|
Đề
cương tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam
Hướng dẫn số 07/HD-MTTW-BTT, ngày 20 tháng 01
năm 2010 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương
MTTQ Việt Nam về công tác tuyên truyền các ngày
lễ lớn trong năm 2010 của hệ thống Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam
Kỷ
niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng
(3/2/1930-3/2/2010): Đảng với sự nghiệp phát
triển đất nước
Xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
Kỷ
niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng: Nhiều công
trình "Mừng Đảng- Mừng Xuân"
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam
I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI NĂM 1930 MỞ RA
BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1.
Bối cảnh lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
a.
Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
-
Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.Các nước tư bản đế
quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động
trong nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các
dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế
quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước
trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc
thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay
gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.
-
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917, chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận đã trở
thành hiện thực, mở ra một thời đại mới - thời
đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng
dân tộc. Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách
mạng Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng trong
việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.
-
Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào
tháng 3-1919 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối
với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan
trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin
và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
b.
Bối cảnh trong nước
*
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm
lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở
Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành
thuộc địa nửa phong kiến.
-
Về chính trị: thực dân Pháp áp đặt chính sách
cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và
đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn;
chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam
Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị
riêng. Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa
chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính
trị đối với nhân dân Việt Nam.
-
Về kinh tế: thực dân Pháp thực hiện chính sách
bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền;
đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ
sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến
cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.
-
Về văn hoá: thực dân Pháp thực hiện chính sách
giáo dục thực dân và dung túng, duy trì các hủ
tục lạc hậu.
*
Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã
hội Việt Nam.
-
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính
sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân, xã hội
Việt Nam diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc.
Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng
cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong
nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá,
một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét
chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp
dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Giai cấp
nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội
Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc
lột nặng nề. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của
giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng
căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm
ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh
giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Giai
cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số
xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực
tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân, bị đế
quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Giai cấp tư sản
Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh
tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị
chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc
và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư
sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những
người làm nghề tự do v.v. đời sống bấp bênh, dễ
bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu
nước, căm thù đế quốc thực dân, có khả năng tiếp
thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền
vào.
-
Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc
này đều mang thân phận người dân mất nước và ở
những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức,
bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài
mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông
dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy
sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày
càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu
thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực
dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam
là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra
hai yêu cầu: một là, phải đánh đuổi thực dân
Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do
cho nhân dân; hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến,
giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là
ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc,
giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
*
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến
và tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
-
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong
trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân
Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không
mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương (phong
trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai
cấp phong kiến lãnh đạo) đã chấm dứt ở cuối thế
kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng
(1896). Sang đầu thế kỷ XX khuynh hướng này
không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong
trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên
Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng
thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo
khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế
tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học
lãnh đạo cũng bị thất bại.
-
Các phong trào yêu nước trong khoảng thời gian
từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối
truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta
được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do
thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực
lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần
lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong
cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
2.
Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
-
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng
về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương
thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì
ngày 5-6-1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành
(tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra
đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới.
Người đã đi qua nhiều nước của Châu Âu, Châu
Phi, Châu Mỹ và đã phát hiện ra chân lý: chủ
nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội
nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao
động ở chính quốc cũng như ở các thuộc địa.
-
Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Pari và
năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
-
Tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt
Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc, Người
gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.
-
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương
về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin và từ
tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước
đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
-
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920),
Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập
Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập)
và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở
thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó
là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những
Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý
luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa
Mác-Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan
trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam:
muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
-
Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với
phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc
tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương
hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị
điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
-
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào
công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn
bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Người nhấn mạnh: cách mạng muốn thành
công phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo;
đảng phải có hệ tư tưởng tiên tiến, cách mạng và
khoa học dẫn đường, đó là hệ tư tưởng Mác-Lênin.
-
Người đã viết nhiều bài báo, nhiều tham luận tại
các đại hội, hội nghị quốc tế, viết tác phẩm
“Bản án chế độ thực dân Pháp” và tổ chức ra các
tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh,
Tiền phong, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin
vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội
Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác
phẩm “Đường cách mệnh” (tập hợp các bài giảng
của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị
của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Đó là sự
chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định,
muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng
lãnh đạo, Đảng có vững, cách mạng mới thành công
cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới
chạy.
-
Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho
việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Người lập ra
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925), tổ
chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu,
Trung Quốc và gửi đi học tại trường Đại học
Phương Đông (ở Liên Xô cũ) và trường Lục quân
Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho
cách mạng Việt Nam. Nhờ hoạt động không mệt mỏi
của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí
cách mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập
Đảng ngày càng chín muồi.
-
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam
trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự
cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng
Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ
phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc
đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất
Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-1 đến
ngày 7-2-1930. Hội nghị đã quyết định hợp nhất 3
tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam
Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn)
thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận
và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều
lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó
do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp
nhất Đảng thông qua là sự vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách
mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi
của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và
Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng
chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.
-
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý
nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Chánh
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình
tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam được thông
qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ
trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng.
-
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
đã quyết nghị lấy ngày 3-2 dương lịch hằng năm
làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
3.
Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
-
Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản ở
Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất - Đảng
Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị
đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng,
chính trị và hành động của phong trào cách mạng
cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội.
-
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu
của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp,
là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp
công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối
với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng
đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong
lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son
chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc
ta.
-
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp
chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ
tịch Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho
sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết
hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc
lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
-
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc
ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính
trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là
giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng
vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam
vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong
trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình
trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về
giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ
XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển
mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này
là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự
đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung
tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách
mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này.
Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương
hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam
trong suốt 80 năm qua.
-
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ
trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của
phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được
sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm
nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng
Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp
đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
II. 80 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG
THÀNH-CHẶNG
ĐƯỜNG VINH QUANG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1.
Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 -
1945)
-
Đặc điểm của thời kỳ này là cách mạng Việt Nam
đã có đội tiên phong lãnh đạo là Đảng Cộng sản
với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, đưa cách mạng
nước ta phát triển theo xu thế của thời đại đã
được mở ra từ cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng
Mười Nga năm 1917.
-
Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành
chính quyền đã diễn ra với 3 cao trào cách mạng
có ý nghĩa như 3 cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho
cuộc Cách mạng Tháng Tám giành toàn bộ chính
quyền về tay nhân dân: Cao trào cách mạng 1930 -
1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ - Tĩnh, cao
trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ (1936 -
1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới
Cách mạng Tháng Tám 1945 (1939 - 1945). Đó là
quá trình đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn
gian khổ với những hy sinh to lớn của Đảng và
dân tộc ta. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng,
Đảng ta đã trưởng thành và phát triển về mọi mặt:
chính trị, tư tưởng, tổ chức, về năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu. Đường lối cách mạng giải
phóng dân tộc, chống đế quốc và chống phong kiến
không ngừng được bổ sung và làm rõ hơn, đặt
nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc lên
hàng đầu, vận dụng đúng đắn và có sự phát triển
sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin về cách
mạng thuộc địa.
-
Thực tiễn 15 năm đấu tranh cách mạng giành chính
quyền, Đảng và nhân dân ta đã đặt ra và giải
quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ
cơ bản trong đường lối chiến lược và sách lược,
bảo đảm cho phong trào cách mạng phát triển đúng
hướng, phát huy sức mạnh của cả dân tộc, đó là:
+
Quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống
phong kiến, giữa mục tiêu dân tộc và mục tiêu
dân chủ, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai
cấp.
+
Quan hệ giữa các mục tiêu chiến lược lâu dài và
mục tiêu cụ thể trước mắt, giữa giành thắng lợi
từng bước, khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi
nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn.
+
Quan hệ giữa chiến lược và sách lược, phương
pháp cách mạng, sử dụng đúng đắn các hình thức,
phương pháp đấu tranh phù hợp với từng điều kiện
lịch sử cụ thể.
