứu xây dựng những giải pháp
thiết thực để tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn
nữa Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” trong thời gian tới.
Về tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con
đường xã hội chủ nghĩa; phương hướng, nhiệm vụ
phát triển đất nước 5 năm (2011 – 2015), đề nghị
đưa nhiệm vụ thứ tư về “tiếp tục phát huy dân
chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc…” lên
hàng đầu,. Vì thực tế đã chứng minh rằng trong
suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có
nhiều lúc đất nước gặp khó khăn, nguy nan nhưng
với việc phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc mà chúng ta đã vượt qua khó
khăn, thách thức, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của
Tổ quốc, dân tộc giao phó. Phát huy dân chủ và
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ góp phần
giữ vững sự ổn định chính trị, tạo điều kiện để
thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã
hội.
Về thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo
an sinh xã hội trong từng bước và từng chính
sách phát triển, ông Phùng nhất trí với dự thảo
Báo cáo và cho rằng, trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng
kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội luôn là
tiền đề và tạo điều kiện cho nhau. Tăng trưởng
kinh tế tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện
công bằng xã hội và ngược lại, thực hiện tốt
công bằng xã hội sẽ là động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Theo ông, trong những năm qua,
Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính
sách tạo điều kiện phát triển về mọi mặt giữa
các vùng, miền, nhất là đối với các vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số, do đó
trong những năm tới cần tiếp tục đẩy mạnh hơn
nữa công tác này…/.
Theo TTXVN
Về đầu trang
Nhiều
đảng viên thuộc Đảng bộ tỉnh Phú Yên đóng góp ý
kiến vào Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đóng góp vào Dự thảo Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), hầu
hết ý kiến của đảng viên Đảng bộ tỉnh Phú Yên
đều nhất trí với nội dung, nhất là những phương
hướng cơ bản để tạo tiền đề vững chắc, thực hiện
thành công các mục tiêu Cương lĩnh đề ra.
Nhiều ý kiến đề nghị cần bổ sung
thêm những ý để nêu bật tính ưu việt của chế độ
xã hội chủ nghĩa so với chế độ xã hội khác. Qua
đó tạo niềm tin trong toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân trong tổ chức thực hiện các chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội.
Một số ý kiến đề nghị đưa bài học
thứ 5 “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố
hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt
Nam” lên vị trí thứ nhất. Đồng thời trong nội
dung phần “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội
trong bối cảnh quốc tế có những có những biến
đổi to lớn và sâu sắc” cần phải bổ sung các cụm
từ “cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế” và
“biển đảo” nhằm khẳng định chủ quyền vùng biển
của nước ta. Do đó, nội dung câu được sửa lại là
”… tranh chấp lãnh thổ, biển đảo và tài nguyên
tiếp tục diễn ra phức tạp, cạnh tranh quyết liệt
về lợi ích kinh tế”.
Trong phần những định hướng lớn
về phát triển kinh tế, nhiều ý kiến đảng viên
kiến nghị nội dung cần chú trọng vào hai vấn đề
lớn. Một là cần đánh giá công tác quy hoạch, cơ
cấu các vùng kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm
ở các địa phương chưa phù hợp. Một trong những
nguyên nhân là thiếu sự tham gia đồng bộ của các
cơ quan, ban ngành Trung ương có liên quan, làm
thiếu sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, dẫn đến
hiệu quả thấp. Do vậy, cần coi trọng việc nghiên
cứu quy hoạch các vùng miền kinh tế, khu công
nghiệp nhằm đảm bảo tính thống nhất theo yêu cầu
phát triển kinh tế của đất nước, gắn với bảo vệ
môi trường và đem lại hiệu quả cao nhất.
Hai là về tiếp tục phát triển
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, định hướng này rất đúng đắn. Tuy
nhiên, Cương lĩnh cần thể hiện rõ hơn về vướng
mắc trong thực tế, đó là trong công tác quản lý
Nhà nước phải sớm xây dựng hệ thống phát luật để
đảm bảo giải quyết tốt các vấn đề tranh chấp
giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt về kinh tế
hỗn hợp có thành phần nước ngoài tham gia, phải
phù hợp với thông lệ, luật pháp quốc tế nhằm bảo
đảm quyền và lợi ích của các thành phần tham gia.
Trong điểm 5 về phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều
ý kiến cần đánh giá kỹ hơn về thành phần kinh tế
tập thể. Trên thực tế những năm qua, Đảng và
Chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, nhiều chính
sách để thúc đẩy sự phát triển đối với thành
phần này nhưng chưa thực hiện được nhiều. Do đó,
cần thiết phải bổ sung câu: Nhà nước có chính
sách hỗ trợ thành phần kinh tế tập thể phát
triển, nhất là vùng sâu, vùng xa.
Tiếp sau cụm từ “Phát triển kinh
tế là nhiệm vụ trung tâm”, cần bổ sung thêm cụm
từ “Phát triển kinh tế gắn chặt với sử dụng tài
nguyên và bảo vệ môi trường bền vững”.
Trong phần IV về nội dung Hệ
thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng,
một số ý kiến kiến nghị bổ sung nội dung “ Xây
dựng nhà nước phải gọn nhẹ về đầu mối, tránh
chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, gây lãng phí,
hạn chế thay đổi tổ chức. Thời gian qua việc
tách nhập, thành lập mới….diễn ra nhiều, gây xáo
trộn, tốn kém, hiệu quả không cao. Bảo đảm chế
độ tiền lương và các chính sách khác cho cán bộ,
công chức; đặc biệt là cấp cơ sở, mặt khác thu
hút người tài,người có học vị cao vào làm việc
trong các cơ quan Nhà nước” ./.
(Theo TTXVN)
Về đầu trang
Để
thực sự dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Góp ý vào các Dự thảo văn kiện
trình Đại hội XI, ông Phạm Lợi, nguyên Chủ tịch
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Thành phố Hà Nội
cho rằng, các Dự thảo văn kiện trình Đại hội đã
được chuẩn bị kỹ, nêu nhiều nội dung quan trọng.
Ông cũng thẳng thắn góp ý vấn đề phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, chức năng giám sát và phản biện xã hội
của MTTQ.
Về
phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân, ông Lợi cho rằng, trong mục
4, trang 57 có nêu: Dân chủ XHCN có tiến bộ, sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng cao.
Tuy nhiên nội dung cụ thể phần này chưa bao hàm
được nhận định nói trên, chưa bám sát Nghị quyết
Đại hội X.
Ông Lợi nhấn mạnh: Trong 5 năm
qua kể từ khi Đại hội X diễn ra, Đảng, Nhà nước
đưa ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhưng chỉ đạo
thực hiện còn nhiều hạn chế nên nhiều nội dung
mà Đại hội X đề ra hoạt động ít hiệu quả, nhiều
cán bộ đảng viên chưa thật sự là công bộc của
dân, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức,
đảng viên thoái hóa, biến chất làm ảnh hưởng xấu
đến hình tượng đội ngũ của Đảng.
Việc xác định các hình thức tổ
chức, cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ
còn chậm được đổi mới, phương châm dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra chưa thực sự đạt hiệu
quả. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn
mờ nhạt, những hiện tượng thiếu tôn trọng dân,
sách nhiễu dân còn xuất hiện ở nhiều nơi. Riêng
đối với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện còn
tiềm ẩn những yếu tố thiếu vững chắc, người dân
còn nhiều băn khoăn lo lắng về: việc làm, học
hành, chữa bệnh...; khoảng cách giàu nghèo, nạn
tham nhũng, tiêu cực, "nói" không đi đôi với "làm"
trong hàng ngũ của Đảng vẫn còn diễn ra...
Góp ý về công tác MTTQ và các
đoàn thể nhân dân, ông Lợi khẳng định: Đại hội X
đề ra vai trò quan trọng của MTTQ và các đoàn
thể. Nhà nước ban hành cơ chế để MTTQ và các
đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát,
phản biện xã hội. Cấp ủy, chính quyền đối thoại,
lắng nghe ý kiến mặt trận, đoàn thể, nhân dân…
Hoạt động MTTQ, các đoàn thể có cố gắng trong
việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vận
động phong trào trong nhân dân, tham gia xây
dựng Đảng, Chính quyền… Nhưng nhiều nội dung của
công tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân mà
Đại hội X đề ra chưa thực hiện có hiệu quả…
Ông Lợi đề nghị báo cáo trình Đại
hội XI cần làm rõ vấn đề nâng cao nhận thức của
cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát huy dân
chủ XHCN, về tăng cường sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc; xây dựng, hoàn thiện cơ chế để
nhân dân thực sự phát huy quyền làm chủ, thực sự
thực hiện "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra"; quy định chế độ đối thoại với nhân dân của
cán bộ lãnh đạo. Ngoài ra phải khẳng định việc
phát huy dân chủ, tăng cường giám sát, phản biện
xã hội là chức năng, nhiệm vụ quan trọng của
MTTQ trong tình hình mới, là hướng đổi mới công
tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân…
Góp ý về công tác xây dựng Đảng,
ông Phạm Lợi cho rằng, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng là chủ đề, nội
dung quan trọng. Dự thảo báo cáo đã đánh giá
những kết quả, hạn chế của công tác xây dựng
Đảng, nhưng chưa đánh giá khái quát yêu cầu nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng
như thế nào. Theo ông Lợi, 5 năm qua, công tác
xây dựng Đảng được quan tâm chỉ đạo, làm nhiều
việc, có hiệu quả nhất định nhưng năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của Đảng chưa đáp ứng được
yêu cầu, nhiệm vụ mới. Vai trò tiên phong, gương
mẫu của một số cán bộ, đảng viên còn hạn chế.
Những biểu hiện cơ hội, cá nhân chủ nghĩa còn
nhiều. Đại hội X nói nhiều đến việc chúng ta
phải đấu tranh để chống lại 4 cái chạy: chạy
chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp nhưng
trải qua 5 năm, những hoạt động này không giảm,
tình trạng “tiến sỹ giấy” còn diễn ra khá phổ
biến.
Ông Phạm Lợi đề nghị, trước khi
đi vào 8 nhiệm vụ, giải pháp nên xác định lại
yêu cầu, mục tiêu của công tác xây dựng Đảng
trong 5 năm tới đến đâu để làm căn cứ phấn đấu
thực hiện và đánh giá kiểm điểm. Cần xác định
nội dung “xây”, “chống” trong công tác chính trị,
tư tưởng. Trong khi nhấn mạnh củng cố tổ chức cơ
sở đảng cần coi trọng việc nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp trên cơ sở. Bên
cạnh đó cần nghiên cứu, chỉ đạo 3 vấn đề bức xúc
trong công tác tư tưởng: cải tiến, nâng cao chất
lượng sinh hoạt chi bộ, thể hiện tính lãnh đạo,
chiến đấu của Đảng; đánh giá thực chất chất
lượng đảng viên, chất lượng tổ chức cơ sở đảng
và đảng viên sinh hoạt hai chiều ở địa phương.
Theo Thu Hà -
ĐCSVN
Về đầu trang
Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam góp ý các Dự thảo Văn kiện trình
Ðại hội XI của Ðảng
Ngày 23-10, tại Hà Nội, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN)
Việt Nam tổ chức Hội nghị góp ý kiến vào các
Dự thảo Văn kiện Ðại hội Ðảng toàn quốc lần
thứ XI của Ðảng. Ðồng chí Nguyễn Thị Thanh Hòa,
Ủy viên T.Ư Ðảng, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam chủ
trì hội nghị.
Theo đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hòa, đây là đợt sinh hoạt
chính trị có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần
hiến kế xây dựng Ðảng, xây dựng đất nước, tăng
cường sự đoàn kết nhất trí trong Ðảng, sự đồng
thuận trong xã hội, quyết tâm thực hiện mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn tới. Ðồng thời, giúp Hội xác
định tư tưởng, nguyện vọng, ý kiến của cán bộ,
đảng viên, hội viên phụ nữ; từ đó tham mưu bổ
sung, phát triển đường lối, chủ trương của Ðảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước; phát huy vai
trò của cán bộ, đảng viên, hội viên phụ nữ trong
tham gia xây dựng Ðảng, xây dựng đất nước.
Hội nghị đã nghe PGS, TS Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội
đồng Lý luận T.Ư báo cáo về quá trình chuẩn bị
và những vấn đề trọng tâm trong các dự thảo văn
kiện BCH Trung ương (Khóa X) trình Ðại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng.
Với tinh thần trách nhiệm, công khai, dân chủ, hội nghị tập
trung thảo luận các nội dung trọng tâm được
hướng dẫn, gồm: Chủ đề Ðại hội, dự thảo Cương
lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011); Dự thảo Báo
cáo chính trị; Dự thảo Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội (2011-2020). Ðặc biệt là những
nội dung liên quan tới hoạt động của Hội LHPN;
các nội dung liên quan tới phụ nữ, gia đình và
các vấn đề văn hóa, xã hội. Cụ thể là vấn đề
thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ, xóa đói,
giảm nghèo, định hướng phát triển cán bộ nữ, bảo
vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em, giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc...
Các đại biểu đã đánh giá cao việc chuẩn bị các Dự thảo Văn
kiện công phu, chu đáo, nghiêm túc, thể hiện sâu
sắc lý luận, thực tiễn và được công bố để lấy ý
kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Phần
lớn các ý kiến đều nhất trí những nội dung cơ
bản thể hiện trong các Dự thảo Văn kiện. Các đại
biểu cũng thẳng thắn nêu ra những nội dung cần
làm rõ, cần được quan tâm xem xét và tiếp thu
nghiêm túc về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã
hội để bổ sung hoàn thiện các Dự thảo Văn kiện
của Ðại hội XI; đồng thời nêu lên những bất cập,
những bức xúc đòi hỏi Ðảng và Nhà nước phải quan
tâm lãnh đạo, chỉ đạo quản lý. Các đại biểu đánh
giá cao và nhất trí với đánh giá những thắng
lợi của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng
Cộng sản Việt Nam, đồng thời cho rằng, mục tiêu
và định hướng cơ bản của quá trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là hướng đi lên
vững chắc; đề nghị cần cụ thể hơn nữa trong các
mục tiêu cần hướng tới.
Góp ý kiến vào các vấn đề cụ thể, các đại biểu cho rằng,
trong Cương lĩnh, mục 'Hệ thống chính trị và vai
trò lãnh đạo của Ðảng' phần 'MTTQ Việt Nam, các
đoàn thể nhân dân' sau cụm từ 'thắt chặt mối
liên hệ giữa Ðảng, Nhà nước với nhân dân', nên
thêm cụm từ 'góp phần tạo ra sự đồng thuận xã
hội và sự đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của
Ðảng'. Có vậy mới thể hiện đầy đủ ý nghĩa của
việc thực hiện chức năng đại diện của MTTQ và
các đoàn thể nhân dân thông qua hoạt động giám
sát, phản biện. Làm tốt vai trò giám sát, phản
biện không chỉ góp phần bổ sung, hoàn thiện các
chủ trương, chính sách, mà quan trọng hơn là
giúp cho nhân dân hiểu rõ, từ đó có sự đồng
thuận, đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của
Ðảng. Tiếp đó, ở phần 'Các đoàn thể nhân dân' có
đoạn: 'Ðảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi
hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân
thành lắng nghe ý kiến đóng góp của mặt trận và
các đoàn thể...' các đại biểu đề nghị nên thay
cụm từ 'chân thành' bằng 'nghiêm túc' lắng nghe
ý kiến của MTTQ, các đoàn thể nhân dân.