+
Quan hệ giữa Đảng và nhân dân, giữa xây dựng
đảng và xây dựng phát triển lực lượng cách mạng
của quần chúng được tập hợp trong Mặt trận Dân
tộc thống nhất.
+
Quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời
đại, giữa xây dựng lực lượng cách mạng, phát huy
sức mạnh bên trong, nêu cao ý chí tự lực, tự
cường, độc lập, tự chủ và sáng tạo với tranh thủ
những điều kiện và thời cơ thuận lợi do tình
hình quốc tế đem lại.
+
Quan hệ giữa chủ động chớp thời cơ và đẩy lùi
nguy cơ, tổ chức và sử dụng các lực lượng cách
mạng…
-
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp và
phát xít Nhật, xóa bỏ chế độ thực dân và phong
kiến, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc
- kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.
Cách mạng Tháng Tám dẫn đến sự ra đời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở
Châu Á. Đó là sự kiện quan trọng bậc nhất trong
lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Đó
cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa
Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến,
thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế
kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Do sự
lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do
sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và
ngoài mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng
Tám đã thắng lợi. Người nhấn mạnh: Chẳng những
giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể
tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị
áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này
là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các
dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới
15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm
chính quyền toàn quốc.
2.
Thời kỳ bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng
Tháng Tám, tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975)
-
Những năm 1945 - 1946, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh lãnh đạo toàn dân vượt qua những khó khăn,
thách thức nặng nề, chống thù trong, giặc ngoài,
vừa kháng chiến vừa kiến quốc: xây dựng và củng
cố vững chắc chính quyền nhân dân; bầu cử Quốc
hội (6/1/1946); xây dựng Hiến pháp dân chủ đầu
tiên (9/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới,
đời sống mới của nhân dân; chống giặc đói, giặc
dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức kháng chiến chống
thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ với sự
ủng hộ và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn
áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính
quyền và thành quả Cách mạng Tháng Tám; thực
hành sách lược khôn khéo, lúc thì tạm hòa hoãn
với Tưởng để đánh thực dân Pháp, lúc thì hoà với
Pháp để đuổi Tưởng, thực hiện nhân nhượng có
nguyên tắc để triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong
hàng ngũ kẻ thù, đưa cách mạng vượt qua những
thử thách hiểm nghèo. Chúng ta đã chủ động chuẩn
bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc
chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm
vi cả nước. Thành công nổi bật của hơn 1 năm xây
dựng chính quyền non trẻ là đã tăng cường được
sức mạnh của cách mạng để có thể tự bảo vệ khi
chưa có sự giúp đỡ trực tiếp từ bên ngoài.
-
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một
lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ
Chi Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với
quyết tâm: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất
định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.
Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện,
trường kỳ kháng chiến; vừa kiến quốc vừa kháng
chiến dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh
thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế,
Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại
các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà
đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu ngày
7/5/1954. Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện
Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm
1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp
ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực
dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền
Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm
hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
-
Từ năm 1954 đến năm 1975, Đảng ta lãnh đạo nhân
dân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách
mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền
Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Đây là đặc điểm mang tính đặc thù của cách mạng
Việt Nam, cùng với mục tiêu độc lập dân tộc, mục
tiêu xã hội chủ nghĩa được đặt ra trực tiếp.
+
Đế quốc Mỹ phá hoại hiệp định Gơnevơ, hất chân
thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam
thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của
chúng. Dân tộc ta lại phải đương đầu với chủ
nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Đảng ta đã
lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, bảo
vệ nền độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc,
thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân được
nâng lên tầm cao khoa học và nghệ thuật. Đương
đầu với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới,
chúng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu
tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt
động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy,
tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng,
thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự,
chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy cao
độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách
mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc và sức mạnh thời đại, quyết tâm giải phóng
miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đảng
đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các
chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ,
giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm
chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn
toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của
nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước là một trong những trang chói lọi nhất của
lịch sử dân tộc và là một sự kiện có tầm quốc tế
và có tính chất thời đại sâu sắc.
+
Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc trong
điều kiện hai miền thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với
nhau, trong điều kiện từ một nước nông nghiệp
lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đòi hỏi
Đảng ta phải vận dụng sáng tạo lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh
nghiệm các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta tập trung giải quyết tốt các mối
quan hệ cơ bản: giữa tiến hành chiến tranh cách
mạng với xây dựng chủ nghĩa xã hội; giữa hậu
phương lớn với tiền tuyến lớn; giữa thực hiện
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
giữa quy luật chiến tranh và quy luật xây dựng
phát triển kinh tế; giữa đẩy mạnh chiến tranh
cách mạng ở nước ta với bảo vệ hòa bình thế giới;
giữa lợi ích dân tộc với thực hiện nghĩa vụ quốc
tế…
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền
Bắc đã thu được những thành tựu quan trọng. Vừa
sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người,
sức của cho tiền tuyến, miền Bắc đã nhanh chóng
khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
bảo đảm quốc phòng an ninh, đánh thắng hai cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; xây dựng
hậu phương vững mạnh, trở thành căn cứ địa cách
mạng của cả nước, bảo đảm mọi mặt cho tiền tuyến
đánh thắng; mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ
sự đồng tình và ủng hộ của bè bạn trên thế giới;
tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống
Mỹ cứu nước; tạo những cơ sở vật chất và những
kinh nghiệm quý báu trong sự vận dụng và phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam sau này.
3.
Thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa
trên cả nước, thực hiện công cuộc đổi mới đất
nước từ 1975 đến nay
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với hai
nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ
này bao gồm hai giai đoạn chủ yếu:
-
Từ 1975 đến 1986:
+
Sau chiến tranh, đất nước ta gặp muôn vàn khó
khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi
phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh
chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam,
bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc
gia.
-
Đảng đã tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật
chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành
cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.
Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng
trong thời kỳ mới, việc duy trì lâu dài mô hình,
cơ chế tập trung bao cấp không còn phù hợp và đã
bộc lộ những hạn chế, nhược điểm. Trong việc
hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã
hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm
khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một
trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ,
khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu
cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
-
Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta
đã tổng kết sáng kiến từ thực tiễn của nhân dân,
tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới, thể hiện
qua các mốc sau: Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 6, khoá IV (tháng 8/1979); Chỉ thị
100-CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư về khoán
sản phẩm trong nông nghiệp; Quyết định 25/CP
ngày 21/1/1981 của Chính phủ về đổi mới quản lý
kinh tế quốc doanh; Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ 8, khoá V (tháng 6/1985) thừa nhận
sản xuất hàng hoá và những quy luật của sản xuất
hàng hoá; Kết luận của Bộ Chính trị (tháng
9/1986) về 3 quan điểm kinh tế trong tình hình
mới. Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa
ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra
bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
-
Từ 1986 đến nay:
+
Trước bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa
thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội
VII của Đảng (tháng 6/1991) khẳng định tiếp tục
đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với
những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan
điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng
định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động của Đảng.
+
Từ đó đến nay, Đảng ta tiếp tục phát triển tư
duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan
điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng và
chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung
và phát triển ngày càng hoàn thiện.
+
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua hơn hai mươi năm
đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng
lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục
phát triển. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội (1996); vượt qua khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực (1997-1998); khắc phục có
hiệu quả ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và
suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay; thực hiện
các Kết luận của Bộ Chính trị, nghị quyết của
Quốc hội và Chính phủ, bước đầu thực hiện được
mục tiêu: kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng
ở mức hợp lý; chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế. Đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình
quân đầu người năm 2008 đạt trên 1000 USD, vượt
qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển. Hệ thống
chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được
củng cố và tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định,
an ninh, quốc phòng được giữ vững. Vai trò và vị
thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng
nâng cao.
III. NHỮNG THẮNG LỢI VĨ ĐẠI CỦA NHÂN DÂN VIỆT
NAM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG SUỐT 80 NĂM QUA VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH
NGHIỆM
1.
Những thành tựu vĩ đại
80
năm xây dựng và trưởng thành, lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
vượt qua muôn ngàn khó khăn, thử thách, làm nên
những thành tựu vĩ đại, đó là:
Thứ nhất:
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và
việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam)
đã xoá bỏ chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai:
Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt
giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng
chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống
nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của
nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thứ ba:
Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, từng bước đưa
đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Với
những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc
địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc
lập tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ
nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế
ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế
giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở
thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu,
đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
2.
Những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt
Nam
Một là:
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là:
Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt
là liên minh vững chắc giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Ba là:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với Nhà nước và hệ thống chính trị, xây
dựng Nhà nước cách mạng thật sự của dân, do dân,
vì dân.
Bốn là:
Nêu cao chủ nghĩa quốc tế trong sáng, kết hợp
sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.
Năm là:
Chú trọng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị,
tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng.
3.
Một số kinh nghiệm
trong công tác xây dựng Đảng
Là
Đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt
Nam trong suốt 80 năm qua, Đảng ta đã rút ra
những kinh nghiệm quý báu trong công tác xây
dựng Đảng sau đây:
-
Thường xuyên tự đổi mới, chỉnh đốn và không
ngừng nâng cao tầm tư tưởng và trí tuệ để đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt phương châm
nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây
dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là
nền tảng tinh thần của xã hội.
-
Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, không đa nguyên, đa đảng.
-
Đảng phải được xây dựng vững mạnh về chính trị,
tư tưởng và tổ chức, đổi mới công tác xây dựng
Đảng, phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên
tắc, tập trung dân chủ và các nguyên tắc khác,
giữ vững kỷ cương, kỷ luật.
-
Chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng
viên có đủ bản lĩnh, chính trị, phẩm chất trí
tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn.
-
Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.
-
Đảng phải tăng cường và nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.
-
Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh
đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà nước, bảo
đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng.
* *
*
Chủ
tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lãnh tụ vĩ đại của
dân tộc, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng
Cộng sản Việt Nam quang vinh. Thực tiễn 80 năm
qua đã khẳng định: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thật
sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và toàn dân tộc Việt Nam.
Kỷ
niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước ta
có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh
đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng
lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong
lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hoà bình
và tiến bộ của nhân loại.
Tự
hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân
Việt Nam ở trong nước và nước ngoài càng thấy rõ
hơn trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng,
xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh,
tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội
nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.
Chủ
tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại của cách
mạng Việt Nam !
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm
!
BAN
TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG
Về đầu trang
UỶ
BAN TRUNG ƯƠNG
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM
Độc lập
- Tự do - Hạnh phúc
BAN THƯỜNG TRỰC
Số:
07/HD-MTTW-BTT
Hà Nội,
ngày 20 tháng 01 năm 2010
HƯỚNG
DẪN
Công tác tuyên truyền các ngày lễ lớn
trong năm 2010
của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Căn cứ
Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 20/3/2009 của Bộ
Chính trị về tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn
trong hai năm 2009 - 2010;
Căn cứ
Hướng dẫn số 91 - HD/BTGTW ngày 04/12/2009 của
Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác tuyên
truyền, giáo dục các ngày lễ lớn trong năm 2010;
Quán
triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội
lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Ban
Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam hướng dẫn công tác tuyên truyền các
ngày lễ lớn trong năm 2010 của hệ thống Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam như sau:
I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU.
- Thông qua công tác tuyên truyền
để góp phần giáo dục lịch sử, truyền thống yêu
nước và cách mạng của dân tộc, phát huy chủ
nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường,
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Tạo
không khí phấn khởi và sự đồng thuận xã hội, cổ
vũ động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham
gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua
yêu nước, chung sức, chung lòng thực hiện các
giải pháp duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm
an sinh xã hội; thực hiện và triển khai các
chương trình hành động của Nghị quyết Đại hội
lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X, thi đua
lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XI của
Đảng.
- Các
hoạt động tuyên truyền, giáo dục cần được tổ
chức chu đáo, thiết thực với nhiều hình thức đa
dạng, phong phú, có trọng tâm, trọng điểm và có
sức lan toả rộng, đồng thời bảo đảm tiết kiệm,
tránh lãng phí, phô trương hình thức.
II
- NHỮNG NỘI DUNG TRỌNG TÂM TUYÊN TRUYỀN ỨNG VỚI
NHỮNG SỰ KIỆN, NGÀY KỶ NIỆM LỚN CỦA DÂN TỘC
TRONG NĂM 2010.
1.
Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam (03/02/1930 - 03/02/2010), mừng Xuân Canh Dần.
- Tuyên
truyền về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
thành quả cách mạng Việt Nam 80 năm qua cùng với
chặng đường lịch sử vẻ vang gần 80 năm của Mặt
trận dân tộc thống nhất Việt Nam; khẳng định nền
tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh và quyết tâm chính trị của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện nhiệm
vụ phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ
nghĩa.
- Tuyên
truyền kết quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp
lớn của công tác xây dựng Đảng theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội lần thứ X, nghị quyết các hội
nghị Trung ương (khóa X); kết quả thực hiện Cuộc
vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” năm 2009 và phương hướng, nhiệm vụ
năm 2010 .
- Tuyên
truyền hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
các cấp về phát huy dân chủ, tham gia xây dựng
Đảng, chính quyền. Tuyên truyền các hoạt động
của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và
các tổ chức thành viên kỷ niệm 80 năm Ngày thành
lập Đảng gắn với hoạt động mừng Xuân Canh Dần
với tinh thần an toàn, tiết kiệm, giữ gìn phong
tục, tập quán tốt đẹp, phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các
hoạt động chăm lo các gia đình chính sách, người
nghèo trong dịp Tết Nguyên đán.
2.
Kỷ niệm Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3
âm lịch, năm 2010).
- Tuyên
truyền, giáo dục truyền thống lịch sử của dân
tộc ta trong quá trình dựng và giữ nước, bồi đắp
lòng yêu nước, đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn
quả nhớ người trồng cây"; phát huy ý chí tự lực,
tự cường; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao
động, sản xuất; ý thức cố kết cộng đồng và
truyền thống tốt đẹp của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
- Cổ vũ
các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt
Nam ở nước ngoài hướng về cội nguồn dân tộc bằng
những hành động cụ thể, thiết thực, chung sức,
đồng lòng xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
3.
Kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền
Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 -
30/4/2010).
- Tuyên
truyền về vị trí, tầm vóc vĩ đại, giá trị lịch
sử to lớn của sự kiện chiến thắng đế quốc Mỹ xâm
lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của
dân tộc và lịch sử phong trào cách mạng vô sản
thế giới.
- Tuyên
truyền những thành tựu của công cuộc tái thiết
đất nước sau chiến tranh, của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Bài học về phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào công cuộc
đổi mới đất nước.
- Tuyên
truyền về kết quả thực hiện các chế độ, chính
sách; các hoạt động đền ơn đáp nghĩa đối với các
thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công
trong kháng chiến, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam
anh hùng. Giáo dục, nâng cao nhận thức và trách
nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về
chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
4.
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
(19/5/1890 -19/5/2010), 20 năm Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) công
nhận Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc,
Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”(1990 - 2010).
- Tuyên
truyền về cuộc đời, tấm gương đạo đức cách mạng
và cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối
với dân tộc, đất nước, cách mạng Việt Nam và
cách mạng vô sản thế giới. Tình cảm của nhân dân
Việt Nam và thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Đấu tranh bác bỏ các luận điệu xuyên tạc
của các thế lực phản động về thân thế, sự nghiệp
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
-
Tuyên truyền tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Dân tộc
Thống nhất Việt Nam,
ý nghĩa, giá trị lý luận và thực tiễn của tư
tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước giai đoạn hiện nay.
-
Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm gắn với việc
thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh"; biểu dương những tập
thể và cá nhân điển hình trong cuộc vận động.
- Ca ngợi cuộc đời và sự nghiệp
vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hoá
kiệt xuất, anh hùng giải phóng dân tộc, người
thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
5.
Kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 -
19/8/2010) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 -02/9/2010).