Liên quan tới phụ nữ và bình đẳng giới, các đại biểu cho rằng,
với cách thể hiện như hiện nay, vai trò của phụ
nữ còn bị động và thụ động. Ðặt ra vấn đề 'nâng
cao vai trò của phụ nữ trong xây dựng gia đình
và nuôi dạy con' có thể làm tăng thêm gánh nặng
và sự bất bình đẳng giới, mất đi cơ hội phấn đấu
đối với người phụ nữ, bởi đây là trách nhiệm
không chỉ của phụ nữ mà của cả nam giới và sự
chia sẻ của cả cộng đồng (thí dụ chính sách, hệ
thống phúc lợi xã hội...) để giúp phụ nữ thực
hiện thiên chức của mình. Các đại biểu đề xuất,
nên đặt ra yêu cầu 'bảo đảm bình đẳng giới'
trong mọi lĩnh vực, bình đẳng không chỉ là tạo
điều kiện mà còn phải tạo ra cơ hội cho phụ nữ,
chỉ rõ những điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển
của phụ nữ. Cần nâng cao nhận thức về giới và ý
thức trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới; xây
dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật
pháp, chính sách về bình đẳng giới, nhất là ban
hành các chính sách đặc thù bảo đảm cho sự phát
triển của phụ nữ, bảo đảm các điều kiện để phụ
nữ tham gia quản lý xã hội. Nhiều ý kiến đồng
tình, chỉ xác định 'thực hiện bình đẳng giới và
hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ' là chưa đầy
đủ, thiếu quyết liệt, mạnh mẽ, cần nêu rõ việc 'bảo
đảm' hoặc 'thực hiện tốt bình đẳng giới', tạo
điều kiện để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng
nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu công việc,
nhiệm vụ. Có ý kiến đề nghị đưa chỉ số khoảng
cách giới vào Chiến lược phát triển kinh tế, xã
hội. Vấn đề quy hoạch và tạo nguồn cán bộ cũng
cần nêu được một nội dung quan trọng là việc bố
trí vị trí thích hợp phù hợp với khả năng của
phụ nữ. Bên cạnh đó, quy hoạch cần đi cùng với
việc sửa đổi chính sách, pháp luật liên quan.
Trong đó, chú trọng nâng cao trình độ mọi mặt
cho phụ nữ, đời sống vật chất, tinh thần, sức
khỏe, vai trò địa vị của phụ nữ trong việc xây
dựng gia đình và nuôi dạy con; hoàn thiện và tổ
chức thực hiện tốt các chính sách luật pháp đối
với phụ nữ. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia xây
dựng gia đình theo bốn tiêu chí: 'No ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc'. Kiên quyết đấu tranh
chống tư tưởng và hành vi phân biệt đối xử, xúc
phạm thân thể và nhân phẩm của phụ nữ, bảo đảm
các điều kiện để phụ nữ tham gia nhiều hơn trong
quản lý, lãnh đạo, phù hợp với mục tiêu bình
đẳng giới. Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện các
chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội,
thai sản và các chế độ, chính sách khác đối với
lao động nữ. Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe
sinh sản, sức khỏe bà mẹ trẻ em... Xây dựng và
triển khai chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
và tiến bộ của phụ nữ, tập trung ở những vùng và
khu vực có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình
đẳng cao; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn bán
phụ nữ và bạo lực trong gia đình; tạo điều kiện
để phụ nữ tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao
trình độ đáp ứng yêu cầu công việc và làm tốt
công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, chú ý cán
bộ trẻ, cán bộ nữ, dân tộc thiểu số.
Cũng trong phần 'Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc'
đoạn nói về phụ nữ: 'Nâng cao trình độ mọi mặt
và đời sống vật chất tinh thần của phụ nữ và vai
trò của phụ nữ...' các đại biểu đề nghị nên diễn
đạt như sau: 'Phát huy vai trò, tiềm năng, sức
sáng tạo của phụ nữ trong việc đóng góp vào sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống vật chất
tinh thần, sức khỏe và địa vị của phụ nữ. Nghiên
cứu bổ sung, thực hiện tốt luật pháp, chính sách
đối với phụ nữ. Kiên quyết đấu tranh chống tư
tưởng, hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ,
ngăn chặn các hành vi bạo lực buôn bán, xâm hại
và xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ. Bảo đảm các
điều kiện để phụ nữ tham gia trong quản lý lãnh
đạo phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới'.
Ðối với vấn đề gia đình, các đại biểu nêu ý kiến cần làm rõ
tiêu chí gia đình Việt
Nam. Nhiều ý kiến cho rằng, vấn đề gia đình cần
được thể hiện độc lập, rõ ràng hơn trong dự thảo,
không nên gắn chung vào với các vấn đề khác để
nhìn nhận rõ hơn vai trò, vị trí, tạo điều kiện
để mỗi gia đình Việt Nam đóng góp vào việc phát
triển nguồn nhân lực, xây dựng đất nước. Gia
đình cần được kết cấu thành một chủ đề riêng với
bốn mối liên quan về kinh tế, xã hội, văn hóa,
con người. Một trong những vấn đề nhức nhối mà
chúng ta đang phải đối mặt là giữ gìn sự bền
vững và hạnh phúc của mỗi gia đình. Nếu không
giữ được sự phát triển đúng hướng, bền vững của
gia đình, sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
của đất nước cũng bị ảnh hưởng. Do đó, cần quan
tâm xây dựng nếp sống văn hóa và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của gia đình; thực hiện
bình đẳng giới; phòng, chống bạo lực và ngăn
chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia
đình. Như vậy, nên xây dựng gia đình với cả bốn
tiêu chí: 'No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc'
để gia đình thật sự là một tế bào lành mạnh của
xã hội. Tại mục 6: Xây dựng nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc, các đại biểu đề
nghị viết thêm một đoạn về gia đình: '...nâng
cao nhận thức về vai trò, vị trí của gia đình.
Tăng cường quản lý nhà nước về gia đình, quan
tâm xây dựng nếp sống văn hóa và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của gia đình, thực hiện
bình đẳng giới; phòng, chống bạo lực và ngăn
chặn sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia
đình, xây dựng gia đình Việt Nam 'No ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc', để gia đình thật sự
là một tế bào lành mạnh của xã hội.
PV
Về đầu trang
Chủ nghĩa xã
hội mục tiêu thiêng liêng của cả dân tộc
1. Chủ nghĩa xã hội - ước mơ của nhân loại
Nguyện vọng được sống trong một xã hội công bằng,
bác ái, đầy đủ về vật chất, văn minh về tinh
thần, con người được phát triển tự do và toàn
diện, được sống thuận hòa trong một cộng đồng
tương thân tương ái… là nguyện vọng tự nhiên,
chính đáng của loài người, đã thể hiện từ rất
lâu dưới nhiều hình thức tư tưởng phong phú. Từ
công xã nguyên thủy với trình độ rất thấp, trải
qua quá trình phát triển của lịch sử, cùng với
những thành tựu trong chinh phục tự nhiên, năng
suất lao động tăng lên, của cải thặng dư dồi dào,
chế độ tư hữu, phân hóa giai cấp, áp bức bóc lột
xuất hiện. Cũng từ đó những tư tưởng xã hội chủ
nghĩa phát sinh và phát triển với nhiều khái
niệm, lúc đầu còn mơ hồ, thể hiện ước vọng, cầu
mong. Song dù ở dạng nào thì những tư tưởng đó
đều thể hiện sự phản kháng đối với chế độ bất
công đương thời, hướng tới một xã hội tốt đẹp
hơn.
Do điều kiện khác nhau mà chế độ tư hữu có sự
phát triển khác nhau trong mỗi nước, nên sự phản
ánh tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở từng dân tộc có
bản sắc riêng, cho dù có những ước mơ chung. Nếu
ở phương Đông con người ước mơ và ca ngợi Nghiêu
Thuấn, thì ở phương Tây người ta lại ước mơ về
Pax Domara.
Trong giáo lý của các tôn giáo, các trường phái
giáo lý trên thế giới, người ta cũng tìm thấy tư
tưởng xã hội chủ nghĩa dạng giản đơn. Trong đó
có Thiên đàng, “giang sơn ngàn năm của Chúa”
trong thánh kinh của đạo Cơ đốc, có cõi cực lạc
trong đạo Phật, và những ước mơ tương tự trong
đạo Hồi, trong Nho giáo.
Ngay từ giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, đầu
thế kỷ 17, ở một số nước châu Âu đã xuất hiện
chủ nghĩa xã hội không tưởng, càng thể hiện ước
muốn về một trật tự xã hội mới - một xã hội xã
hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn xã hội đương thời. Mác
và Ănghen đã ca ngợi những tư tưởng tiến bộ đó
và đã kế thừa một cách trân trọng để nghiên cứu
học thuyết của các ông sau này.
Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời ở châu Âu, nơi
chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh nhất, và chủ
nghĩa xã hội hiện thực cũng xuất hiện ở đây sau
Cách mạng Tháng Mười Nga (1917). Sự tồn tại của
chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thế giới đầy
biến động hơn ¾ thế kỷ cùng với thành quả giải
phóng dân tộc trên thế giới chứng tỏ sức sống
của lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Sự sụp đổ của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
được coi là thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện
thực và có nguyên nhân cụ thể, trực tiếp của nó.
Nhân dân những nước này không vì thế mà từ bỏ lý
tưởng xã hội chủ nghĩa tốt đẹp của mình, mặc dù
họ không chấp nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực đã
từng tồn tại với nhiều khuyết tật.
2. Chủ nghĩa xã hội - một tất yếu lịch sử của
Việt Nam
Ước mơ lâu đời của dân tộc ta là được sống trong
một đất nước thanh bình, hạnh phúc, trong độc
lập, tự do. Hình thành từ rất sớm, quốc gia và
dân tộc Việt Nam gồm nhiều tộc người, gắn bó với
nhau, chung một số phận trong chinh phục thiên
nhiên, xây dựng non sông, giữ yên bờ cõi. Cuộc
đấu tranh chống thiên tai, địch họa để sinh tồn
đã hun đúc nên tinh thần bất khuất, giành độc
lập tự chủ, tình nghĩa đồng bào sâu sắc, lòng
bao dung nhân ái.
Quá trình phát triển lịch sử ở nước ta tất nhiên
dẫn đến phân hóa giai cấp và áp bức bóc lột.
Nhưng cuộc di dân khai khẩn đất đai và đấu tranh
chống ngoại xâm là hai yếu tố lịch sử rất quan
trọng tác động làm giảm mức độ gay gắt và tàn
bạo của sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai
cấp ở Việt Nam. Quá trình di dân khai khẩn đất
đai từ Bắc vào Nam
là quá trình thể hiện ý thức cộng đồng, tình
làng nghĩa xóm, thâu thái và quy tụ những nhóm
dân cư cũ và mới. Do đó đã nêu cao tính đấu
tranh chống bất công, giành tự do, hạn chế sự
phân hóa giai cấp và mức độ khắc nghiệt của
chính sách cường quyền của những thế lực cai trị.
Đại đoàn kết dân tộc đã tạo nên sức mạnh vô địch,
trở thành truyền thống chống sự xâm lược và ách
thống trị của ngoại bang, là quy luật tồn tại
của dân tộc Việt Nam. Do đặc điểm lịch sử, ở
nước ta không xuất hiện những bạo chúa kiểu Tần
Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên… tuy vẫn có những vua
quan tham nhũng, trụy lạc. Khát vọng được sống
trong thanh bình, độc lập, tự do, hạnh phúc luôn
luôn là khát vọng của cả dân tộc, từ người dân
bình thường cho đến các tầng lớp trên, và luôn
luôn là chủ đề tập hợp lực lượng của toàn dân
tộc, lúc yên hàn cũng như khi binh đao khói lửa
trong suốt mấy ngàn năm.
Lý tưởng xã hội chủ nghĩa dễ dàng được người dân
Việt Nam tiếp nhận vì nó phù hợp với khát vọng
lâu đời về giải phóng dân tộc và cuộc sống tự
do, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc. Đảng Cộng sản
Việt Nam đã kế thừa được truyền thống yêu nước,
đại diện cho nguyện vọng xây dựng một đất nước
giàu mạnh, nhân dân được hạnh phúc theo một
đường lối đúng đắn, nên đã được nhân dân chấp
nhận là chính đảng lãnh đạo của mình, đoàn kết
được toàn dân tộc.
Đi từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc tìm
được con đường giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa
Mác - Lênin. Ở Việt Nam, lý tưởng xã hội chủ
nghĩa sẽ không thể nào được thực hiện nếu không
trước tiên thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc
để đất nước được độc lập, nhân dân được tự do.
Đó là tiền đề để thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ở
nước ta mục tiêu giải phóng dân tộc gắn liền với
giải phóng giai cấp, lãnh tụ của phong trào giải
phóng dân tộc trở thành lãnh tụ của Đảng Cộng
sản. Nếu biệt lập dân tộc và giai cấp sẽ dẫn đến
thất bại.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc,
nhân dân Việt Nam tất yếu chọn con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội tốt đẹp theo nguyện vọng
của nhân dân mình, phù hợp với giá trị truyền
thống của dân tộc mình, điều kiện lịch sử đất
nước mình, đồng thời cũng tiếp thu tốt nhất
những kinh nghiệm, những thành tựu của loài
người tiến bộ. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt
Nam. Người Trung Quốc đề ra mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã
hội đặc sắc Trung Quốc, người Việt
Nam cũng sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt
Nam.
Không có mô hình chủ nghĩa xã hội nào áp dụng
chung cho mọi quốc gia dân tộc. Cái chung cho
mọi quốc gia, dân tộc là lý tưởng xã hội chủ
nghĩa, nhưng khi xây dựng chủ nghĩa xã hội là
một thực thể xã hội, thì nó phải mang tên của
mỗi nước riêng. Đó là chủ nghĩa xã hội của dân
tộc Việt Nam.