- Tuyên
truyền về ý nghĩa lịch sử và những thành tựu to
lớn của nước ta qua các giai đoạn Cách mạng suốt
65 năm qua; về chặng đường vẻ vang gần 80 năm
qua của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam gắn
với sự nghiệp cách mạng của đất nước; những bài
học về xây dựng và tập hợp khối đại đoàn kết
toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Tuyên
truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm tham gia
xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân; tuyên truyền,
giáo dục nâng cao kiến thức pháp luật và giáo
dục ý thức chấp hành Hiến pháp, pháp luật cho
mọi người dân; giáo dục tinh thần phát huy dân
chủ đồng thời với thực hiện nghiêm chỉnh những
quy định về kỷ cương, pháp luật trong các tầng
lớp nhân dân.
6.
Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (1010 -
2010).
-
Tuyên truyền, giáo dục tình cảm và đạo lý uống
nước nhớ nguồn của người Việt Nam đối với các
thế hệ cha ông đã có công dựng nước và giữ nước.
-
Tuyên truyền giáo dục truyền thống lịch sử,
nghìn năm văn hiến và cách mạng của dân tộc.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu xây dựng
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh
- Tuyên truyền về kết quả các
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp vận động
các tầng lớp nhân dân thực hiện phong trào thi
đua yêu nước đặc biệt hướng về 1.000 năm Thăng
Long - Hà Nội do Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam phát động.
7. Kỷ niệm 80 năm Ngày thành
lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930 -
14/10/2010).
-
Tuyên truyền quá trình 80 năm xây dựng và phát
triển của Hội Nông dân Việt Nam, những đóng góp
của Hội đối với tiến trình chung của cách mạng
Việt Nam gắn với
lịch sử, truyền thống vẻ vang của
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt
Nam trong 80 năm qua.
-
Tuyên truyền vai trò, nhiệm vụ của giai cấp nông
dân và của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế.
-
Tuyên truyền về kết quả phát huy vai trò là tổ
chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành
động hàng năm và chương trình hành động của Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong
nhiệm kỳ 2009 - 2014.
8.
Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2010).
- Tuyên truyền lịch sử và quá
trình phát triển của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam 80 năm qua; những đóng góp của các cấp Hội
và các tầng lớp phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc gắn
với lịch sử, truyền thống vẻ vang Mặt trận
Dân tộc Thống nhất Việt Nam trong
80 năm qua.
-
Tuyên truyền về vai trò, nhiệm vụ của lực lượng
phụ nữ Việt Nam và của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
-
Tuyên
truyền về kết quả phát huy vai trò là tổ chức
thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực
hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động
hàng năm và chương trình hành động của Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong nhiệm kỳ
2009 - 2014.
9. Kỷ niệm 80 năm Ngày thành
lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam
(18/11/1930 -
18/11/2010). (các
hoạt động kỷ niệm có hướng dẫn riêng)
- Tuyên truyền về lịch sử, truyền thống vẻ vang của Mặt
trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
gắn với những kết quả to lớn của nhiệm vụ xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy
sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong
quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,
ở địa phương, cơ sở.
- Tuyên
truyền, giáo dục bài học lớn về đại đoàn kết
toàn dân tộc, các tầng lớp xã hội, các dân tộc,
các tôn giáo trên cơ sở củng cố khối liên minh
công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng,
tư tưởng Hồ Chí Minh về “đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”;
về vai trò, vị trí, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam
trong giai đoạn cách mạng của nước ta hiện nay.
- Tuyên truyền kết quả thực hiện các phong trào thi đua
yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận các cấp
chủ trì, đặc biệt là cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư"
và cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; về kết
quả các cấp Mặt trận tham gia công tác chuẩn bị
đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ
XI của Đảng; phát huy dân chủ, xây dựng sự đồng
thuận xã hội trong quá trình tham gia xây dựng
Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.
-
Tuyên truyền về kết quả triển khai và thực hiện
Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, về nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường công tác tổ
chức cán bộ, đổi mới nội dung và phương thức
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam; Ngày hội
Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư năm 2010.
10.
Kỷ niệm 70 năm Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa
(23/11/1940 - 23/11/2010).
-
Tuyên truyền về vị
trí, vai trò và ý nghĩa to lớn của cuộc khởi
nghĩa Nam kỳ trong thành quả vĩ đại của cách
mạng Việt Nam.
- Tuyên
truyền những thành tựu 70 năm phát huy truyền
thống đấu tranh cách mạng và xây dựng quê hương
của Đảng bộ và nhân dân các địa phương tham gia
khởi nghĩa Nam Kỳ.
11.
Kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 -
20/12/2010).
-
Tuyên truyền về
lịch sử,
truyền thống vẻ vang và
vị
trí, vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam trong kháng chiến bảo vệ Tổ
quốc gắn với những thành quả vĩ đại của cách
mạng Việt Nam, của Mặt trận dân tộc thống nhất
Việt Nam.
- Tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày thành lập
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam Việt Nam gắn với kỷ niệm 100 năm ngày sinh
của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ (10/7/1910 -
10/7/2010).
III
- MỘT SỐ KHẨU HIỆU TUYÊN TRUYỀN:
1. Mừng
đất nước đổi mới, mừng Đảng quang vinh, mừng
Xuân Canh Dần!
2.
Nhiệt liệt chào mừng 80 năm Ngày thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2010)!
3. "Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành
công, đại thành công"!
4. Kiên
định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN !
5.
Nhiệt liệt chào mừng 80 năm Ngày thành lập Mặt
trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam
(18/11/1930-18/11/2010)!
6. Tinh
thần Ngày chiến thắng 30/4 và Ngày Quốc tế lao
động 1/5 bất diệt !
7.
Người người thi đua, ngành ngành thi đua làm
nhiều việc tốt vì một nước Việt Nam giàu mạnh,
dân chủ, công bằng và văn minh !
8. Toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thi đua thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm
2010 !
9.
Nhiệt liệt chào mừng 65 năm Cách mạng Tháng Tám
và Quốc khánh 2/9 !
10.
Nhiệt liệt chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng!
11.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua lập thành
tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng !
12.
Nhiệt liệt chào mừng đại hội đảng bộ các cấp
tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng !
13.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực
hiện thắng lợi Cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” !
14.
Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương
Bác Hồ vĩ đại!
15. Chủ
tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc,
Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam!
16.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực
hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X, lập thành tích chào mừng Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng!
17. Tất
cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh!
18.
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !
19.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm
!
20. Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp
của chúng ta !
21.
Nhiệt liệt chào mừng 80 năm Ngày thành lập Hội
Nông dân Việt Nam!
22.
Nhiệt liệt chào mừng 80 năm Ngày thành lập Hội
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam!
23.
Nhiệt liệt chào mừng 50 năm Ngày thành lập Mặt
trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam!
IV.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Trên
cơ sở hướng dẫn này, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương căn cứ vào các mốc thời gian kỷ
niệm, phối hợp với Ban Tuyên giáo các tỉnh uỷ,
thành uỷ, các ban, ngành, các tổ chức thành viên
xây dựng kế hoạch của công tác tuyên truyền các
ngày lễ lớn trong năm 2010 tại địa phương, đơn
vị mình.
Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các
cấp và các tổ chức thành viên phối hợp với các
cơ quan thông tấn, báo chí của Trung ương và địa
phương tổ chức các hình thức tuyên truyền đa
dạng, phong phú, có tác dụng giáo dục sâu rộng
trong các tầng lớp nhân dân về các ngày lễ lớn
của đất nước.
Trong quá trình tổ chức thực hiện,
thường xuyên báo cáo kết quả về Ban Thường trực
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (qua
Ban Tuyên giáo, Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, 46 Tràng Thi-Hà Nội; Điện thoại:
04.38257447; 04.39289210; 04.39287401) để kịp
thời theo dõi, tổng hợp kết quả chung.
Nơi nhận:
TM.
BAN THƯỜNG TRỰC
- Ban TT UBMTTQVN (để b/c);
PHÓ CHỦ TỊCH
- Ban TGTW, Ban Dân vận TW;
- Uỷ ban MTTQ Việt Nam các tỉnh,
thành phố;
(Đã ký)
- Các tổ chức thành viên của MT ở
TW;
- Các Ban, đơn vị trực thuộc;
- Lưu VT, BTG.
Lê Bá Trình
Về đầu trang
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do
dân, vì dân
Khi mới thành lập (2-1930), Cương
lĩnh của Ðảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mục
tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc "Làm cho nước
Nam hoàn toàn độc lập", thiết lập chính quyền
công nông "để đi tới xã hội cộng sản". Mục tiêu
giành độc lập dân tộc và giành chính quyền về
tay nhân dân thống nhất với nhau trong sự nghiệp
cách mạng giải phóng giai cấp và dân tộc do Ðảng
Cộng sản lãnh đạo.
Trải qua 15 năm đấu tranh đầy hy
sinh, gian khổ, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo
của Ðảng, đã tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 thành công. Thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến,
thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở
ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội. Một Nhà nước cách
mạng kiểu mới đã ra đời ở Việt Nam - Nhà nước
của dân, do dân và vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh,
người sáng lập, lãnh đạo Ðảng Cộng sản Việt Nam
và cũng là người sáng lập Nhà nước Cộng hòa Dân
chủ Việt Nam, đã nêu rõ mục đích và bản chất của
Nhà nước Việt Nam mới không phải là cơ quan cai
trị dân, mà là để phục vụ nhân dân. Chúng ta
phải hiểu rằng, "Các cơ quan của Chính phủ từ
toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân,
nghĩa là để gánh việc chung cho dân". Việc gì có
lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại
cho dân ta phải hết sức tránh.
Những năm tháng đầu tiên chính
quyền Nhà nước đã tổ chức lực lượng toàn dân
tham gia sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây
dựng chế độ mới, phát triển kinh tế, văn hóa,
xây dựng đời sống mới, chăm lo đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân, vì hạnh phúc của nhân
dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa lớn
lao của thành quả giành độc lập, giành chính
quyền, nhưng "nếu nước độc lập mà dân không
hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có
nghĩa lý gì". Người cũng đã sớm đề ra những chủ
trương để loại trừ những thói xấu, sự hư hỏng
của một số cán bộ trong bộ máy chính quyền như
trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ,
kiêu ngạo, vác mặt làm quan cách mạng làm cho
dân khinh, dân ghét.
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa đã tổ chức, động viên sức mạnh toàn dân tộc,
hoàn thành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược, giải phóng hoàn toàn
miền bắc và đưa miền bắc tiến lên chủ nghĩa xã
hội với những thành quả to lớn, tỏ rõ sức mạnh
của chế độ và Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn
thành xuất sắc nghĩa vụ của hậu phương lớn miền
bắc đối với tiền tuyến lớn miền nam. Trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với xây
dựng, củng cố Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền
bắc, Ðảng lãnh đạo xây dựng Mặt trận Dân tộc
Giải phóng và chính quyền cách mạng ở vùng giải
phóng miền nam, xây dựng Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, góp phần xứng
đáng đưa cuộc kháng chiến giành độc lập, thống
nhất đến toàn thắng.
Sau ngày đất nước thống nhất
(30-4-1975), Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam tổ chức công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên cả nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI Ðảng Cộng sản Việt Nam (12-1986)
đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có
đổi mới chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và
phương thức hoạt động, quản lý của Nhà nước phù
hợp cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý mới, quán
triệt bài học lấy dân làm gốc.
Gần 25 năm thực hiện thắng lợi
công cuộc đổi mới do Ðảng khởi xướng và lãnh đạo,
Nhà nước đã được xây dựng và củng cố vững mạnh
gắn với xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ
thống chính trị. Ngày càng làm rõ và thực hiện
tốt hơn vai trò, chức năng quản lý nhà nước về
kinh tế, xã hội, xây dựng và thực hiện có hiệu
quả chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, phát triển văn hóa, chăm lo cải thiện rõ
rệt đời sống của nhân dân; thực hiện tốt nhiệm
vụ quốc phòng, an ninh, chiến lược bảo vệ Tổ
quốc và đẩy mạnh quan hệ và hội nhập kinh tế
quốc tế; không ngừng hoàn thiện hệ thống chính
sách, pháp luật, tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ công chức theo hướng xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Ðảng Cộng sản.
Thành quả lớn và có ý nghĩa sâu
sắc trong công cuộc đổi mới là Nhà nước đã chăm
lo quản lý và phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Ðã đưa đất nước ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội (1996), vượt qua
khủng hoảng tài chính, kinh tế ở khu vực
(1997-1998) và đang thành công trong khắc phục
ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái
kinh tế toàn cầu từ năm 2008. Cuộc sống đã khẳng
định vai trò to lớn của Nhà nước Việt Nam trong
quản lý, điều hành nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Từ thành tựu to lớn về phát triển
kinh tế, Nhà nước chú trọng thực hiện tốt hơn
các chính sách xã hội. Bảo đảm an sinh xã hội là
một trong những ưu tiên hàng đầu được thực hiện
trong hai năm vừa qua chứng tỏ tính ưu việt của
Nhà nước ta. Chúng ta đã giảm tỷ lệ hộ đói nghèo
năm 1993 là 58% xuống còn 12,3% năm 2009. Nhà
nước thực hiện có hiệu quả Chương trình 135 từ
năm 1998, hỗ trợ hơn 1.700 xã nghèo xây dựng cơ
sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm để phát
triển kinh tế, thoát nghèo. Từ năm 2004, thực
hiện Chương trình 134 hỗ trợ trực tiếp các hộ
nghèo về đất canh tác, đất và nhà ở, nước sạch.
Hiện nay đang thực hiện chương trình 30a xóa
nghèo bền vững cho 62 huyện nghèo nhất. Liên Hợp
quốc và các nước đánh giá Việt Nam là một nước
xóa đói, giảm nghèo thành công, thực hiện tốt 8
mục tiêu thiên niên kỷ Liên Hợp quốc đề ra năm
2000. Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng nhận
định rằng: Chỉ có chính quyền của dân, do dân,
vì dân mới có thể xóa đói, giảm nghèo thành công
như Việt Nam.
Cũng cần thấy rằng, trong bối
cảnh khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu,
Nhà nước ta đã tỏ rõ bản lĩnh, năng lực tổ chức,
quản lý năng động, linh hoạt nên đã giữ được
tăng trưởng khá trong khi nhiều nước và nền kinh
tế đang còn suy giảm; ổn định kinh tế vĩ mô và
bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo tốt đời sống các
tầng lớp nhân dân. Các chính sách xã hội, cứu
trợ xã hội được thực hiện tốt hơn. Chính quyền
các cấp phối hợp các tổ chức mặt trận, đoàn thể
trong hệ thống chính trị hướng dẫn nhân dân,
nhất là các hộ, các vùng, địa phương nghèo với
sự hỗ trợ của Nhà nước tự vươn lên để thoát
nghèo. Cứu trợ, hỗ trợ chứ không phải ban phát,
làm sao để những người nghèo, hộ nghèo không thụ
động, ỷ lại mà phải biết chủ động phát triển
kinh tế để thoát nghèo. Biết động viên sức dân
để làm lợi cho dân như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
Trên cơ sở những thành tựu về xây
dựng Nhà nước và những gì Nhà nước đã làm được
và chưa làm được suốt 65 năm qua, Nhà nước còn
phải tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện để
thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Cần tập trung thực hiện tốt hơn
nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện dân chủ
từ cơ sở, mọi công việc, chính quyền cần bàn bạc
với dân phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, sáng
kiến của nhân dân. Ðổi mới thể chế bầu cử để
nhân dân bầu ra những đại biểu của mình thật sự
có đức, có tài, thật sự vì dân, vì quê hương,
đất nước. Chính quyền phải thật sự tôn trọng
quyền làm chủ của nhân dân. Chính sách, chủ
trương, biện pháp nào mà dân cho là không đúng,
không phù hợp thì cùng với nhân dân thảo luận để
sửa đổi. Ðương nhiên, dân chủ phải gắn liền với
kỷ cương, kỷ luật, pháp luật, với trách nhiệm,
nghĩa vụ công dân; dân chủ phải có lãnh đạo,
lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, bao gồm hoàn thiện
hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy chính quyền
nhà nước, chức năng, nhiệm vụ và đội ngũ công
chức. Pháp luật là thể chế hóa Cương lĩnh, đường
lối, chủ trương Nghị quyết của Ðảng, đồng thời
thể hiện ý chí, lợi ích và quyền lực của nhân
dân. Quốc hội là do dân bầu ra, phải thực hiện
tốt hơn chức năng lập pháp, quyết định những vấn
đề lớn của đất nước và giám sát tối cao, vì cuộc
sống của nhân dân. Chính phủ và chính quyền các
cấp hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan
hành pháp, đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc
gia bao gồm thể chế hành chính, tổ chức bộ máy,
đội ngũ công chức và tài chính công. Chú trọng
xây dựng bộ máy tư pháp và cải cách tư pháp. Nắm
vững quan điểm của Ðảng: quyền lực Nhà nước là
thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thực hiện chức
năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước vững mạnh, đồng thời kiên
quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí và những
tiêu cực khác.