Không nên nói rằng: chúng ta xây dựng chủ nghĩa
xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam, nói như
vậy tuy không có gì sai, song không phân biệt
được đâu là lý tưởng, đâu là xây dựng một thực
thể xã hội xã hội chủ nghĩa. Hơn nữa, cách nói
đó có thể dẫn đến ngộ nhận rằng: có một mô hình
chủ nghĩa xã hội chung nào đó, việc đưa mô hình
ấy vào nước ta chỉ còn là sự vận dụng sao cho
phù hợp, lâu nay, chúng ta có thiếu sót gì trong
xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là vì việc vận
dụng chưa tốt hoặc còn giáo điều, máy móc. Điều
đó là có thật trong thực tế, song trong nghiên
cứu bổ sung Cương lĩnh, có lẽ phải đặt vấn đề
tìm một logích tiếp cận với mục tiêu chủ nghĩa
xã hội từ quy luật vận động nội tại của Việt Nam
để tìm ra một chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo
quy luật chung. Điều đó khác với cách tiếp
cận truyền thống với chủ nghĩa xã hội vẫn thường
dùng.
3. Mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI
Cách tiếp cận với chủ nghĩa xã hội từ quy luật
vận động nội tại của Việt Nam đòi hỏi phải xuất
phát từ lợi ích dân tộc, đặc điểm dân tộc, điều
kiện lịch sử cụ thể về tự nhiên, xã hội, con
người Việt Nam để đề ra một định hướng phát
triển theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Đi từ
dân tộc để rồi mưu cầu hạnh phúc trở về cho dân
tộc dựa trên dòng chảy phát triển của thời đại
sẽ là logích tư duy của chúng ta khi suy nghĩ về
định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Một sai lầm khá nghiêm trọng trong quá khứ - nhất là
thời kỳ bắt đầu truyền bá chủ nghĩa Mác và vận
động cách mạng - là đã coi nhẹ hoặc phủ định yếu
tố dân tộc ở lúc này lúc khác, ở chỗ này chỗ
khác. Đấu tranh giai cấp bị cường điệu trong
điều kiện xã hội mà mâu thuẫn dân tộc là mâu
thuẫn chủ yếu.
Sau gần 2 thập kỷ thực hiện Cương lĩnh 1991,
nhân dân ta ngày càng thấm thía ý nghĩa thiết
thực của việc xây dựng một xã hội “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Với mong muốn đó là nội dung cơ bản trong định
hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện mục tiêu lý
tưởng xã hội chủ nghĩa của người Việt Nam, khẩu
hiệu đó thực tế đi vào cuộc sống, đã có tác dụng
góp phần ổn định lòng dân, động viên mọi người
hăng hái tham gia công cuộc đổi mới, ra sức làm
việc cho bản thân, gia đình, xã hội ngày một
phát triển, tạo nên vị thế mới của đất nước ta.
Ngày nay, đất nước đòi hỏi phải phát triển mạnh
và nhanh hơn nữa vì thế và lực của nhân dân ta
đã khác xa so với 20 năm trước. Tình hình thế
giới và khu vực thay đổi nhanh chóng đòi hỏi ở
Việt Nam một sự bứt phá toàn diện để không tụt
hậu xa thêm hơn nữa. Định hướng cho mô hình xã
hội chủ nghĩa Việt Nam cần được nghiên cứu, bổ
sung, thậm chí thể hiện lại cho toàn diện, mang
tính khái quát cao hơn, thể hiện rõ bản sắc Việt
Nam hơn, đặc biệt thể hiện tính dân tộc và những
đặc trưng, yêu cầu nổi trội của dân tộc. Từ
những xu hướng vận động của lịch sử dân tộc, cho
chúng ta cơ sở để hình dung về một định hướng
cho mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
tương lai.
Trước hết, bài học về giữ vững nền độc lập
của Tổ quốc là bài học thiêng liêng nhất của bao
thế hệ người Việt Nam từ thuở lập nước cho đến
nay. Giải phóng dân tộc để giải phóng giai cấp,
giải phóng xã hội, giải phóng con người, đó là
quá trình đấu tranh của dân tộc mà Hồ Chí Minh
đã đúc kết thành chân lý bất hủ: “Không có gì
quý hơn độc lập, tự do”. Có độc lập dân tộc thì
mới có chủ nghĩa xã hội, cho nên chủ nghĩa xã
hội Việt Nam phải là chủ nghĩa xã hội của một
đất nước độc lập tự chủ. Điều đó khẳng định tư
thế làm chủ đối với đất nước có biên giới hoàn
chỉnh trên bộ, trên không và trên biển, khẳng
định chỗ đứng lịch sử của đất nước trong dòng
chảy của thời đại; nói lên địa vị chính trị, xã
hội của đất nước ta trong cộng đồng quốc tế. Một
dân tộc chỉ có thể sống bình đẳng, hội nhập và
hòa hiếu với bạn bè quốc tế nếu dân tộc đó có
quyền độc lập. Do vậy Độc lập phải là
tiêu chí hàng đầu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
Trong lịch sử dân tộc ta cũng như lịch sử loài
người nói chung, tự do cho con người luôn
luôn là nhu cầu bức thiết, sống còn, gần như bản
năng. Tự do là quyền cơ bản của con người, được
hiểu một cách toàn diện, bao gồm các mặt: chính
trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng… gắn liền với
các phạm trù bình đẳng, bác ái trong quan hệ
giữa các cá nhân, tập đoàn trong xã hội. Dân tộc
nào trên thế giới cũng đều khao khát tự do, song
dân tộc Việt Nam khao khát tự do gắn với hàng
chục thế kỷ làm kiếp ngựa trâu trong đêm trường
nô lệ lại càng cảm thấy cái vô giá của hai chữ
Tự do. Đời người ai cũng có ít hoặc nhiều
trải qua những nỗi đau khổ, nhưng - như Hồ Chí
Minh nói - đau khổ nào cũng không bằng nỗi đau
khổ vì mất tự do (Đau khổ chi bằng mất tự do -
Nhật ký trong tù). Chủ nghĩa xã hội Việt Nam
phải là một xã hội bảo đảm tự do cho mỗi con
người theo tư tưởng của C.Mác: tự do của mỗi
người là điều kiện cho tự do của mọi người. Chỉ
có xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa như vậy,
mới thực sự bảo đảm cho mỗi người được làm chủ
thực sự trong một đất nước độc lập, mới có được
công bằng, văn minh. Đó chính là khát vọng cháy
bỏng của dân tộc Việt Nam.
Một chủ nghĩa xã hội không bảo đảm quyền tự do
cho con người sẽ là một sự phản bội lịch sử, sự
quay lưng lại thực tế và sẽ không thu hút được
sự đồng tình và ủng hộ của mọi người dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Nếu nước được độc lập
mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc
lập cũng chẳng có nghĩa lý gì… Chúng ta giành
được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết
rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Người
còn đưa ra quan điểm: chủ nghĩa xã hội là làm
sao cho dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng,
ai nấy đều được học hành, ốm đau có thuốc, già
không lao động thì được nghỉ, những phong tục
tập quán không tốt lành dần dần được xóa bỏ… Tóm
lại, chủ nghĩa xã hội phải mang lại cuộc sống
hạnh phúc cho mọi người trong xã hội. Đó
cũng là cái đích cần đạt tới của độc lập, tự do.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ta thấy nổi lên mối
quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa Độc lập - Tự do
- Hạnh phúc, chúng hòa quyện với nhau, làm nổi
bật lên đặc trưng bao trùm nhất, chung nhất,
điển hình nhất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Ba
yếu tố đặc trưng ấy nhằm giải quyết 3 vấn đề
then chốt nhất của dân tộc Việt Nam, đó là:
+ Vấn đề dân tộc: dân tộc phải được độc lập, tự
chủ, chống mọi sự kỳ thị dân tộc và bất bình
đẳng dân tộc.
+ Vấn đề dân quyền: bảo đảm con người được giải
phóng, có quyền làm chủ đất nước, quyền tự do về
mọi mặt.
+ Vấn đề dân sinh: bảo đảm cuộc sống ấm no hạnh
phúc cho mọi người.
Độc lập, tự do, hạnh phúc là nguyện vọng đầy đủ
và tha thiết của cả dân tộc, là mục tiêu hy sinh
đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể từ khi
Người ra đi tìm đường cứu nước, đó cũng là xu
thế của thời đại, cho nên nó nói lên toàn diện,
đầy đủ những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt
Nam, thể hiện ở tầm Cương lĩnh về chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.
Độc lập, tự do, hạnh phúc thể hiện một cách ngắn
gọn, xúc tích, nhưng toàn diện và đầy đủ nhất cơ
sở khoa học của chủ nghĩa xã hội Việt Nam, thể
hiện bản chất của chế độ Nhà nước ta dù là mang
tên Dân chủ cộng hòa hay xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Công thức đó giản dị như nước uống, không
khí hàng ngày, đi vào lòng dân một cách nhẹ
nhàng, nhanh chóng, giản dị như chân lý của cuộc
sống hơn là hệ thống những tiêu chí khó nhớ.
Trên nền tảng mục tiêu chung đó của chủ nghĩa xã
hội Việt Nam, khi xử lý những vấn đề cụ thể
trong đường lối, chủ trương thực tế đã xuất hiện
một số mâu thuẫn cần được xử lý theo đúng định
hướng xã hội chủ nghĩa. Có thể nêu lên một số
mối quan hệ:
- Quan hệ giữa dân giàu - nước mạnh: Đây
là mối quan hệ tác động qua lại mang tính nhân
quả mà cơ sở là dân giàu, tạo nguồn cho nước
mạnh chứ không phải là ngược lại. Mọi hoạt động
của bộ máy quản lý đất nước cần tạo điều kiện
cho mọi người dân có việc làm, được tự do làm ăn
trong khuôn khổ luật pháp, có thu nhập ngày càng
tăng, từ đó mà làm cho sức mạnh của cả đất nước
tăng lên, ngân sách tăng lên. Tư tưởng tăng thu
ngân sách là không phù hợp với thực tế đất nước
khi điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, đời
sống nhân dân còn khó khăn, hậu quả chiến tranh
còn nặng nề.
- Quan hệ giữa người giàu và người nghèo: chủ
nghĩa xã hội Việt Nam phải làm cho mọi người dân
đều giàu lên. Ngày nay trong kinh tế thị trường,
sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng. Chủ
trương rút ngắn sự chênh lệch giàu nghèo phải
bắt đầu từ chỗ nâng cao dần mức sống của người
nghèo, xóa cảnh đói, rét, ăn mày, bụi đời, lang
thang, thất học…; tạo việc làm cho mọi người,
phấn đấu trong thời gian ngắn đạt mức sống trung
lưu trong xã hội để từ đó rút ngắn khoảng cách
giàu nghèo. Đó là định hướng đúng đắn theo lý
tưởng xã hội chủ nghĩa.
- Nhiều mối quan hệ khác cần giải quyết trên cơ
sở quan niệm phát triển mới về chủ nghĩa xã hội
Việt Nam, như: giữa dân tộc và giai cấp, giữa
phát triển và công bằng xã hội, giữa cá nhân và
cộng đồng, đời sống vật chất và tinh thần, bản
sắc dân tộc và hiện đại, tự lực và hội nhập, vấn
đề dân tộc thiểu số, vấn đề tôn giáo…
Cương lĩnh 1991 là thành tựu lý luận, nhận thức
của Đảng ta ở thời điểm đó. Trải qua thời gian
và không gian, thực tế cọ sát đã cho ta những
nhận thức mới hơn về mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
và cho ta một cách tiếp cận mới để có thể nghiên
cứu một chủ nghĩa xã hội Việt Nam đích thực. Đó
là một vấn đề rất đáng quan tâm thảo luận trong
tình hình hiện nay.
PGS-TS TRẦN HẬU
Về đầu trang
Cần cụ
thể hóa cơ chế “Nhân dân làm chủ”
Ông Đỗ Duy Thường, nguyên Phó Chủ
tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam rất mừng vì
Dự thảo Báo cáo chính trị nhiệm kỳ này đề ra: "Có
cơ chế để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền
làm chủ trực tiếp". Đây là chủ trương đúng, đáp
ứng được mong đợi và nguyện vọng của nhân dân.
Góp ý Dự thảo chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011-2010 và Dự thảo báo
cáo chính trị của Đảng, ông Đỗ Duy Thường cho
rằng, trong các phần kiểm điểm đã có đánh giá
thành tựu và những hạn chế, khuyết điểm của Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân trong việc thực
hiện dân chủ, tham gia xây dựng và củng cố chính
quyền nhân dân, tập hợp, động viên nhân dân thực
hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng.
Theo ông Thường, Mặt trận, đoàn
thể có nhiều vai trò, trong đó có vai trò thực
hiện dân chủ, đại diện cho quyền và lợi ích
chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân phát
huy quyền làm chủ tham gia xây dựng Ðảng, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân, thắt chặt mối liên hệ giữa
Ðảng, Nhà nước với nhân dân. Trong cơ chế Ðảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ,
thì vai trò Ðảng lãnh đạo là rất rõ, Nhà nước
quản lý cũng rất rõ vai trò, còn vai trò nhân
dân làm chủ thì chưa có Nghị quyết nào chỉ ra rõ
ràng, đầy đủ. Về phương diện dân chủ, có dân chủ
đại diện và dân chủ trực tiếp. Cơ chế dân chủ
đại diện được quan tâm và đề cập nhiều trong các
Nghị quyết và các quy định của pháp luật (tuy
chưa thật đầy đủ), nhưng cơ chế dân chủ trực
tiếp thì chưa được thể chế hóa.
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình
Ðại hội XI của Ðảng nêu rõ: “Có cơ chế để nhân
dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực
tiếp”, đây là chủ trương rất đúng đắn, đáp ứng
nguyện vọng của nhân dân, nhân dân rất mong muốn
quyền dân chủ, quyền làm chủ trực tiếp được Nhà
nước sớm ban hành cơ chế. Vấn đề ở đây cần xác
định: Cơ quan, tổ chức nào ban hành cơ chế ấy.
Có cơ chế rồi nhưng cần phải được thể chế thành
pháp luật và bằng tổ chức. Quyền dân chủ đại
diện thì theo cơ chế nào?
Do đó, ông Thường đề nghị trong
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhiệm kỳ này nên
cụ thể hóa cơ chế "nhân dân làm chủ" trên mấy
vấn đề sau: Đề ra nguyên tắc làm chủ của nhân
dân, đó là: "Nhân dân được làm những gì mà Nhà
nước không cấm". Các lĩnh vực cần mở rộng quyền
dân chủ, quyền làm chủ đó là "các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an
ninh". Nội dung quyền làm chủ là: "Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát". Phương
thức làm chủ là nhân dân vừa thực hiện dân chủ
trực tiếp vừa "thực hiện dân chủ đại diện thông
qua các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, mặt
trận và các đoàn thể nhân dân". Trách nhiệm của
cơ quan nhà nước là phải bảo đảm để nhân dân
được làm chủ trên thực tế. Vì vậy, Nhà nước cần
sớm ban hành các đạo luật: Luật Trưng cầu dân ý,
Luật Giám sát của nhân dân, Luật Phản biện, Luật
biểu tình và đình công…
Ông Đỗ Duy Thường cho rằng, trong
Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm tới về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc
xây dựng bộ máy Nhà nước đã ghi: “… phát huy
quyền làm chủ của nhân dân là nội dung quan
trọng của đối mới chính trị phải được tiến hành
đồng bộ với đổi mới kinh tế. Coi trọng mở rộng
dân chủ trực tiếp trong xây dựng Đảng và xây
dựng chính quyền”. Với chủ trương đó, ông Thường
đề nghị bổ sung một số hoạt động giám sát của
nhân dân thông qua Mặt trận trong nội dung này,
đó là: “Tiếp tục thực hiện quy chế nhân dân giám
sát cán bộ, đảng viên, công chức ở khu dân cư”;
định kỳ lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ
chốt do Hội đồng nhân dân bầu; đẩy mạnh hoạt
động của thanh tra nhân dân, giám sát đầu tư
cộng đồng… Nhà nước ban hành pháp luật về giám
sát, phản biện xã hội để nhân dân tham gia có
hiệu quả vào quá trình hoạch định chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.
Góp ý về Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa (nội dung 10), ông Thường nhấn
mạnh, Đại hội IX, X của Đảng đã đề ra chủ trương
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa. Năm đặc trưng cơ bản của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được định hình,
những nội dung của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa đã và đang được tổ chức thực hiện để
ngày càng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền theo
đặc thù của nhà nước ta, nhà nước của dân, do
dân, vì dân tho tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền
móng. Qua 10 năm thực hiện chủ trương xây dựng
Nhà nước pháp quyền, luật pháp đang dần được
hoàn thiện, kỷ cương xã hội được giữ vững, hệ
thống tổ chức nhà nước không ngừng được hoàn
thiện. Cơ chế kiểm tra, giám sát trong hệ thống
nhà nước, trong nhân dân tiếp tục được xây dựng
và thực hiện nhằm ngăn ngừa và trừng trị tệ quan
liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng
quyền. Cơ chế dân chủ cũng đang được xây dựng,
từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp
luật. Vì vậy cần bổ sung vào nội dung này một
nguyên tắc có tính pháp quyền là “Dân được làm
những gì mà pháp luật không cấm, cán bộ, đảng
viên, công chức chỉ được làm những việc pháp
luật quy định”. Đó là một nguyên tắc cơ bản để
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là nguyên tắc thực
hiện dân chủ trong đời sống xã hội ngày càng
phát triển./.
Về đầu trang
Bàn về dân chủ trong Đảng
Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Muốn
Đảng mạnh phải thực hiện tốt nguyên tắc tập
trung dân chủ, đề cao vũ khí tự phê và phê bình
trong Đảng. Về vấn đề trên ông Trần Thanh Bình,
nguyên Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà
Tĩnh đã có một số ý kiến góp ý vào dự thảo văn
kiện như sau.
Tập trung và dân chủ có mối quan hệ hết sức biện chứng. Quyền
tập trung càng đề cao, uy tín của Đảng càng được
nâng lên khi chúng ta biết phát huy dân chủ
rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
ngược lại càng phát huy dân chủ càng khai thác
được trí tuệ, chất xám của mọi người, càng hạn
chế được những sai lầm, khuyết điểm và căn bệnh
chủ quan duy ý chí của những người có trách
nhiệm ở mỗi cấp, mỗi ngành và của toàn Đảng.
Lịch sử 80 năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp giải phóng và xây dựng
đất nước đã minh chứng cho sức mạnh dân chủ
trong Đảng. Nhưng với thái độ khách quan, dám
nhìn thẳng vào sự thật thì vấn đề dân chủ trong
Đảng và nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng
ở nơi này, nơi khác, trên từng lĩnh vực chưa
được đề cao, thậm chí còn bị lợi dụng, có nơi
khá nghiêm trọng, làm vô hiệu hóa sức mạnh của
một tổ chức. Chúng ta chưa ban hành đầy đủ và
đồng bộ những quy tắc, quy định và chế tài thật
cụ thể, có cơ sở khoa học để tạo sự kết dính
vững chắc giữa tổ chức và cá nhân trong mỗi tổ
chức, không để cho bất cứ cá nhân nào đứng trên
tổ chức, đứng ngoài tổ chức. Ở một số tổ chức
đảng có thời kỳ do không thực hiện tốt vấn đề
dân chủ nên trên một số lĩnh vực chưa thể hiện
đầy đủ cơ sở khoa học và tư duy chính trị trong
mỗi quyết sách, dẫn đến một số hậu quả khá
nghiêm trọng trong phát triển kinh tế xã hội,
nhất là lựa chọn phương án đầu tư, ứng dụng khoa
học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trong
cải cách giáo dục, đào tạo và sử dụng nguồn nhân
lực, trong bố trí cán bộ, nhưng không tìm được
địa chỉ cụ thể để cột trách nhiệm.
Điều đáng lo ngại trong Đảng hiện nay ở một số nơi và trên
từng lĩnh vực khác nhau là đã có những nhận thức,
việc làm, những quy định làm ảnh hưởng đến quyền
làm chủ và sức sáng tạo của mỗi người. Dân chủ
trong Đảng không được đề cao, là chỗ dựa cho tệ
quan liêu, lấn lướt, tập trung quyền lực trong
tay một số người “cánh hẩu” với nhau, gây hậu
quả không nhỏ trong công cuộc đổi mới. Vì thiếu
dân chủ nên năng lực và sức chiến đấu của một số
tổ chức cơ sở đảng rất hạn chế, thậm chí bị tê
liệt. Nhiều vấn đề nhân dân và công luận phát
hiện nhưng tổ chức cơ sở đảng không biết hoặc có
biết nhưng không đấu tranh. Vì thiếu dân chủ nên
một số cấp ủy đảng không thể hiện đầy đủ ý thức
trách nhiệm của mình trước sự tín nhiệm của Đảng
bộ và sự ủy thác của nhân dân.
Đại hội Đảng lần này là dịp xây dựng môi trường lành mạnh và
thiết chế đồng bộ để phát huy dân chủ. Mọi vấn
đề kinh tế - xã hội cần được dân chủ luận bàn ở
nhiều cấp độ khác nhau. Có những vấn đề phải lấy
ý kiến tham gia của nhân dân, của cơ sở, phải
thăm dò dư luận xã hội hoặc tổ chức điều tra xã
hội học để khai thác trí tuệ và chất xám của mọi
người, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học và quản
lý để quyết định các vấn đề phù hợp với quy luật.
Bác Hồ đã chỉ cho chúng ta bài học “Dân chúng
biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản,
mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những
đoàn thể lớn nghĩ mãi không ra”. Chúng ta không
thể đi ngược lại quy luật khách quan, chỉ có tìm
phương pháp tác động cho sự vật vận động, phát
triển cùng chiều nhanh hơn, hiệu quả hơn mà thôi.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã chỉ
cho chúng ta thấy phương pháp khoa học là: “Thấy
một cách sáng tỏ, vận dụng một cách thành thạo,
có thái độ rộng rãi, khoan dung đối với người có
chính kiến khác mình. Đó là điều bình thường
trong xã hội. Chỉ có thảo luận, tranh luận, lật
qua, lật lại, người thấy mặt này, người thấy mặt
khác thì mới dần dần tiếp cận cái đúng, đồng
thời cái đúng không phải là vĩnh hằng, bất biến”.
Đây cũng chính là phương pháp luận tốt nhất để
phát huy dân chủ và thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ. Phải chống các biểu hiện: Miệng
hô dân chủ nhưng hành động thì trù dập, định
kiến với người trung thực nói thẳng; sử dụng dân
chủ để hợp thức hóa những ý đồ cá nhân hoặc “ẩn
bóng” dưới danh nghĩa dân chủ để kích động, bè
cánh, gây nghi kỵ, hiểu nhầm, gây mất đoàn kết
nội bộ.
Trong công tác cán bộ càng phải thật sự dân chủ. Đảng nắm
công tác cán bộ là đúng, vì khởi nguồn của mọi
chủ trương, nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị
quyết suy cho cùng cũng từ cán bộ. Phải có những
chế tài, quy tắc, quy định rất cụ thể, khoa học
mới đảm bảo công tác đào tạo, bố trí, sử dụng
cán bộ được công tâm, khách quan, lựa chọn được
người hiền tài cho đất nước, mới chặn đứng được
biểu hiện “chạy chức, chạy quyền”, “mua quan,
bán tước” diễn ra ở một số nơi. Những vụ việc
tiêu cực, tham nhũng lớn ở nước ta đã được phanh
phui trong những năm gần đây là cái giá phải trả
quá đắt và hết sức đau lòng về công tác cán bộ.
Giải phóng đất nước – thống nhất Tổ quốc, đoạn
tuyệt với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp
để thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã làm
được thì không lý do gì ta không sửa được những
sơ hở, thiếu sót và sai lầm trong công tác cán
bộ ở mỗi địa phương và toàn Đảng. Tôi nghĩ: “Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
trước hết phải học cách dùng người của Bác. Vấn
đề đặt ra là phải thiết lập một cơ chế đồng bộ
và dân chủ trong công tác cán bộ, phải thông qua
thi tuyển như cha ông ta đã từng làm, Đảng phải
giới thiệu nhiều người trong một chức danh để
cân nhắc, lựa chọn, tốt nhất là phải có chương
trình hành động, có cam kết về trách nhiệm cá
nhân, trong đó ai trúng cử cũng đều xứng đáng.
Có thời chúng ta giới thiệu 2 người để bầu Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng, phải có sự cạnh tranh
lành mạnh để vươn tới. Tôi nghĩ rằng đã đến lúc
phải làm cho đội ngũ cán bộ không quá nặng nề về
tỷ lệ trúng cử cao hay thấp và nên bỏ ngay những
cơ chế tạo “vỏ bọc” cho người cán bộ có chổ dựa
dẫm, làm cho một số cán bộ công thần, ngạo mạn,
tự hào là đã dành được “tín nhiệm tuyệt đối”,
không tự vấn lương tâm mình, không khiêm tốn học
hỏi đồng chí và nhân dân. Trúng cử nhưng tỷ lệ
thấp là bài học sâu sắc cho mỗi người, có khi
còn giá trị gấp nhiều lần những cuộc tự phê bình,
kiểm điểm mang tính chiếu lệ. Vấn đề là phải có
chuẩn mực để đánh giá từ phẩm chất, lòng nhiệt
huyết, đức hy sinh và hiệu quả công việc của
người tham gia ứng cử, đề cử.
Các cấp uỷ Đảng tiếp cận với dân, đặc biệt là phải ban hành
quy chế, chế tài để phát huy vai trò tư vấn,
phản biện của MTTQ và các đoàn thể nhân dân
trong việc hoạch định chủ trương, chính sách;
trong xem xét, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ như
văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề
ra, chấm dứt những hiện tượng “trên khen nhưng
dân thì tha oán, bất bình”.
Từ suy nghĩ trên, tôi mong vấn đề dân chủ trong Đảng là một
chủ đề trọng tâm cần được luận bàn trong diễn
đàn Đại hội XI của Đảng, thể hiện đúng đắn nhất
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.
Trần
Thanh Bình,
Nguyên Chủ tịch
UBMTTQVN Hà Tĩnh
Về đầu trang
Ủy ban
MTTT tỉnh Hưng Yên: Tổ chức lấy ý kiến đóng góp
vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI
Ngày 21.10, Ban Thường trực Uỷ
ban MTTQ tỉnh tổ chức hội nghị lấy ý kiến các
nhân sĩ, trí thức, các chức sắc tôn giáo đóng
góp vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI. Dự hội nghị có đại diện lãnh
đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.
Các đại biểu tham dự hội nghị bày
tỏ nhất trí với các nội dung nêu trong Dự thảo
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011); Dự thảo Báo cáo Chính trị; Dự thảo Chiến
lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (giai
đoạn 2011 – 2020). Để các Dự thảo văn kiện phản
ánh một cách đầy đủ, sát thực tế hơn, một số đại
biểu đã đóng góp ý kiến, tập trung vào các nội
dung như: Cải cách giáo dục không chỉ nhấn mạnh
đến chống gian lận mà phải tính đến giải pháp
hướng tới cải cách chương trình, phương pháp
giảng dạy để xứng tầm với vị thế mới của đất
nước. Xã hội hóa công tác y tế là cần thiết
nhưng cần quan tâm kiểm tra, giám sát chất lượng
khám chữa bệnh ở các cơ sở tư nhân, tăng thẩm
quyền cho đoàn thanh tra giám sát của ngành y tế;
Mục tiêu và định hướng cơ bản của quá trình xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
là hướng đi vững chắc, vì vậy cần chỉ rõ các mục
tiêu cụ thể trong cương lĩnh trong giai đoạn tới
nhằm đem lại kết quả cao hơn; từ nghị quyết đến
việc tổ chức thực hiện cần đề cập một cách cụ
thể. Trong lĩnh vực văn hóa cần có chính sách
thỏa đáng, trong đó quan tâm vấn đề bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa. Bên cạnh đó cũng
cần có sự điều chỉnh về tiêu chí xây dựng gia
đình văn hóa, làng văn hóa… Một số đại biểu đề
nghị cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương,
đường lối, chính sách pháp luật về tôn giáo
trong giai đoạn mới của đất nước, phát huy những
giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn
giáo; động viên các chức sắc tôn giáo, đồng bào
có đạo sống tốt đời đẹp đạo, tích cực tham gia
đóng gióp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn
giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, đoàn kết tôn giáo...
Kết luận hội nghị, ông Bùi Văn
Nho, Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ tỉnh đã trân trọng
cảm ơn những ý kiến đóng góp đầy tâm huyết,
trách nhiệm, trí tuệ, niềm tin của các đại biểu
đối với Đảng, với sự phát triển của dân tộc. Ban
Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh sẽ tổng hợp ý kiến
của các đại biểu gửi về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
để tổng hợp báo cáo Ban Tuyên giáo Trung ương.
Phương
Châm
Về đầu trang
Ý kiến...
Nguyễn Phan Luỹ - Nguyên Ủy viên UBTƯ MTTQ Việt
Nam, nguyên Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng
Về Mặt trận Tổ quốc Việt nam và
các đoàn thể nhân dân, dự thảo Cương lĩnh ghi:
“... Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo
điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám
sát và phản biện xã hội”. Đây là một sự trải
nghiệm, bổ sung đầy tâm huyết của Đảng Cộng Sản
Việt Nam - Đảng cầm quyền trong cương lĩnh 2011
của Đảng. Nhưng cụm từ “tạo điều kiện” lại thể
hiện quan điểm chưa đúng tầm về vai trò, vị trí
MTTQ và các đoàn thể nhân dân.
Do vậy, Cương lĩnh cần nghiên cứu,
bổ sung và sửa lại cho đúng tầm chiến lược là:
Đảng, Nhà nước có trách nhiệm (không phải là tạo
điều kiện) xây dựng, quy định cơ chế, chính sách
để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động
có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản
biện xã hội.