Nhà nước chăm lo xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm lực lượng nòng
cốt để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an
ninh, thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc giữ
vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đổi
mới; bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Làm
thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn của các thế lực
thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để
gây mất ổn định và phá hoại sự nghiệp xây dựng
đất nước và cuộc sống của nhân dân.
Nhà nước tiếp tục chăm lo nâng
cao đời sống nhân dân. Ngay sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Chính phủ đã có chương trình và tổ chức
các chiến dịch diệt "giặc đói", "giặc dốt". Dù
phải trải qua kháng chiến lâu dài, Nhà nước đã
nỗ lực phấn đấu để ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành. Trong công cuộc đổi mới, Nhà
nước đã đặc biệt coi trọng việc không ngừng cải
thiện đời sống của nhân dân. Ðến năm 2009, hơn
94% số người Việt Nam biết chữ và cũng tỷ lệ như
vậy những người trong độ tuổi đi học được đến
trường học; tuổi thọ trung bình của người Việt
Nam đạt 72,8 tuổi. Chất lượng cuộc sống của nhân
dân chính là một thước đo hiệu lực và hiệu quả
quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyền XHCN
Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
PGS, TS NGUYỄN TRỌNG PHÚC
(Học viện Chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh)
(Theo báo Nhân dân)
Về đầu trang
Kỷ niệm
80 năm Ngày thành lập Đảng: Nhiều công trình "Mừng
Đảng- Mừng Xuân"
Thi đua lập thành tích chào mừng 80 năm Ngày
thành lập Đảng (3/2/1930- 3/2/2010), nhiều địa
phương khởi công xây dựng và khánh thành các
công trình "Mừng Đảng- Mừng Xuân".
*Ngày 22/1, tại
478 đường Điện Biên Phủ- Quận Thanh Khê đã khánh
thành trung tâm thương mại (TTTM) VDA Đà Nẵng và
khai trương siêu thị Co,opMart Đà Nẵng. TTTM VDA
Đà Nẵng được xây dựng đồng bộ gồm Khối trung tâm
thương mại, Khu nhà phố thương mại và khối cao
ốc văn phòng dịch vụ với tổng mức đầu tư trên
265 tỷ đồng. Nòng cốt cho hoạt động của TTTM VDA
Đà Nẵng là Co.opMart Đà Nẵng với diện tích trên
13.000m2, kinh doanh trên 30.000 mặt hàng, trong
đó 90% là hàng sản xuất tại Việt Nam thuộc các
ngành hàng thực phẩm công nghệ, đông lạnh; thực
phẩm tươi sống, chế biến nấu chín; hoá mỹ phẩm;
thời trang dệt may; đồ dùng gia đình, hàng gia
dụng... Sự ra đời của TTTM và Co.op Mart Đà Nẵng
sẽ góp phần mở rộng nhu cầu trao đổi hàng hoá,
tiêu thụ sản phẩm từ địa bàn Đà Nẵng đến các
tỉnh, thành trong cả nước, đồng thời góp phần
bình ổn giá cả thị trường, mang lại một mô hình
kinh doanh văn minh, hiện đại phục vụ nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân và góp phần giải quyết
việc làm của trên 200 lao động tại địa phương.
Nhân dịp khai
trương, Co.opMart Đà Nẵng ủng hộ Quỹ " Vì người
nghèo" của quận Thanh Khê trên 100 triệu đồng và
trao tặng 10 suất học bổng trị giá 40 triệu đồng
cho sinh viên Đại học Đà Nẵng. TTTM VDA Đà Nẵng
ủng hộ xây dựng Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng 300
triệu đồng.
*Ngày 22/1, Tổng
Công ty Thương mại Hà Nội khởi công công trình
Trung tâm thương mại – dịch vụ cao cấp Hapro tại
số 11B Cát Linh, phường Quốc Tử Giám, Đống Đa,
Hà Nội.
Công trình có
tổng vốn đầu tư 293,5 tỷ đồng; được xây dựng
trên tổng diện tích 2.933 m2 trong đó diện tích
xây dựng 1.630 m2; diện tích sàn 17.720 m2. Tổng
chiều dài của công trình 53,5 mét, cao 14 tầng
cùng với 2 tầng hầm, 1 tầng kỹ thuật và 1 tầng
tum, thuộc nhóm công trình cấp I. Thời gian thực
hiện dự án trong 2 năm.
Tổng Công ty
Thương mại Hà Nội cũng vừa hoàn thành và đưa vào
sử dụng hai dự án lớn: Tòa nhà 172 Ngọc Khánh và
102 Thái Thịnh. Hiện tại, Tổng công ty tiếp tục
phát triển hạ tầng thương mại 21 dự án đang
triển khai và chuẩn bị đầu tư.
*Ngày 22-1, Bộ
Giao thông Vận tải, Tổng Công ty Cảng Hàng không
miền Nam phối hợp cùng với tỉnh Đắk Lắk tổ chức
khởi công xây dựng Nhà ga hành khách Cảng hàng
không Buôn Ma Thuột. Đây là công trình nằm trong
quy hoạch “ Phát triển Cảng hàng không Buôn Ma
Thuột giai đoạn 2015-2025”.
Nhà ga mới này có
tổng diện tích sàn xây dựng 7.175 mét vuông, với
các trang thiết bị hiện đại như các nhà ga của
các nước tiên tiến trên thế giới gồm nhà chờ, hệ
thống quản lý, thông tin liên lạc, băng chuyền,
cứu hoả, các công trình phụ trợ khác phục vụ tốt
yêu cầu cho hành khách đến và đi. Theo thiết kế,
Nhà ga có công suất 1 triệu hành khách/ năm, đáp
ứng 4 chuyến bay trong giờ cao điểm, với các
loại máy bay từ A 321 trở xuống. Công trình do
Công ty CPG, PAE, ADCC (của Singapore và Hoa Kỳ)
thiết kế và Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển
Nhà Hà Nội trúng thầu xây dựng, với tổng vốn đầu
tư trên 250 tỷ đồng. Theo kế hoạch, Nhà ga mới
này sẽ đưa vào sử dụng từ quý bốn năm 2011, thay
thế nhà ga cũ xây dựng từ năm 1999.
*Cũng trong ngày
22/1, tại xã Vị Bình, huyện Vị Thủy ( Hậu Giang),
Công ty Cấp thóat nước-Công trình đô thị tỉnh
Hậu Giang đã khởi công xây dựng hệ thống dẫn và
trạm thu nước ngọt để cung cấp nguồn nước cho
nhà máy nước tại thị xã Vị Thanh. Dự án bao gồm
1 trạm thu nước ngọt đặt tại đầu kênh Tám Ngàn
của xã Vị Bình ( huyện Vị Thủy) và hệ thống
đường ống dẫn nước với chiều dài trên 15 km từ
kênh Tám Ngàn về đến trung tâm thị xã Vị Thanh
với công suất cung cấp là 300 mét khối nước/giờ.