Giám sát và phản biện xã hội của
MTTQ và các đoàn thể nhân dân là yêu cầu tất yếu
khách quan khi Đảng lãnh đạo cách mạng thành
công và trở thành Đảng cầm quyền. Để MTTQ và các
đoàn thể nhân dân góp phần cùng với Đảng, Nhà
nước đưa cách mạng tiến lên không ngừng, đồng
thời cũng ngăn ngừa, cảnh báo về những thói hư,
tật xấu (tham nhũng, quan liêu, suy thoái đạo
đức, phai nhạt lý tưởng...) mà Đảng cầm quyền
duy nhất dễ phạm phải, cần phải có cơ chế, chính
sách giám sát, phản biện hữu hiệu. Hiểu sâu sắc
vấn đề để có trách nhiệm đúng đắn, rõ ràng thể
hiện bằng cơ chế, chính sách, bằng luật pháp hoá
chứ không phải là tạo điều kiện hoặc không tạo
điều kiện.
Nguyễn
Phượng (ghi)
Về đầu trang
Ý kiến góp ý
của PGS.TS Phan Hữu Tiến, Ủy viên Hội đồng tư
vấn Khoa học-Giáo dục,Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam vào các văn kiện trình Đại hội
XI của Đảng
1. Dự thảo các văn kiện đều cần đề cập khoa
học-công nghệ và môi trường trong sự nhất quán
đồng thời có sự phù hợp với đặc điểm của từng
thể loại văn kiện. Cương lĩnh đề cập ở tầm khái
quát lâu dài cho nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng,
chiến lược đề cập thường trong thời gian 10 năm
còn Báo cáo chính trị chỉ trong 1 nhiệm kỳ. Tất
nhiên, ước định thời gian cũng có tính chất
tương đối nhưng nếu không tính thời gian thì dễ
trồng chéo, trùng lặp hoặc chung chung. Trong
Cương lĩnh, vấn đề khoa học-công nghệ-môi trường
đề cập khá rõ ở nhiều phần song ở một phần rất
quan trọng là phần các phương hướng cơ bản với 8
phương hướng trong đó có phương hướng "ba là,
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc". Theo tôi hiểu, phần các phương
hướng cơ bản phải thể hiện nội dung của mục tiêu
đồng thời là tiền đề cho các phần tiếp theo.
Việc đặt văn hóa là một trong các phương hướng
cơ bản là đúng vì văn hóa không chỉ là động lực
mà còn là mục tiêu của sự phát triển. Dù văn hóa
có vai trò rất quan trọng và theo nghĩa rộng
nhất có thể bao quát nhiều lĩnh vực song không
vì thế mà văn hóa có thể thay thế mọi lĩnh vực
liên quan. Trong dự thảo các văn kiện trình Đại
hội XI, văn hóa giáo dục-đào tạo, khoa học-công
nghệ-môi trường, an sinh xã hội, y tế… đều được
trình bày với nội hàm xác định song song 8
phương hướng cơ bản lại chỉ nói đến văn hóa ở
phương hướng thứ ba. Để thể hiện vai trò, vị trí
các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội cũng
như thể hiện tính nhất quán trong dự thảo các
văn kiện, xin đề nghị phương hướng cơ bản thứ ba
là "xây dựng và phát triển văn hóa -xã hội vì
con người Việt Nam phát triển toàn diện gắn với
xây dựng và phát triển văn hóa -xã hội".
Phương hướng này thể hiện mục tiêu xây dựng và
phát triển con người Việt Nam- trung tâm của
chiến lược kinh tế-xã hội và là mục tiêu của mọi
sự phát triển. Sau nữa, phương hướng này còn đề
cập đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến phát
triển con người được khái quát ở cụm từ văn
hóa-xã hội như văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa
học-công nghệ, môi trường, y tế, an sinh xã hội,
v.v…
2. Trong phần II, mục 4 của dự thảo Cương lĩnh
ghi "Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá
độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng
kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc
thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù
hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một
nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh". Theo
tôi được hiểu, đoạn này nói rất rõ đây là Cương
lĩnh trong thời kỳ quá độ mà khi kết thúc thời
kỳ này thì sẽ tạo cơ sở của chủ nghĩa chứ chưa
phải đã là chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác,
Cương lĩnh này đặt ra nhiệm vụ giải quyết những
vấn đề của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ở đây cần tránh 2 xu hướng không đúng hoặc là
biệt lập hai giai đoạn này hoặc là đồng nhất hai
giai đoạn này. Về lý luận cũng như về thực tiễn,
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bản thân
chủ nghĩa xã hội vừa có sự khác biệt nhất định
về đặc trưng, về nội dung, về tính chất vừa có
sự đan xen, sự chuyển tiếp nhất định của một số
yếu tố, một số đặc trưng. Vì thế việc phân định
vừa là cần thiết nhưng cũng vừa có tính tương
đối. Còn ở phần kết luận lại ghi: "Thực hiện
thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở
thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh". Viết
như thế này có thể hiệu thực hiện thắng lợi
Cương lĩnh này nước ta sẽ là nước xã hội chủ
nghĩa và như vậy không nhất quán với đoạn nói
trên. Tôi đề nghị đoạn này có thể diễn đạt là: "Thực
hiện thắng lợi Cương lĩnh này sẽ tạo điều
kiện vững chắc để nước nhà trở thành nước xã
hội chủ nghĩa phồn vinh".
3. Trong phần II, mục 4 của dự thảo Cương lĩnh
ghi "Xã hội, xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây
dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh…" song ở đoạn đầu của mục 6
của dự thảo Cương lĩnh lại ghi: "Xây dựng một xã
hội dân chủ, văn minh… ". Viết như thế không
nhất quán với đoạn trên hơn nữa cụm từ xây dựng
một xã hội dân chủ dễ bị hiểu thành xây dựng một
xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ của
một số nước hiện nay.
Về đầu trang
Ý kiến góp ý của Bà Nguyễn Thị Minh Phương-Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam vào các Dự
thảo Văn kiện trình Ðại hội XI của Ðảng
1. Với dự thảo “BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP
HÀNH TW ĐẢNG KHÓA X TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TÒAN
QUỐC LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG”
- Trong mục 2. Giáo dục và đào tạo, khoa học và
công nghệ…. của phần A. Thành tựu, nhận xét “Cải
cách giáo dục đạt một số kết quả bước đầu”
là chưa chính xác vì Nghị quyết số 40/2000/ của
Quốc hội khóa X yêu cầu “đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông…”, không phải là “Cải
cách giáo dục”. Mặt khác trong mục này nêu “Giáo
dục, đào tạo gắn kết chặt chẽ hơn với yêu cầu
phát triển kinh tế- xã hội” song nhận định ở
phần B. Hạn chế, khuyết điểm là “Chương trình,
nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm
đổi mới” e không tương thích. Thực tế đối
với giáo dục phổ thông, với những cố gắng trong
thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X,
cũng đã có không ít thay đổi. Tuy nhiên một cuộc
tổng kết, đánh giá tổng thể chương trình mới sau
một giai đoạn triển khai chưa được thực hiện nên
nhận định trên chưa thuyết phục, chưa phản ánh
được sự nỗ lực của 20 triệu học sinh, giáo viên,
cán bộ quản lý giáo dục trong gần 10 năm qua. Vì
vậy đề nghị sửa là “Chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học mặc dù đã được đổi mới
song chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát
triển kinh tế- xã hội”.
2. Với dự thảo “CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”
- Đề nghị trong tiểu mục “Con người” bổ
sung thêm ý: sống và làm việc theo pháp luật cho
phù hợp với mục 10. Nhà nước pháp quyền của phần
IV. Hệ thống chính trị…
3. Với dự thảo “CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ-
XÃ HỘI 2011- 2020”
- Mục “IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN, ĐỔI MỚI MÔ
HÌNH TĂNG TRƯỞNG, CƠ CẤU LẠI NỀN KINH TẾ” bao
gồm 6 mục nhỏ liên quan đến các ngành kinh tế và
lãnh thổ; 6 mục nhỏ liên quan đến các vấn đề
ngoài kinh tế (xã hội,…), như vậy nên xem xét
lại tiêu đề để có thể phản ánh đúng nội hàm của
nó.
- Mục nhỏ 5. Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng,
dự thảo ghi “Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư
xây dựng … đường sắt cao tốc Bắc- Nam…” đề nghị
bỏ ý này.
Về đầu trang
Ðổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền ở cơ
sở
Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011
- 2020 đã xác định: Tổng kết, đánh giá mô hình
tổ chức và chất lượng hoạt động của chính quyền
địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp,
bảo đảm phân định đúng chức năng, trách nhiệm,
thẩm quyền, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả.
Những định hướng trong Chiến lược là đúng đắn,
song vấn đề đặt ra là việc chọn giải pháp cụ thể
để triển khai, thực hiện. Ðại hội Ðảng lần thứ
XI chắc chắn sẽ thảo luận và xác định những giải
pháp cụ thể. Chúng tôi xin góp ý với Ðảng một số
vấn đề về xây dựng chính quyền ở cơ sở.
Thứ nhất, xây dựng chính quyền ở cơ sở theo hướng hình thành
bộ máy thi hành pháp luật của Nhà nước và những
quyết định của UBND cấp trên tại cơ sở. Chính
quyền xã với năng lực hiện tại không thể là cơ
quan làm chính sách, cho dù chính sách trong
phạm vi của xã, phường. Vì vậy, chỉ cần tổ chức
UBND ở cấp xã, phường đồng thời đổi thành UBHC (ủy
ban hành chính) để đúng với bản chất quyền lực
hành pháp.
Thứ hai, cần duy trì một đội ngũ cán bộ chính quyền ở cơ sở
ổn định, nhất là những công chức thực hiện các
nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước như địa
chính, hộ tịch, tư pháp. Sự ổn định của đội ngũ
công chức này sẽ giúp cho việc theo dõi, quản lý
hoạt động thi hành pháp luật ở cấp cơ sở một
cách liên tục, hệ thống. Mặt khác, sự ổn định
này đồng nghĩa với việc duy trì trình độ và kỹ
năng thực thi công việc. Thực tế cho thấy, cứ
sau mỗi nhiệm kỳ thì lại có một loạt sự thay đổi
nhân sự trong bộ máy của UBND xã, phường. Những
người được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, vừa
mới bố trí công việc thích hợp thì lại thay đổi,
điều động.
Thứ ba, thực hiện việc Chủ tịch UBND huyện, thị xã bổ nhiệm
Chủ tịch UBND xã, phường và cách chức khi không
thực hiện tốt công việc. Ðây là một trong những
giải pháp nhằm hạn chế tình trạng 'phân chia
quyền lực', cục bộ giữa các thôn trong xã, giữa
các dòng họ trong thôn. Bên cạnh đó, cần có
những giải pháp cụ thể để đánh giá năng lực và
đạo đức, sự tín nhiệm của nhân dân đối với lãnh
đạo của chính quyền ở cơ sở. Chính quyền ở cơ sở
gần dân bao nhiêu thì cần được để nhân dân trực
tiếp giám sát bấy nhiêu. Việc bổ nhiệm, bãi
nhiệm lãnh đạo chính quyền ở cơ sở cần dựa trên
cơ sở đánh giá của nhân dân.
Thứ tư, cần thực hiện chế độ trả lương cho công chức chính
quyền xã, phường theo đúng năng lực và trình độ
chuyên môn được đào tạo. Cần khắc phục sự phân
biệt hệ số lương, phụ cấp dựa trên tiêu chí là
công chức cấp xã, phường hay cấp huyện. Sự thiếu
công bằng và từ đó là sự triệt tiêu động lực và
nhiệt tình của công chức chính quyền ở cơ sở bắt
nguồn từ chế độ đãi ngộ công chức nói chung,
nhất là công chức ở cấp cơ sở. Trong thực tế, có
những người cùng tốt nghiệp đại học hoặc trung
học, có năng lực ngang nhau, song người trở
thành công chức, cán bộ cấp huyện, cấp tỉnh thì
hưởng lương và phụ cấp cao hơn người về làm việc
ở chính quyền ở cơ sở.
Thứ năm, cần có những quy định tạo cơ sở pháp lý để UBND các
xã, phường, thị trấn, tư vấn trưởng thôn, trưởng
bản trong việc đưa ra các quyết định hành chính.
Trưởng thôn, trưởng bản là những người được cộng
đồng dân cư tín nhiệm bầu lên, có uy tín và ảnh
hưởng lớn trong cộng đồng. Chính vì vậy, sự tham
gia và tư vấn của trưởng thôn trong các phiên
họp của UBND xã, phường cũng như trong việc đưa
ra quyết định hành chính, trong thi hành pháp
luật là một giải pháp giúp nâng cao hiệu lực
quản lý của chính quyền ở cơ sở.
Thứ sáu, cần đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất cho chính
quyền cấp cơ sở. Trụ sở cơ quan công quyền phải
có những điều kiện tối thiểu để thực thi quyền
lực. Hồ sơ, giấy tờ liên quan đến công vụ cần
phải được lưu giữ và bảo quản một cách an toàn,
bảo đảm giá trị pháp lý khi cần xác minh hoặc xử
lý những yêu cầu cụ thể của nhân dân. Thực tế
cho thấy không ít trường hợp người dân phải về
nhà riêng của lãnh đạo UBND xã để xin chữ ký và
xin dấu. Nâng cao tính chuyên nghiệp trong công
vụ của UBND xã, phường cần phải được coi là ưu
tiên trong bối cảnh đội ngũ cán bộ chính quyền ở
cơ sở còn nhiều hạn chế, bất cập.
GS, TS LÊ HỒNG
HẠNH
Viện trưởng Viện
khoa học
pháp lý - Bộ Tư
pháp
Về đầu trang
Ý kiến
góp ý của TS.Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa
ĐBSCL: Cần có chính sách kịp thời cho người
trồng lúa
Tôi cũng như đội ngũ các nhà khoa
học rất vui vì trong 3 dự thảo văn kiện trình
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, vấn đề nông
nghiệp, nông dân, nông thôn đã được quan tâm một
cách toàn diện, sâu sắc, hứa hẹn sẽ tạo ra những
thay đổi mang tính đột phá cho khu vực này.
Hiện, Nghị quyết 26 của Đảng về
tam nông đã được các địa phương triển khai quyết
liệt, với nhiều giải pháp đồng bộ. Theo tôi, để
nghị quyết đi vào cuộc sống, từng bước phát
triển sản xuất theo hướng hàng hóa, quy mô lớn,
tạo nền tảng để nâng cao chất lượng cuộc sống
cho người dân, cần đẩy mạnh mối liên kết vùng,
liên kết 4 nhà. Điều này càng có ý nghĩa lớn
trong sản xuất lúa gạo.
Để thực hiện tốt việc liên kết,
các địa phương cần quy hoạch vùng trồng cụ thể;
tùy từng vùng sinh thái, điều kiện thổ nhưỡng mà
có cơ cấu giống phù hợp. Các đơn vị nghiên cứu
khoa học cùng liên kết để nghiên cứu, chọn tạo
các giống cây trồng - vật nuôi mới và liên kết
với nông dân, doanh nghiệp để đưa thành quả khoa
học vào thực tiễn sản xuất. Nông dân thay vì làm
ăn manh mún, nhỏ lẻ thì cùng liên kết làm ăn
theo mô hình tổ hợp tác hoặc hợp tác xã. Các
doanh nghiệp liên kết cùng nông dân tạo vùng
nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm với giá hợp lý...