Tổng kinh phí cho dự án là 15 tỷ đồng, trong đó
giá trị xây lắp là 13,3 tỷ đồng do Công ty Thành
Công thi công với thời gian hòan thành là 80
ngày. Mục tiêu của dự án là cung cấp đủ nguồn
nước ngọt cho nhà máy nước tại thị xã Vị Thanh
họat động, đề phòng nước mặn rất có thể sẽ tiếp
tục xâm nhập vào thị xã Vị Thanh trong mùa khô
năm nay.
Từ đầu năm 2010
đến nay, Hà Tĩnh triển khai xây dựng 7 công
trình giao thông, thuỷ lợi với tổng mức đầu tư
hơn 500 tỷ đồng. Các nhà thầu huy động lao động,
phương tiện đẩy nhanh tiến độ thi công ngay sau
lễ khởi công, gồm: Tuyến đường Thiên Lộc- Phú
Lộc dài 18km, tổng mức đầu tư 184.811 triệu đồng;
Dự án hồ chứa nước Khe Trúc; Nâng cấp lên cao
trình chống lũ +3,00m đê sông Nghèn đoạn từ cầu
Hạ Vàng đến cống Cầu Già có chiều dài 16km; Dự
án nâng cấp tỉnh lộ 9, đoạn từ cầu Hộ Độ đến xã
Thạch Bằng dài hơn 10km; xây dựng một số hồ đập
nhỏ, cầu, cống, đường giao thông nông thôn và
xây dựng bến xe thị trấn Tây Sơn, đường nối quốc
lộ 8A vào khu tái định cư Tân Thuỷ và cơ sở hạ
tầng khu công nghiệp Đại Kim.
*Tại Vĩnh Long:
Các đơn vị thi công đang tăng cường lực lượng và
phương tiện đẩy nhanh tiến độ thi công, phấn đấu
đến cuối tháng 1/2010 hoàn thành đưa vào sử dụng
2 công trình giao thông trọng điểm là đường Phó
Cơ Điều mở rộng và Quốc lộ 53 nối dài - đường
tránh khu đô thị thành phố Vĩnh Long đảm bảo
giao thông thông suốt trong dịp Tết Nguyên đán.
Cả 2 công trình có tổng chiều dài trên 5,5 km
được thi công mở rộng nhằm giảm áp lực lưu thông
tại các nút giao thông trọng điểm ở thành phố
Vĩnh Long.
Trong quý 1 năm
nay, ngành giao thông tỉnh Vĩnh Long tập trung
nguồn vốn thi công các công trình trọng điểm
chuyển tiếp năm 2009 như; quốc lộ 1A đoạn từ
đường Nguyễn Huệ đến bờ sông Cái Cam, thi công
gói thầu số 3 quốc lộ 53 đoạn từ ngã tư Đồng Quê
(thành phố Vĩnh Long) đến thị trấn Cái Nhum (huyện
Mang Thít) và khởi công 3 cầu trên tuyến, tiếp
tục triển khai các dự án: đường Hưng Đạo Vương
nối dài, tiểu dự án 2 đường Bạch Đàn, nâng cấp
đường tỉnh 902 đoạn từ phà Đình Khao đến cầu Mỹ
An (huyện Mang Thít) – cầu Quới An (huyện Vũng
Liêm), thi công 4 gói thầu trên đường tỉnh
907.../.
Theo TTXVN
Về đầu trang
Kỷ niệm 80 năm
Ngày thành lập Đảng (3/2/1930-3/2/2010): Đảng
với sự nghiệp phát triển đất nước
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và
lãnh đạo, suốt 80 năm qua đã hoàn thành xuất sắc
các nhiệm vụ do lịch sử dân tộc đặt ra. Điều đó
đã khẳng định bài học quan trọng, sự lãnh đạo
đúng đắn và sáng suốt của Đảng luôn là nhân tố
quyết định bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng.
Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng đã xác định
những mục tiêu cụ thể của con đường phát triển
cách mạng của dân tộc, đó là đánh đuổi đế quốc,
đánh đổ phong kiến, giành độc lập dân tộc, thống
nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau 80
năm nhìn lại, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta thực
hiện gần như trọn vẹn những mục tiêu cơ bản đã
đề ra và tiếp tục đưa đất nước trên con đường
xây dựng CNXH hội nhập với thế giới hiện đại
ngày nay.
Ngày nay, trên
con đường đổi mới và phát triển đất nước, bên
cạnh những thuận lợi, thời cơ mới, Đảng ta cũng
phải vượt qua những thách thức mới. Nó đòi hỏi
Đảng ta phải có những trình độ năng lực mới, đạt
tới tầm cao mới của thời đại. Điều đó cũng có
nghĩa, đặt ra cho Đảng những yêu cầu, nhiệm vụ
mới về nhận thức, về nội dung, hình thức, phương
pháp, phương thức, phạm vi và tính chất hoạt
động. Mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc
những đặc điểm, tính chất các điều kiện khách
quan, chủ quan của Đảng để xác định đúng mục
tiêu, phương hướng, tổ chức hoạt động thực tiễn
một cách chủ động, sáng tạo. Để hoàn thành xuất
sắc sự nghiệp lãnh đạo đất nước, phát triển
trong điều kiện mới, Đảng ta có rất nhiều việc
phải làm, song cần tập trung vào những vấn đề
chính sau.
Một là, Đảng lãnh
đạo nhân dân kiên trì lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh.
Thành tựu hơn 20
năm đổi mới là to lớn có ý nghĩa lịch sử, đã
chứng tỏ đường lối của Đảng về phát triển đất
nước là đúng đắn, hợp quy luật; khả năng và
trình độ lãnh đạo của Đảng, sức sáng tạo và các
tiềm năng vô tận của nhân dân. Điều quan trọng
là đã tạo ra sự đồng thuận trên thực tế giữa
Đảng với nhân dân. Đảng đã dựa vào dân, phát huy
sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp, các giai cấp
trong xã hội, xây dựng khối liên minh công nông,
trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bằng những
thành tựu cụ thể trong hơn 20 năm đổi mới, Đảng
đã đưa đất nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế-xã hội, từng bước ổn định, đời sống nhân
dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, phát
triển như ngày hôm nay đã củng cố lòng tin của
nhân dân với Đảng. Những thành tựu ấy là từng
bước cụ thể hóa mục tiêu phát triển đất nước
theo định hướng XHCN; là tiến dần tới thực hiện
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh.
Mục tiêu cách
mạng được Đảng đặt ra là cả quá trình phấn đấu
từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện. Chúng ta không thể sốt ruột, nôn nóng đòi
hỏi một sự đầy đủ, hoàn thiện mà đốt cháy giai
đoạn. Điều quan trọng là Đảng làm cho toàn thể
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đều
nhận thức sâu sắc, đúng đắn và tin tưởng vào mục
tiêu cách mạng. Để có được sự đồng thuận ấy,
Đảng đổi mới công tác tuyên truyền giáo dục nâng
cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Đồng thời đổi mới, nâng cao năng lực nội lực,
hiệu quả quản lý, chỉ đạo hoạt động thực tiễn
nhằm chăm lo phát triển kinh tế-xã hội không
ngừng cải thiện đời sống nhân dân. Giải quyết
tốt các vấn đề về công bằng xã hội, đời sống
việc làm, đẩy lùi các tiêu cực, tham nhũng và tệ
nạn xã hội. Cán bộ, đảng viên thật sự gương mẫu,
trong sáng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân
như Bác Hồ dạy… Có được những điều ấy là sức cổ
vũ, là căn cứ thực tế để nhân dân tin vào những
bản chất tốt đẹp, tính hiện thực của mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh, tin vào định hướng XHCN, tin vào mục
tiêu hiện thực nhằm chăm lo cuộc sống đích thực
của mỗi người dân trong xã hội.
Hai là, kiên định
chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ
vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.