Nhưng để làm được điều này thì
chính sách cho người trồng lúa cũng phải được
ban hành một cách kịp thời, đúng thời điểm. Thực
tế, chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo thời gian
qua tuy rất thiết thực nhưng việc ban hành còn
mang tính chữa cháy nên nông dân chưa được hưởng
lợi nhiều. Chính sách cho người trồng lúa cần
dài hơi, bảo đảm giữ ổn định đất nông nghiệp,
bởi trồng lúa không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh
tế mà còn có nhiệm vụ chính trị là đảm bảo an
ninh lương thực. Nếu không có chính sách tốt,
nông dân sẽ bỏ ruộng, lúc đó nguy cơ mất an ninh
lương thực sẽ hiện hữu.
Về đầu trang
Ý kiến
góp ý của Ông Bùi Sỹ Tiếu, PCT T.Ư Hội Làm vườn
VN: Phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề an sinh xã
hội
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa X trình Đại hội
đại biểu toàn quốc của Đảng khóa XI đang thu hút
sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân và
đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết.
Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Bùi Sỹ
Tiếu, Phó chủ tịch Trung ương Hội Làm vườn Việt
Nam về dự thảo này. Ông Tiếu cho biết:
Dự thảo báo cáo chính trị đã đề
cập toàn diện đến các vấn đề: chính trị, kinh tế,
xã hội, an ninh quốc phòng,... Tôi đặc biệt quan
tâm đến vấn đề an sinh xã hội và muốn nêu mấy
vấn đề cơ bản sau:
Về an ninh lương thực, hiện chúng
ta có hơn 86 triệu dân và mỗi năm sản xuất được
khoảng 38 triệu tấn lương thực, xuất khẩu 5 - 6
triệu tấn gạo. Thời điểm này, chúng ta có thể dư
thừa lương thực để xuất khẩu, nhưng tôi muốn
chúng ta nhìn rộng hơn, khi dân số của ta lên
hơn trăm triệu người. Vì vậy, vấởn đề an ninh
lương thực cần đặt ra từ bây giờ.
Vấn đề giải quyết việc làm cho
nông dân cũng rất bức thiết. Mất 1ha đất nông
nghiệp phải lo việc làm cho 13 lao động, riêng
Đồng bằng sông Hồng lên tới 15 lao động. Đến
nay, nông dân cả nước bị thu tới 19 vạn hecta
đất, tương đương 2,5 triệu lao động mất việc làm.
Song song đỏ, sức ép càng lớn khi mỗi năm ta có
thêm 45 vạn lao động. Đây là bài toán rất khó
giải. Nếu không giải quyết được thì gánh nặng
trên các mặt an sinh xã hội sẽ vô cùng lớn. Vì
vậy chúng ta phải thay đổi tư duy sản xuất
truyền thống. Việc tìm loại cây, con có giá trị
và phù hợp với từng vùng là vô cùng quan trọng.
Bên cạnh đó, công tác đào tạo
nghề cho nông dân phải đa dạng. Nên quan tâm
phát triển nhiều loại hình nghề nghiệp, chăm lo
phát triển “mỗi làng một nghề”. Xuất khẩu lao
động cũng cần được chú trọng và thực hiện một
cách nghiêm túc, theo đó đào tạo lao động trên
cơ sở nhu cầu thực tế của các thị trường. Theo
tôi, 10 thanh niên tốt nghiệp THPT, chỉ nên có
1/3 theo học cao đẳng, đại học; 1/3 học nghề;
1/3 làm các công việc khác. Nếu tất cả theo học
đại học sẽ lại rơi vào tình trạng “thừa thầy
thiếu thợ”, lãng phí đào tạo.
Cuối cùng là vấn đề môi trường.
Hàng năm, nước ta sử dụng khoảng 20.000 tấn
thuốc bảo vệ thực vật; tình trạng ô nhiễm làng
nghề cũng rất đáng báo động vì hầu hết làng nghề
chưa có hệ thống xử lý nước thải.
Về đầu trang
Ý kiến
…Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt
Nam: Bảo đảm sự bình đẳng trong kinh doanh
Nếu chúng ta chấp nhận nền kinh
tế thị trường thì cạnh tranh được coi là động
lực của sự phát triển; không có cạnh tranh, nền
kinh tế sẽ rơi vào tình trạng trì trệ, không có
sức sống. Điều này đã được thực tiễn chứng minh
trong quá trình triển khai công cuộc đổi mới. Và
muốn có cạnh tranh lành mạnh, đúng luật pháp,
các tổ chức kinh tế cần được bình đẳng.
Lành mạnh hóa môi trường kinh
doanh
Nghiên cứu các dự thảo văn kiện
trình Đại hội lần thứ XI của Đảng, chúng tôi rất
phấn khởi khi thấy trong Dự thảo Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã ghi:
“Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật
đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh
tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển
lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”. Dự
thảo Báo cáo Chính trị viết: “Phát huy quyền tự
do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để
làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội.
Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị
trường đều được coi trọng, hợp tác, cạnh tranh
bình đẳng, lành mạnh và văn minh”. Dự thảo Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020
cũng đã 3 lần nhấn mạnh tinh thần cạnh tranh
bình đẳng.
Thế nhưng, cũng ngay trong các dự
thảo văn kiện vẫn thấy mệnh đề kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo. Thực tiễn cho thấy, một khi
nhấn mạnh vai trò chủ đạo của một thành phần
kinh tế đã đi đến xem nhẹ vai trò của các thành
phần kinh tế khác, cũng tức là công nhận sự bất
bình đẳng trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế; không có sự cạnh
tranh đúng nghĩa.
Khi kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo, doanh nghiệp nhà nước thường ỷ vào lợi
thế của mình, đương nhiên sẽ không có động lực
để nâng cao sức cạnh tranh, làm hạn chế việc
phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của đội
ngũ công nhân viên chức doanh nghiệp nhà nước.
Thực tế là không phải doanh
nghiệp nhà nước nào cũng gương mẫu trong sản
xuất, kinh doanh mà khá nhiều doanh nghiệp nhà
nước kinh doanh thua lỗ, Nhà nước phải lấy tiền
thuế của dân để ứng cứu, thậm chí một số doanh
nghiệp còn trở thành gánh nặng cho nền kinh tế
đất nước.
Xin nhấn mạnh rằng, làm sao có
thể cạnh tranh bình đẳng, nếu như có những doanh
nghiệp được ưu ái hơn doanh nghiệp khác, nếu như
doanh nghiệp tư nhân còn phải chịu sự vòi vĩnh,
sách nhiễu của cơ quan thuế, hải quan, quản lý
thị trường, quản lý giao thông và chi phí bôi
trơn làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh và
giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa?
Nếu như cần những “quả đấm mạnh”
cho nền kinh tế, có thể thành lập những tập đoàn
kinh tế ở một số ngành chủ chốt, nhưng phải là
những tập đoàn đa sở hữu, có các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế tham gia và kinh
doanh theo quy luật của kinh tế thị trường.
Tạo động lực cho kinh tế tư nhân
Hiện nay kinh tế tư nhân đã có
bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng
nhiều cho công cuộc xây dựng đất nước. Đặc biệt
là những năm gần đây, khu vực này đã đóng góp
gần 50% GDP, giải quyết việc làm cho trên 70%
lao động xã hội, trên 11% tổng thu ngân sách nhà
nước, tạo ra khối lượng lớn sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ. Chỉ tính riêng trong giai đoạn
2000-2008, vốn đăng ký của doanh nghiệp tư nhân
đã đạt 2.110 tỷ đồng, lớn hơn cả vốn FDI cùng kỳ;
vốn đăng ký bình quân tăng 61,5%. Đó là chưa kể
số vốn của gần 4 triệu hộ kinh doanh cá thể,
trong đó có khá nhiều hộ có quy mô vốn và lao
động lớn nhưng do nhiều nguyên nhân đã không
đăng ký lập doanh nghiệp.
Thế nhưng trong các dự thảo văn
kiện trình Đại hội lần thứ XI, vấn đề kinh tế tư
nhân chỉ được đề cập một cách mờ nhạt, chưa đánh
giá đúng mức vị trí, tầm quan trọng của kinh tế
tư nhân trong nền kinh tế nước ta trong thời kỳ
hiện nay cũng như trong những năm tới.
Chính vì vậy, xin đề nghị nhấn
mạnh hơn nữa vị trí của kinh tế tư nhân, nhất là
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ sản xuất,
các doanh nghiệp làng nghề. Đó là những tổ chức
sản xuất, kinh doanh đang và sẽ thu hút một phần
rất lớn lao động, nhất là ở khu vực nông thôn,
những nơi đang thiếu việc làm do đô thị hóa, mất
đất. Kinh tế thị trường phát triển, chắc chắn
các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân sẽ trở
thành động lực chủ yếu phát triển nền kinh tế.
Vì vậy, xin kiến nghị khẳng định trong văn kiện:
“Kinh tế tư nhân là động lực chủ yếu của nền
kinh tế. Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân là
một nhiệm vụ chiến lược. Cần xóa bỏ mọi kỳ thị,
phân biệt đối xử; tạo môi trường thuận lợi
khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh
không hạn chế về quy mô trong những lĩnh vực có
lợi cho quốc kế, dân sinh”.
Đồng thời, để tạo môi trường
thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, cần
đẩy mạnh cải cách hành chính. Ngoài việc tích
cực cắt giảm những thủ tục phiền hà, gây khó
khăn cho người dân và doanh nghiệp, điều cần làm
hiện nay là rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của
các cơ quan nhà nước, tức là xác định rõ sự
“phân vai” của 3 tác nhân trong kinh tế thị
trường: Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự.
Từ đó, xác định rõ Nhà nước cần làm những gì và
không nên hoặc không cần làm những gì mà nên
chuyển giao cho thị trường hoặc các tổ chức xã
hội dân sự thực hiện, như vậy sẽ đạt hiệu quả
kinh tế - xã hội cao hơn, tránh lãng phí, thất
thoát.
Cùng với đó là chấn chỉnh, làm
trong sạch đội ngũ công chức, kịp thời xử lý
những hành vi nhũng nhiễu, hạch sách người dân
và doanh nghiệp. Cuối cùng, cần thực hiện bước
đột phá trong cải cách tiền lương công chức. Đây
cũng là biện pháp chủ yếu để góp phần chống tham
nhũng.
Về đầu trang
Ý kiến
của Ông Vũ Thành Vĩnh, Chủ tịch MTTQ quận Hoàn
Kiếm: Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác Mặt trận Tổ quốc
Dự thảo Báo cáo chính trị có mục
nói về "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng", nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết TƯ
5 (khóa X). Tôi đề nghị cần xác định rõ việc đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác MTTQ,
vì đây là vấn đề rất quan trọng được đại hội
MTTQ các cấp vừa qua rất quan tâm. Thực tế cho
thấy, MTTQ muốn đổi mới nội dung, phương thức và
chất lượng hoạt động, trước hết phải đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng.
Bên cạnh đó, tôi xin đề nghị được
đảo mệnh đề "ý Đảng, lòng dân" mà trước đây
chúng ta hay nói và thực hiện thành "lòng dân, ý
Đảng". Bởi vì chỉ khi nào trong nghị quyết của
Đảng phản ánh cuộc sống nhân dân phong phú, thì
khi đó nghị quyết mới đi vào cuộc sống một cách
sinh động và hiệu quả. Đó là tiếng nói chân
thành, thiết tha từ lòng dân đối với Đảng. Thực
hiện đúng tinh thần ấy nhất định sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc sẽ được phát huy, vai trò
của MTTQ Việt Nam sẽ được nâng cao, sự đồng
thuận xã hội và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc
sẽ được nhân lên. Đây là nhân tố quyết định đưa
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đi vào cuộc sống.
Về đầu trang
Góp ý kiến vào
các văn kiện Đại hội XI của Đảng Tăng cường
kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng
Tôi nhất trí với dự thảo: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh
toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".
Trong phần 6 (nhỏ) có đoạn về kết quả công tác
kiểm tra giám sát được coi trọng chất lượng,
hiệu quả được nâng lên... nhưng tôi đề nghị đoạn
này làm rõ hơn nguyên nhân về vai trò lãnh đạo
của Đảng, rất đổi mới, sáng suốt cụ thể như tehé
nào để có được kết quả đó. Tôi cũng nhất trí với
cả phần B đã nêu nhiều hạn chế, khuyết điểm,
chứng tỏ bản lĩnh của Đảng. Điều này làm cho dân
càng yêu Đảng.
Trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đề nghị
nói thêm một số hạn chế, khuyết điểm nữa là
trong cả nước có không ít tổ chức cơ sở Đảng chỉ
xử lý nội bộ, không công khai kỷ luật Đảng cho
dân biết, bàn, kiểm tra nên làm giảm lòng tin
của dân.
Tại phần XII và mục 7 (nhỏ) đề nghị nêu thêm công tác kiểm
tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cần làm đúng tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: "lãnh đạo quên kiểm
tra là một sai lầm rát to (báo sự thật số ra
ngày
30/11/1948 ký tên XYZ". Tiếp đó Bác dạy: "Người
lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra mới đủ
kinh nghiệm và oai tín". Ngày 29/7/1964 trong
một bài nói chuyện, Bác kính yêu nhắc nhở: "các
cấp uỷ Đảng phải tăng cường công tác kiểm tra".
Vậy đề nghị Dự thảo nêu rõ toàn Đảng ta nhất là
tất cả các cấp từ chi uỷ trở lên đều phải làm
tốt công tác kiểm tra giám sát không khoán trắng
cho cán bộ kiểm tra, không xử lý nội bộ, mà
thẳng thắn công khai kỷ luật Đảng cho dân biết,
bàn, kiểm tra, giám sát vì công việc của Đảng
cũng là công viêc của dân. Vì càng công khai thì
dân càng thêm tin yêu Đảng. Bởi Đảng ta từ
3/2/1930 đến nay đã thực sự là Đảng vĩ đại của
nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta
không có lơi ích gì khác. Nên đề nghị dự thảo
nêu rõ trong nhiệm kỳ 5 năm 2005 - 2010 Đảng đã
phát hiện, xử lý kỷ luật Đảng nhiều vụ và có
đánh giá để tạo niềm tin của dân.