Sở dĩ Đảng ta,
nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại
suốt 80 năm qua là nhờ Đảng ta biết vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh vào từng giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể của
đất nước. Để nó thật sự là kim chỉ nam cho hành
động và là nền tảng tư tưởng của Đảng, của nhân
dân thì việc nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng phải
rất sáng tạo, không giáo điều. Đổi mới công tác
giáo dục lý luận Mác-Lê Nin, học tập tư tưởng Hồ
Chí Minh nhằm đi vào những nguyên lý bản chất
nhất, khoa học nhất, sâu sắc nhất. Tránh mọi
cách làm hình thức, phô trương, bề ngoài, không
thiết thực, không đi vào chiều sâu vừa tốn kém
thời gian, tiền của, vừa làm giảm lòng tin và
khả năng vận dụng mặt khoa học vốn rất cần cho
mỗi cán bộ đảng viên trong quá trình nhận thức
thực tiễn và hoạt động cải tạo thực tiễn hiện
nay.
Bài học về sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định
bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam,
trong điều kiện hiện nay, càng cần thiết hơn bao
giờ hết. Đặc biệt sau khi các nước XHCN Đông Âu
và Liên Xô sụp đổ, tác động đến nhiều Đảng cộng
sản, đòi đa nguyên, đa đảng, trong đó có nước ta.
Hơn nữa, các thế lực chống đối ngày nay không từ
bỏ mọi âm mưu chống phá Đảng ta, nhằm vô hiệu
hóa, xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Trong khi đó, thực tiễn hơn 20 năm đổi
mới phát triển đất nước đã chứng minh không thể
thiếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, để
kiên trì giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, thì Đảng
phải không ngừng tự đổi mới, nâng cao trình độ
lý luận chính trị của mình lên một tầm cao mới.
Đồng thời, đổi mới năng lực lãnh đạo, tăng cường
sức chiến đấu của Đảng trên mọi lĩnh vực ở mọi
cấp, mọi ngành. Hơn 3,3 triệu đảng viên phải
thật sự như những thành viên kiên trung tài năng
xuất sắc của một “tổ lái” đầy bản lĩnh, rất
thông tuệ để “lái con tàu” đưa cả một dân tộc
hơn 80 triệu dân hội nhập với thế giới hiện đại
đi tới đích an toàn trong điều kiện đầy biến
động, khó lường.
Ba là, tiếp tục
thực hiện tốt phương châm, nhiệm vụ phát triển
kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt,
phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã
hội.
Trong xã hội hiện
đại, sự phát triển đồng thời ba yếu tố kinh tế,
chính trị, văn hóa càng thể hiện tính thống nhất
biện chứng cao so với các thời kỳ trước đó. Ở
một xã hội phát triển thấp hoặc một nước kém
phát triển, từng yếu tố này có thể không đồng
thời, thiếu đồng bộ nhưng trong thời đại ngày
nay, khi chúng ta hội nhập với thế giới hiện đại,
ba yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa như ba
“chân kiềng” tạo nên một thế đứng vững chắc để
phát triển. Đảng ta nhận thức rất sâu sắc quy
luật giàu mới mạnh, nghèo thì hèn. Cho nên, công
tác lãnh đạo kinh tế trong cơ chế kinh tế thị
trường nhiều thành phần, mở cửa, hội nhập với
thế giới là thời cơ để làm giàu, nhưng cùng với
nó là những thách thức vô cùng nghiệt ngã.
Sự phát triển của
đất nước buộc chúng ta phải chấp nhận thực tế
này và nhanh chóng tự vươn lên để có trình độ
hóa giải các mâu thuẫn của cuộc sống đặt ra.
Cùng với kinh tế, văn hóa là bản sắc, là truyền
thống, là sức mạnh tinh thần của dân tộc. Văn
hóa là chiều sâu, là tầm cao trí tuệ của dân tộc.
Cho nên cùng với nền tảng kinh tế, cơ sở vật
chất thì nền tảng tinh thần có giá trị lâu bền,
vững chắc tạo nên cốt cách, bản lĩnh của dân tộc.
Đảng ta là Đảng cầm quyền, Đảng khoa học và cách
mạng, Đảng đạo đức văn minh hàm chứa những tố
chất về sức mạnh vật chất và tinh thần của một
Đảng cách mạng đối với sự phát triển của đất
nước. Đảng có vị trí vai trò then chốt tạo lập,
giữ vững, thúc đẩy kinh tế và văn hóa phát triển.
Song vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng
hiện nay cần được thể chế hóa trong cơ chế vận
hành lãnh đạo và quản lý xã hội của cả hệ thống
chính trị ở mọi cấp trong cả nước. Đồng thời,
được cán bộ, nhân dân nhận thức đầy đủ, đúng đắn,
sâu sắc về các vấn đề đó để phát huy vai trò tự
giác, chủ động, sáng tạo trong vận dụng vào cuộc
sống.
Bốn là, đổi mới
phương thức hoạt động, phát huy dân chủ, nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Mỗi thời kỳ cách
mạng, Đảng đều có phương thức lãnh đạo và hoạt
động thích hợp. Trong điều kiện hiện nay, để giữ
vững vị trí, vai trò của Đảng cầm quyền, trong
công tác lãnh đạo và các hoạt động của mình,
Đảng không ngừng tự đổi mới. Đổi mới trước hết
là thực hiện dân chủ trong Đảng, công khai, minh
bạch, giữ nghiêm các nguyên tắc của Đảng. Có dân
chủ, công khai, minh bạch trong Đảng mới dân chủ,
công khai, minh bạch trong xã hội. Đồng thời,
dân chủ, công khai, minh bạch là cơ sở để phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện dân
chủ công bằng trong xã hội. Sức mạnh của Đảng là
sức mạnh của nhân dân, cho nên bài học dựa vào
dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân là vô cùng thiết thực
hiện nay trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành
phần gắn với thị trường. Đồng thời cũng đặt ra
những tình huống mới, những yêu cầu mới về
phương thức lãnh đạo của Đảng.
Cùng với việc đổi
mới công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức là
đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động
thực tiễn làm cho công tác tư tưởng, chính trị,
tổ chức trở nên sống động, có hiệu quả và đi vào
cuộc sống. Mấu chốt của vấn đề này là đổi mới
công tác cán bộ của Đảng. Bác Hồ chỉ rõ cán bộ
là gốc của mọi công việc. Công tác cán bộ của
Đảng viên hiện nay cần phải thực đức, thực tài
như Bác Hồ xác định. Điều cốt lõi để có đội ngũ
cán bộ tốt như Bác Hồ nêu, đáp ứng yêu cầu hiện
nay, công tác cán bộ của Đảng cần được đổi mới
thực sự. Khắc phục mọi biểu hiện của một số cán
bộ suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
lối sống, cơ hội, chạy chọt, kéo bè kéo cánh, tư
duy nhiệm kỳ hòng thu vén cho lợi ích cá nhân,
thiếu trách nhiệm với dân, nói không đi đôi với
làm… Những điều đó không chỉ làm suy yếu Đảng mà
còn làm mất niềm tin của nhân dân. Đảng ta nhận
thức và đặt vấn đề cần khắc phục những yếu kém,
các “ung nhọt” này từ lâu và nhiều lần, song kết
quả rất chậm, còn nhiều hạn chế và thậm chí có
nơi, có lúc lại trầm trọng thêm tạo nên những
bức xúc trong xã hội. Để giữ vững Đảng ta thật
sự trong sạch, vững mạnh, Đảng là đạo đức là văn
minh Đảng không thể không tẩy trừ những tiêu cực
và tệ nạn, bệnh cơ hội trong Đảng nêu trên.
Làm được điều đó,
một mặt Đảng tự đổi mới nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, đảng viên, mặt khác, Đảng có cơ chế
phát huy quyền làm chủ của nhân dân để nhân dân
tham gia giám sát một cách thực chất. Đảng có
chế tài xử phạt nghiêm bất cứ cán bộ, đảng viên
nào vi phạm; bất cứ ai bao che, dung túng người
vi phạm; bảo vệ và khích lệ những người dám tố
cáo đúng người vi phạm. Làm được như vậy Đảng
mới thực hiện công khai, minh bạch, giữ nghiêm
kỷ luật; Đảng mới thực sự trong sạch, vững mạnh,
Đảng là đạo đức là văn minh, không có cán bộ,
đảng viên phải hổ thẹn với nhân dân
(Theo Chinhphu.vn)
Về đầu trang
|