Tôi đã đọc kỹ kết luận của Dự thảo nêu trên: "Đất nước ta đã
vượt qua những khó khăn, thách thức tolớn và
đang vững bước đi lên...đến hết). Tôi tha thiết
đề nghị ghi thêm nội dung nữa đặc biệt quan
trọng mà kết luận chưa đề cập là: toàn đảng,
toàn dân, toàn quân quyết đoàn kết phấn đấu làm
đúng điều mong muốn cuối cùng trong di chúc
thiêng liêng viết ngày
10/5/1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nguyễn Cảnh
Đảng bộ thị trấn
Phúc Thọ, Hà Nội
Về đầu trang
Họp báo về Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Sáng ngày 10/1/2011 tại Trung tâm Hội nghị Quốc
gia Mỹ Đình - Hà Nội,
được sự đồng ý của Bộ Chính trị và Tiểu ban Tổ
chức phục vụ Đại hội XI của Đảng, Trung tâm báo
chí Đại hội XI tổ chức họp báo trong nước và
quốc tế về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Đảng Cộng sản Việt Nam.Đồng
chí Tô Huy Rứa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư
Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung
ương và đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung
ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Tổ chức
Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Văn
phòng Trung ương Đảng, Bộ Thông tin và Truyền
thông, Bộ Ngoại giao, Hội Nhà báo Việt Nam chủ
trì buổi họp báo. Tham dự buổi họp báo còn có
đại diện các ban, ngành, MTTQ Việt Nam, các đoàn
thể, đông đảo các phóng viên các cơ quan thông
tấn báo chí trong nước và ngoài quốc tế.
Đồng chí Nguyễn Bắc Son - Ủy viên Trung ương
Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương,
thành viên Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội XI
thay mặt các đồng chí chủ trì buổi họp báo thông
báo về Đại hội XI.
Được biết, tham dự Đại hội Đảng XI có 1.377 đại
biểu, đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên sinh
hoạt ở gần 54.000 tổ chức cơ sở đảng. Ngoài số
đại biểu chính thức, Đại hội còn mời các vị
nguyên là Tổng Bí thư, nguyên Chủ tịch nước,
nguyên Thủ tướng Chính phủ, nguyên Chủ tịch Quốc
hội, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư
Trung ương Đảng… đại diện Bà mẹ Việt Nam anh
hùng, đại diện nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, đại
diện thế hệ trẻ. Đại hội cũng mời các vị Đại sứ,
đại diện ngoại giao các nước, các tổ chức quốc
tế đến tham dự.
Chủ đề của Đại hội XI là “Tiếp tục nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy
sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt
Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại”.
Ban Chấp hành Trung ương khóa mới phấn đấu sẽ
tăng tỷ lệ trẻ, tỷ lệ nữ, tỷ lệ cán bộ người dân
tộc, cán bộ khoa học trong Ban chấp hành Trung
ương, đảm bảo có tính kế thừa, số mới không dưới
1/3 và có 3 độ tuổi.
Đại hội Đảng XI diễn ra từ ngày 12 đến 19/1 tại
Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Thủ đô Hà
Nội. Hơn 700 phóng viên trong nước và quốc tế sẽ
tham gia đưa tin.
Đại hội sẽ họp phiên trù bị ngày 11/1 để thông
qua chương trình, qui chế làm việc, bầu Đoàn chủ
tịch, đoàn Thư ký, Ban thẩm tra tư cách đại
biểu… Phiên chính thức sẽ họp từ ngày
12-19/1/2011. Tại đại hội chính thức, sẽ có một
số phiên thảo luận tổ và một số phiên thảo luận
tại Hội trường.
Các đồng chí chủ trì họp báo đã giải đáp các câu
hỏi của các phóng viên trong nước và quốc tế làm
rõ hơn chủ đề của Đại hội, công tác nhân sự,
chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đường lối
đối ngoại của Đảng ta, công tác chuẩn bị Đại
hội.
Phát biểu tại họp báo, đồng chí Tô Huy Rứa chào
mừng và cảm ơn tình cảm, sự quan tâm của các nhà
báo trong nước và quốc tế dành cho Đảng Cộng sản
Việt Nam và cho sự phát triển của đất nước Việt
Nam trong thời gian tới. Đồng chí nhấn mạnh: Đại
hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính
trị trọng đại của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Việt Nam, đồng chí Tô Huy Rứa mong muốn các cơ
quan báo chí và các nhà báo sẽ phối hợp chặt chẽ
với Trung tâm báo chí, các cơ quan chức năng của
Đảng và Nhà nước Việt Nam, đưa được nhiều thông
tin bổ ích, cần thiết, chính xác, kịp thời, sinh
động tới đông đảo công chúng trong cả nước và
bạn bè quốc tế.
Hoàng Quy
Về đầu trang
Danh sách Bộ Chính trị,
Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban kiểm tra TW, Chủ
nhiệm Ủy ban kiểm tra TW khoá XI
Chiều ngày 18-1, Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI họp Hội nghị lần thứ nhất, đã
bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy
ban kiểm tra TW, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra TW.

Tổng Bí thư: Đồng chí Nguyễn Phú
Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành TW
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí:

1.Đồng chí Trương Tấn Sang,
Thường trực Ban Bí thư; Uỷ viên Bộ Chính trị
khoá VIII, IX, X.

2. Đồng chí Phùng Quang Thanh,
Bộ trưởng Quốc Phòng; Ủy viên Bộ Chính trị khóa
X.

3. Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ
tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X.
4. Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng,
Phó thủ tướng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X.

5. Đồng chí Lê Hồng Anh , Bộ
trưởng Công an, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IX, X.
6. Đồng chí Lê Thanh Hải, Bí thư
Thành ủy TP HCM, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá X.

7. Đồng chí Tô Huy Rứa, Trưởng
ban Tuyên giáo Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị
khoá X.

8.Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Chủ
tịch Quốc hội, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII,
IX, X;
9. Đồng chí Phạm Quang Nghị, Bí
thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị khóa
X.

10. Đồng chí Trần Đại Quang, Thứ
trưởng Bộ Công an.

11. Đồng chí Tòng Thị Phóng, Phó
Chủ tịch Quốc hội.
12. Đồng chí Ngô Văn Dụ, Chánh
Văn phòng Trung ương Đảng.
13. Đồng chí Đinh Thế Huynh,
Tổng biên tập báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo
Việt Nam.

14. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Bộ
trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Ban Bí thư:
Bộ Chính trị sẽ cử 1 số đồng chí
trong Bộ Chính trị tham gia Ban Bí thư; Ban Chấp
hành TW bầu các đồng chí sau:
1. Đồng chí Ngô Xuân Lịch
2. Đồng chí Trương Hoà Bình
3. Đồng chí Hà Thị Khiết
4. Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân
Ban Chấp hành TW bầu 21 đồng chí
vào Ủy ban Kiểm tra TW và bầu đồng chí Ngô Văn
Dụ làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW khóa XI
Theo
Báo ĐTĐCSVN
Về đầu trang
Danh sách Ủy viên Chính
thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khóa XI
Sáng ngày 18/1, trong
phiên họp toàn thể tại Hội trường, Đại hội XI
Đảng Cộng sản Việt Nam đã công bố Danh sách
chính thức các đồng chí trúng cử vào Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI.
Sau đây là toàn bộ Danh sách.
DANH SÁCH
UỶ VIÊN CHÍNH THỨC
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XI
|
1. |
Hoàng Tuấn Anh |
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch |
|
2. |
Lê Hồng Anh |
UVBCT, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an
|
|
3. |
Lê Thị Thu Ba |
UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội |
|
4. |
Hà Ban |
Bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum |
|
5. |
Bùi Quang Bền |
Bí thư Tỉnh uỷ Kiên Giang |
|
6. |
Dương Thanh Bình |
Bí thư Tỉnh uỷ Cà Mau |
|
7. |
Nguyễn Hoà Bình |
Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ngãi |
|
8. |
Nguyễn Thái Bình |
UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban
Tôn giáo Chính phủ |
|
9. |
Nguyễn Thanh Bình |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh |
|
10. |
Nguyễn Văn Bình |
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
|
|
11. |
Phan Thanh Bình |
UVTWDK, Thành uỷ viên, Giám đốc Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh |
|
12. |
Trương Hoà Bình |
UVTWĐ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao |
|
13. |
Lương Ngọc Bính |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng
Bình |
|
14. |
Huỳnh Minh Chắc |
Bí thư Tỉnh uỷ Hậu Giang |
|
15. |
Lê Chiêm |
Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 5 - Bộ Quốc
phòng |
|
16. |
Đỗ Văn Chiến |
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND
tỉnh Tuyên Quang |
|
17. |
Hà Ngọc Chiến |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Cao
Bằng |
|
18. |
Võ Minh Chiến |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Sóc Trăng |
|
19. |
Mai Văn Chính |
UVTWDK, Bí thư Tỉnh uỷ Long An
|
|
20. |
Phạm Minh Chính |
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
|
|
21. |
Phạm Thị Hải Chuyền |
UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban
Kiểm tra Trung ương |
|
22. |
Nguyễn Thành Cung |
UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục
Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
|
|
23. |
Đinh Văn Cương |
UVTWĐ, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ
đạo Tây Bắc |
|
24. |
Hà Hùng Cường |
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp |
|
25. |
Lương Cường |
Trung tướng, Chính uỷ Quân khu 3 - Bộ Quốc
phòng |
|
26. |
Nguyễn Quốc Cường |
UVTWĐ, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam |
|
27. |
Nguyễn Xuân Cường |
Bí thư Tỉnh uỷ Bắc Kạn |
|
28. |
Nguyễn Thị Doan |
UVTWĐ, Phó Chủ tịch nước |
|
29. |
Ngô Văn Dụ |
BTTWĐ, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng |
|
30. |
Đào Ngọc Dung |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái |
|
31. |
Đinh Tiến Dũng |
Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình |
|
32. |
Mai Tiến Dũng |
Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hà
Nam |
|
33. |
Nguyễn Chí Dũng |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh
Thuận |
|
34. |
Nguyễn Tấn Dũng |
UVBCT, Thủ tướng Chính phủ |
|
35. |
Phan Xuân Dũng |
UVTWDK, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học -
Công nghệ và Môi trường của Quốc hội
|
|
36. |
Trần Trí Dũng |
Bí thư Tỉnh uỷ Trà Vinh |
|
37. |
Trịnh Đình Dũng |
UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Xây dựng |
|
38. |
Võ Văn Dũng |
UVTWDK, Bí thư Tỉnh uỷ
Bạc Liêu |
|
39. |
Mai Thế Dương |
UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung
ương |
|
40. |
Vũ Đức Đam |
UVTWDK, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh |
|
41. |
Trần Đơn |
Thiếu tướng, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu
trưởng Quân khu 7 - Bộ Quốc phòng |
|
42. |
Lê Hữu Đức |
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng |
|
43. |
Phạm Xuân Đương |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Thái
Nguyên |
|
44. |
Lò Văn Giàng |
Bí thư Tỉnh uỷ Lai Châu |
|
45. |
Nguyễn Văn Giàu |
UVTWĐ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam |
|
46. |
Nguyễn Thị Thu Hà |
Phó Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh |
|
47. |
Phạm Hồng Hà |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Nam
Định |
|
48. |
Hoàng Trung Hải |
UVTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ
|
|
49. |
Lê Thanh Hải |
UVBCT, Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí
Minh |
|
50. |
Nguyễn Đức Hải |
Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam |
|
51. |
Trần Lưu Hải |
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương |
|
52. |
Trần Văn Hằng |
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung
ương |
|
53. |
Phùng Quốc Hiển |
UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách của
Quốc hội |
|
54. |
Nguyễn Văn Hiến |
UVTWĐ, Phó Đô đốc Hải quân, Thứ trưởng Bộ
Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân chủng Hải
quân |
|
55. |
Đặng Văn Hiếu |
UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an |
|
56. |
Dương Đức Hoà |
Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 2 - Bộ Quốc
phòng |
|
57. |
Nguyễn Thị Thanh Hoà |
UVTWĐ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam |
|
58. |
Phương Minh Hoà |
UVTWĐ, Trung tướng, Tư lệnh Quân chủng
Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng |
|
59. |
Bùi Thị Minh Hoài |
UVTWDK, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông
dân Việt Nam |
|
60. |
Vũ Huy Hoàng |
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Công thương |
|
61. |
Vũ Ngọc Hoàng |
UVTWĐ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung
ương |
|
62. |
Vương Đình Huệ |
UVTWĐ, Tổng Kiểm toán Nhà nước |
|
63. |
Nguyễn Sinh Hùng |
UVBCT, Phó Thủ tướng Thường trực Chính
phủ |
|
64. |
Phạm Xuân Hùng |
UVTWĐ, Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu
trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam |
|
65. |
Trần Quốc Huy |
Bí thư Tỉnh uỷ Đắc Nông |
|
66. |
Đinh Thế Huynh |
UVTWĐ, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân
|
|
67. |
Nguyễn Tấn Hưng |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Bình Phước |
|
68. |
Thuận Hữu |
PhóTổng Biên tập Báo Nhân Dân |
|
69. |
Nguyễn Tuấn Khanh |
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương
|
|
70. |
Nguyễn Doãn Khánh |
Bí thư Tỉnh uỷ Phú Thọ |
|
71. |
Trương Quang Khánh |
UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc
phòng |
|
72. |
Hà Thị Khiết |
BTTWĐ, Trưởng Ban Dân vận Trung ương
|
|
73. |
Phùng Thanh Kiểm |
Bí thư Tỉnh uỷ Lạng Sơn |
|
74. |
Vũ Trọng Kim |
UVTWĐ, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Uỷ ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
|
|
75. |
Tô Lâm |
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
|
|
76. |
Ngô Xuân Lịch |
UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục
Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam |
|
77. |
Đào Tấn Lộc |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Phú Yên |
|
78. |
Phạm Vũ Luận |
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
|
|
79. |
Uông Chu Lưu |
UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội |
|
80. |
Trương Thị Mai |
UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của
Quốc hội |
|
81. |
Trần Thanh Mẫn |
UVTWDK, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND
Thành phố Cần Thơ |
|
82. |
Châu Văn Minh |
Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam |
|
83. |
Nguyễn Tuấn Minh |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu |
|
84. |
Phạm Bình Minh |
UVTWĐ, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại
giao |
|
85. |
Trần Bình Minh |
Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam
|
|
86. |
Trần Văn Minh |
Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND Thành
phố Đà Nẵng |
|
87. |
Bùi Văn Nam |
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an |
|
88. |
Nguyễn Phương Nam |
Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu
trưởng QK9 - Bộ Quốc phòng |
|
89. |
Nguyễn Văn Nên |
Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh |
|
90. |
Nguyễn Thị Kim Ngân |
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội |
|
91. |
Phạm Quang Nghị |
UVBCT, Bí thư Thành uỷ Hà Nội |
|
92. |
Trương Quang Nghĩa |
Bí thư Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung
ương |
|
93. |
Phạm Quý Ngọ |
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an, Thủ
trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công
an |
|
94. |
Hồ Mẫu Ngoạt |
Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng |
|
95. |
Trần Thế Ngọc |
Bí thư Tỉnh uỷ Tiền Giang |
|
96. |
Nguyễn Thiện Nhân |
UVTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ |
|
97. |
Hà Sơn Nhin |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai |
|
98. |
Mai Văn Ninh |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thanh
Hoá |
|
99. |
Vũ Văn Ninh |
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Tài chính |
|
100. |
Nguyễn Thị Nương |
UVTWĐ, Phó Trưởng ban Dân
vận Trung ương |
|
101. |
Nguyễn Đình Phách |
UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung
ương |
|
102. |
Cao Đức Phát |
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn |
|
103. |
Mai Quang Phấn |
UVTWĐ, Trung tướng, Chính uỷ Quân khu 4 -
Bộ Quốc phòng |
|
104. |
Nguyễn Thành Phong |
Bí thư Tỉnh uỷ Bến Tre |
|
105. |
Tòng Thị Phóng |
BTTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội |
|
106. |
Lê Hữu Phúc |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Quảng Trị |
|
107. |
Nguyễn Hạnh Phúc |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái
Bình |
|
108. |
Nguyễn Xuân Phúc |
UVTWĐ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng
Chính phủ |
|
109. |
Võ Văn Phuông |
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Tây Ninh |
|
110. |
Giàng Seo Phử |
UVTWĐ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân
tộc |
|
111. |
Ksor Phước |
UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc
hội |
|
112. |
Lê Thanh Quang |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Khánh
Hoà |
|
113. |
Nguyễn Minh Quang |
UVTWĐ, Bí thư Đảng uỷ Khối các cơ quan
Trung ương |
|
114. |
Trần Đại Quang |
UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an |
|
115. |
Hoàng Bình Quân |
UVTWĐ, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương |
|
116. |
Lê Hoàng Quân |
UVTWĐ, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND
Thành phố Hồ Chí Minh |
|
117. |
Nguyễn Quân |
Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công
nghệ |
|
118. |
Nguyễn Tấn Quyên |
UVTWĐ, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND
thành phố Cần Thơ |
|
119. |
Bùi Thanh Quyến |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Hải Dương |
|
120. |
Nguyễn Văn Quynh |
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương |
|
121. |
Tô Huy Rứa |
UVBCT, BTTWĐ, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung
ương |
|
122. |
Trương Tấn Sang |
Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí
thư |
|
123. |
Phan Văn Sáu |
Bí thư Tỉnh uỷ An Giang |
|
124. |
Nguyễn Bắc Son |
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung
ương |
|
125. |
Hồ Xuân Sơn |
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao |
|
126. |
Huỳnh Ngọc Sơn |
UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội |
|
127. |
Nguyễn Thanh Sơn |
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND
tỉnh Kiên Giang |
|
128. |
Thào Xuân Sùng |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Sơn La |
|
129. |
Lê Vĩnh Tân |
Bí thư Tỉnh uỷ Đồng Tháp |
|
130. |
Tạ Ngọc Tấn |
UVTWĐ, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản |
|
131. |
Ngô Thị Doãn Thanh |
Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND Thành
phố Hà Nội |
|
132. |
Nguyễn Bá Thanh |
UVTWĐ, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND
thành phố Đà Nẵng |
|
133. |
Phùng Quang Thanh |
UVBCT, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng |
|
134. |
Nguyễn Văn Thành |
Bí thư Thành uỷ Hải Phòng |
|
135. |
Trần Đình Thành |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Đồng Nai |
|
136. |
Nguyễn Thế Thảo |
UVTWĐ, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND
Thành phố Hà Nội |
|
137. |
Đinh La Thăng |
UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập
đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
|
|
138. |
Nguyễn Xuân Thắng |
Phó Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam |
|
139. |
Sơn Minh Thắng |
Tỉnh uỷ viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trà
Vinh |
|
140. |
Đào Trọng Thi |
UVTWĐ, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá Giáo dục - Thanh
thiếu niên nhi đồng của Quốc hội |
|
141. |
Nguyễn Ngọc Thiện |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa
Thiên Huế |
|
142. |
Nguyễn Văn Thiện |
Bí thư Tỉnh uỷ Bình Định |
|
143. |
Đặng Thị Ngọc Thịnh |
UVTWDK, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Long |
|
144. |
Nguyễn Văn Thông |
Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh
Hưng Yên |
|
145. |
Niê Thuật |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Đắk Lắk |
|
146. |
Võ Văn Thưởng |
UVTWDK, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh |
|
147. |
Huỳnh Văn Tí |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
Bình Thuận |
|
148. |
Nguyễn Thị Kim Tiến |
UVTWDK, Thứ trưởng Bộ Y tế |
|
149. |
Nguyễn Xuân Tiến |
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch
HĐND tỉnh Lâm Đồng |
|
150. |
Bùi Văn Tỉnh |
Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hoà
Bình |
|
151. |
Phan Đình Trạc |
Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An |
|
152. |
Huỳnh Phong Tranh |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ Lâm Đồng |
|
153. |
Lò Mai Trinh |
Bí thư Tỉnh uỷ Điện Biên |
|
154. |
Nguyễn Phú Trọng |
UVBCT, Chủ tịch Quốc hội |
|
155. |
Đào Việt Trung |
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao |
|
156. |
Mai Thế Trung |
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh uỷ Bình Dương |
|
157. |
Nguyễn Thế Trung |
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Dân
vận Trung ương |
|
158. |
Võ Tiến Trung |
Trung tướng, Giám đốc Học viện Quốc phòng
- Bộ Quốc phòng |
|
159. |
Mai Trực |
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
|
|
160. |
Bế Xuân Trường |
Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 1 - Bộ Quốc
phòng |
|
161. |
Trần Cẩm Tú |
UVTWDK, Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương |
|
162. |
Nông Quốc Tuấn |
Bí thư Tỉnh uỷ Bắc Giang |
|
163. |
Đặng Ngọc Tùng |
UVTWĐ, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam |
|
164. |
Trần Văn Tuý |
Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh
Bắc Ninh |
|
165. |
Đỗ Bá Tỵ |
UVTWĐ, Trung tướng, Tổng Tham mưu trưởng
QĐNDVN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng |
|
166. |
Nguyễn Hữu Vạn |
Bí thư Tỉnh uỷ Lào Cai |
|
167. |
Nguyễn Sáng Vang |
Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên
Quang |
|
168. |
Nguyễn Hoàng Việt |
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương |
|
169. |
Võ Trọng Việt |
Trung tướng, Chính uỷ Bộ đội Biên phòng -
Bộ Quốc phòng |
|
170. |
Bùi Quang Vinh |
UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư |
|
171. |
Triệu Tài Vinh |
UVTWDK, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang |
|
172. |
Nguyễn Chí Vịnh |
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng |
|
173. |
Phạm Văn Vọng |
Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc |
|
174. |
Lê Quý Vương |
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an |
|
175. |
Trần Quốc Vượng |
UVTWĐ, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân
tối cao |
Theo Báo ĐTĐCSVN
Về đầu trang
Danh sách Ủy viên
Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam khóa XI
Sáng ngày 18/1, trong
phiên họp toàn thể tại Hội trường, Đại hội XI
Đảng Cộng sản Việt Nam đã công bố Danh sách Uỷ
viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam khoá XI. Sau đây là toàn bộ
Danh sách.
DANH SÁCH
UỶ VIÊN DỰ
KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XI
|
STT |
Họ và tên |
Chức vụ, đơn vị công tác hiện nay |
|
1. |
Chu Ngọc Anh |
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ |
|
2. |
Nguyễn Xuân Anh |
Ủy viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Bí thư
Quận uỷ Liên Chiểu, Đà Nẵng |
|
3. |
Tất Thành Cang |
Thành uỷ viên, Bí thư Quận uỷ, Chủ tịch
UBND quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh
|
|
4. |
Nguyễn Tân Cương |
Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn
1, Bộ Quốc phòng |
|
5. |
Bùi Văn Cường |
Phó Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai |
|
6. |
Nguyễn Phú Cường |
Tỉnh uỷ viên, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ
tịch UBND Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng
Nai |
|
7. |
Nguyễn Công Định |
Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch
HĐND huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre |
|
8. |
Trần Hồng Hà |
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
|
|
9. |
Ngô Đông Hải |
Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Hoài Ân,
Bình Định |
|
10. |
Điểu Kré |
UVTWDK, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí
thư Thị uỷ Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông |
|
11. |
Hầu A Lềnh |
UVTWDK, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí
thư Huyện uỷ Sa Pa, Lào Cai |
|
12. |
Bh'Riu Liếc |
Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Tây Giang,
tỉnh Quảng Nam |
|
13. |
Nguyễn Hồng Lĩnh |
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Bà Rịa - Vũng
Tàu |
|
14. |
Lâm Văn Mẫn |
Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Châu Thành,
tỉnh Sóc Trăng |
|
15. |
Phạm Hoài Nam |
Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng
vùng 4, Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng |
|
16. |
Nguyễn Thanh Nghị |
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc
thành phố Hồ Chí Minh |
|
17. |
Phùng Xuân Nhạ |
Thành uỷ viên, Phó Giám đốc Đại học quốc
gia Hà Nội |
|
18. |
Trần Lưu Quang |
Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Trảng Bàng,
tỉnh Tây Ninh |
|
19. |
Nguyễn Thị Thanh |
Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban
Dân vận Tỉnh uỷ Ninh Bình |
|
20. |
Trần Sỹ Thanh |
Phó Bí thư Tỉnh uỷ Đắk Lắk |
|
21. |
Nguyễn Văn Thể |
Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư
Huyện uỷ Tân Hồng, Đồng Tháp |
|
22. |
Nguyễn Khắc Toàn |
Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư
Thành uỷ Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà |
|
23. |
Nguyễn Thị Tuyến |
Thành uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Chương Mỹ,
Thành phố Hà Nội; Đại biểu QH khoá XII
|
|
24. |
Nguyễn Đắc Vinh |
Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
|
|
25. |
Võ Thị Ánh Xuân |
Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị
uỷ Tân Châu, tỉnh An Giang |
Theo Báo ĐTĐCSVN
Về đầu trang
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
thành công tốt đẹp
Sáng 19/1, sau 9 ngày làm việc nghiêm túc, khẩn
trương, dân chủ, với ý thức trách nhiệm cao
trước Đảng và nhân dân, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng đã hoàn thành toàn bộ
chương trình đề ra và thành công tốt đẹp. Đồng
chí Nguyễn Phú Trọng được Đại hội bầu giữ chức
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI.

Đại hội đã thảo luận sôi nổi, dân chủ và nhất trí thông qua
các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến
lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước
ta: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2011 - 2020, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm
2011 - 2015 và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương lần thứ XI gồm 175 ủy
viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết. Tại Hội
nghị Trung ương lần thứ nhất, Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy
viên, Ban Bí thư gồm 4 ủy viên, bầu Ủy ban Kiểm
tra Trung ương gồm 21 đồng chí.
Ban Chấp hành Trung ương đã bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng giữ
chức Tổng Bí thư của Đảng. Đồng chí Ngô Văn Dụ
được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung
ương.
Phát biểu tại phiên bế mạc, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
đã chúc mừng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các
đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra
Trung ương khóa XI. Đồng chí bày tỏ tin tưởng
rằng, thành công của Đại hội sẽ mở ra một thời
kỳ phát triển mới của đất nước ta trên con đường
xây dựng một nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
Phát biểu bế mạc Đại hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng
định: Các văn kiện được thông qua tại Đại hội
lần này là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực
tiễn 20 năm thực hiện Cương lĩnh, 10 năm thực
hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
(2001 - 2010) và 5 năm thực hiện phương hướng,
nhiệm vụ kinh tế - xã hội (2006 - 2010), là sự
kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn
Đảng, toàn dân ta; là sự tiếp tục khẳng định,
hoàn thiện và phát triển quan điểm, đường lối
của Đảng ta theo tư tưởng đổi mới; xác định mục
tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tộc ta
trong giai đoạn phát triển mới đầy triển vọng và
không ít thách thức của cách mạng nước ta từ nay
đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Sự thống nhất ý chí của Đại hội biểu thị quyết tâm sắt đá của
Đảng ta, trong những năm tới, lãnh đạo toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện
bằng được mục tiêu "Tiếp tục nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại".
Theo Tổng Bí thư, để thực hiện mục tiêu cao cả đó, Đại hội đã
thảo luận và thông qua những quvết sách trên tất
cả các lĩnh vực cơ bản và trọng yếu của sự
nghiệp phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc những năm tới. Những quyết sách trên giữ
vai trò vô cùng quan trọng, có giá trị định
hướng và chỉ đạo sâu sắc trong toàn bộ quá trình
triển khai và tổ chức thực hiện trong thực tiễn
phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất
nước 5 năm, 10 năm và 20 năm tới.
Đại hội đã tập trung thảo luận và thông qua những nhiệm vụ to
lớn nhằm tiếp tục chỉnh đốn, xây dựng và tự đổi
mới Đảng với mục tiêu nâng cao bản lĩnh chính
trị, năng lực trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách
mạng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững
mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân
đối với Đảng. Đại hội nhấn mạnh đến sự đoàn kết,
thống nhất ý chí của toàn Đảng trên cơ sở Cương
lĩnh và đường lối, quan điểm của Đảng, đến sự
gắn bó mật thiết với giai cấp, với nhân dân lao
động và dân tộc như là một phẩm chất cốt lõi
nhất thể hiện bản chất và sức sống của Đảng. Để
đảm bảo sự trong sạch và vững mạnh cũng như uy
tín, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị,
Đại hội nhận thức sâu sắc và thể hiện quyết tâm
đẩy mạnh và có những giải pháp nâng cao hiệu quả
cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng, quan
liêu, lãng phí, sự thoái hoá, biến chất của cán
bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Đại hội
đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh trong các buổi
thảo luận, trong các văn kiện nhiệm vụ to lớn
cần kiên trì chỉ đạo việc thực thi và phát huy
dân chủ trong Đảng, trong hệ thống chính trị và
trong toàn xã hội, đảm bảo thực hiện bằng được
tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh : "Quyền hạn
và lực lượng đều ở nơi dân". Đại hội khẳng định
rằng, trong những năm tới, nhiệm vụ xây dựng
Đảng là nhân tố quyết định để giữ vững vai trò,
trách nhiệm lãnh đạo của Đảng, để Đảng thực sự
xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân
lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của dân tộc.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, thành công của Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tạo
nên sức mạnh cổ vũ to lớn toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta vượt lên mọi khó khăn, thách thức,
tranh thủ cơ hội mới, phấn đấu vì mục tiêu đến
năm 2020 đưa nước ta cơ bản thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Ngay sau Đại hội,
tất cả các tổ chức đảng cần tổ chức tốt việc
nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết, các
văn kiện Đại hội, tuyên truyền sâu rộng trong
toàn Đảng, toàn dân về kết quả Đại hội; khẩn
trương xây dựng, triển khai chương trình, kế
hoạch hành động, đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, đồng bào
ta ở trong nước cũng như ở ngoài nước, phát huy
cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự
cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra
sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết của
Đại hội, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,
phát triển đất nước nhanh, bền vững, quyết tâm
thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi
lên chủ nghĩa xã hội./.
Theo Báo ĐTĐCSVN
Về đầu trang
|